Ngôn ngữ học

Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt
     

GS HOÀNG VĂN HÀNH

1. Trong cách hiểu phổ biến lâu nay, thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ.

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy thuật ngữ trong tiếng Việt, cũng như trong các ngôn ngữ đã phát triển khác hình thành nhờ ba con đường cơ bản là: 1) thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường; 2) cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức mô phỏng và 3) mượn nguyên những thuật ngữ nước ngoài (thường là những thuật ngữ có tính quốc tế)[1]. Hệ quả của những quá trình, hay những phương thức này là hình thành ba lớp thuật ngữ với những đặc trưng khác nhau về hình thái và ngữ nghĩa trong vốn thuật ngữ tiếng Việt. Đó là: 1) lớp thuật ngữ thuần Việt; 2) lớp thuật ngữ mô phỏng và 3) lớp thuật ngữ quốc tế.

Để có thể giải quyết đúng đắn những vấn đề đang được đặt ra trong sự thống nhất và chuẩn hoá thuật ngữ hiện nay, thiết tưởng rằng việc đi vào chi tiết trong sự nhận thức bản chất các con đường hình thành và đặc trưng của các lớp thuật ngữ vừa nêu là điều cần thiết và bổ ích.

2. Con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường thực chất là con đường dùng phép chuyển di ngữ nghĩa của từ để tạo thuật ngữ. Sự chuyển di ngữ nghĩa này tuy khá tinh tế và phức tạp, nhưng vẫn có thể quy về hai dạng: hình thái chuyển di không dẫn đến chuyển nghĩa và hình thái chuyển di dẫn đến chuyển nghĩa.

Hình thái thứ nhất có thể gặp ở số khá lớn các từ, thường là những từ thuộc vốn cơ bản, như người, cây, cỏ, vàng, đá, vuông, tròn, v.v... Ở những từ này, trong ý thức của người bản ngữ, ranh giới giữa nghĩa thường dùng và nghĩa thuật ngữ không phải bao giờ cũng rõ nét. Dường như nghĩa thường dùng (nghĩa gốc) và nghĩa thuật ngữ (cũng là nghĩa gốc) về căn bản là đồng nhất, hay trùng nhau. Vì thế, các nhà từ điển học thường đứng trước một vấn đề nan giải là: nên giải thích nghĩa những từ này theo lối “ngữ văn” hay theo lối “bách khoa”? (L. V. Sherba, 1958, tr. 68; Bùi Khắc Việt, 1970, tr. 19).

“Đường thẳng” trong toán học là “đường (hay khoảng cách) ngắn nhất giữa hai điểm”; nhưng trong cách hiểu thông thường thì đó là “đường không lệch về bên trái, hay bên phải”. Thí dụ này cho thấy giữa cách hiểu nghĩa có tính ngữ văn và cách hiểu nghĩa có tính bách khoa có một độ chênh nhất định. Độ chênh ấy có thể lớn hay nhỏ tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của khoa học, trình độ hiểu biết của con người về thế giới xung quanh. Thật vậy, chúng ta chỉ có thể biết được củ trong củ lạc là quả, mà củ trong củ chuối là thân, khi có ánh sáng của sinh vật học. Ở những từ ngữ đang xét, nghĩa thuật ngữ là một khái niệm xác định về sự vật. Mà khái niệm này là xác định, vì nó bao gồm, hay đúng hơn là phản ánh những thuộc tính bản chất nhất, cần và đủ để phân biệt sự vật này với sự vật khác. Trong khi đó thì nghĩa ngữ văn, hay nghĩa thường dùng, tuy cũng biểu thị khái niệm, nhưng những thuộc tính của sự vật được phản ánh không phải bao giờ cũng là thuộc tính cơ bản cả. Bằng cớ là đối với người bình thường, “mắt đỏ” là thuộc tính rất đặc trưng của cá chầy, cho nên mới có lối so sánh “đỏ như mắt cá chầy”! Nhưng trong khái niệm khoa học về cá chầy, thì thuộc tính ấy chẳng có giá trị gì là đáng kể, vì nó không phải là thuộc tính bản chất!

Do nhận thức khác nhau về giá trị của các thuộc tính của sự vật mà sự lựa chọn các tiêu chí để phân loại sự vật cũng khác nhau. Trong cách hiểu thông thường, cá voi được liệt vào loài cá, nhưng trong cách hiểu khoa học, cá voi không phải là cá, mà là động vật có vú. Cho nên, có thể nói, nghĩa thuật ngữ là nghĩa có tính chất xác định trong một hệ thống xác định. Khi vượt ra ngoài hệ thống, hoặc khi chuyển hệ thống, thuật ngữ tất phải lập lại một tính xác định mới về nghĩa. Than là một từ như vậy khi hiểu với nghĩa thường dùng trong tro và than trong bếp, và với nghĩa thuật ngữ trong mỏ than (ngành mỏ), vẽ than, (hội hoạ) và sốt than (ngành y), v.v...

Trong việc xác định nội dung khái niệm do thuật ngữ biểu thị, có thể thấy sự khác nhau không chỉ giữa các trường phái, mà thậm chí giữa cả các nhà khoa học trong cùng trường phái với nhau. Điều đó là tự nhiên, là lẽ thường trong đời sống khoa học. Và nhiều khi sự khác nhau ấy lại là chất men kích thích những cuộc tranh luận sôi nổi để làm sáng rõ chân lí, thúc đẩy khoa học bước tiến lên.

Tóm lại, hình thái chuyển di ngữ nghĩa vừa xét thực chất là sự chuyển di phạm vi ứng dụng của một nghĩa, thường là nghĩa gốc, nghĩa căn bản của từ từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, với những cách nhìn từ những góc độ khác nhau. Do đó, ở hình thái chuyển di ngữ nghĩa này, tính quy tắc của quá trình thuật ngữ hoá thường rất mờ nhạt. Và nghĩa thường dùng là nghĩa thuật ngữ chưa có sự chia tách rành mạch.

Tính quy tắc chỉ thể hiện rõ ở hình thái thứ hai của sự chuyển di ngữ nghĩa để thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường, khi sự chuyển di ấy làm nảy sinh nghĩa phái sinh của từ. Thí dụ: no vốn có nghĩa là “ở trạng thái ăn đã đủ thoả mãn cái “đói”, ss. ăn no, no bụng đói con mắt,... Từ nghĩa gốc, nghĩa căn bản này, no được dùng với nghĩa chuyển để nói về các chất hoá học “ở trạng thái đã kết hợp đủ, không còn hoá trị tự do để kết hợp thêm nguyên tố khác”, ss. carbur no. Trong trường hợp này, nghĩa thuật ngữ là một mắt khâu của quá trình phát triển nghĩa từ. Nếu hiểu cấu trúc nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa của từ ấy nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau lập thành một hệ thống, thì nghĩa thuật ngữ là một bộ phận, một thành tố của hệ thống ấy.

Cơ sở để chuyển di từ nghĩa thường dùng, nghĩa gốc sang nghĩa thuật ngữ, nghĩa phái sinh trong các trường hợp đang xét là mối quan hệ tương đồng, hay mối quan hệ tương cận về những thuộc tính của sự vật, quá trình,... được phản ánh trong khái niệm do từ ngữ biểu thị.

Nếu sự chuyển di ngữ nghĩa ấy dựa vào quan hệ tương đồng thì chúng ta sẽ có nghĩa thuật ngữ hình thành theo phép ẩn dụ hoá. Nghĩa của lòng trong lòng thuyền, của mũi trong mũi khoan, mũi tàu, mũi tấn công, của cánh trong cánh tả, cánh hữu, cánh quân, v.v. là như vậy.

Nếu sự chuyển di ngữ nghĩa dựa vào quan hệ tương cận, thì chúng ta sẽ có nghĩa thuật ngữ hình thành theo phép hoán dụ hoá. Đó là nghĩa của tay trong tay súng (ss.cả đơn vị có mười tay súng), của đầu người trong bình quân thu nhập tính theo đầu người, v.v.

Ẩn dụ hoá và hoán dụ hoá là hai hình thái chuyển di ngữ nghĩa có tính quy tắc rõ rệt. Đó là những hình thái rất cơ bản trong sự phát triển nghĩa của từ, bao gồm cả nghĩa thuật ngữ. Quá trình chuyển di ngữ nghĩa dưới hai hình thái này thường diễn ra một cách đều đặn. Khi sự chuyển di ngữ nghĩa đã xảy ra ở một từ trong nhóm hay trường từ vựng nào đó, thì thường kéo theo sự chuyển di ngữ nghĩa ở nhiều từ khác trong cùng trường từ vựng ấy theo một hướng nhất định. Thật vậy, trắngđen đã kéo theo nhau theo cùng một hướng khi chuyển di sang nghĩa thuật ngữ trong sách trắng sách đen. Cũng như vậy, khi đỏ, xanh vàng được dùng với nghĩa thuật ngữ trong nhạc vàng, nhạc xanh nhạc đỏ, hay trong công hội đỏ, công đoàn vàng, v.v.

Cần nhận xét thêm rằng nói chung về hình thái của các thuật ngữ thuần Việt không có gì đặc biệt, nếu so với hình thái của các từ ngữ thông thường. Dấu hiệu duy nhất quan trọng, giúp nhiều cho sự nhận diện các từ ngữ có tư cách thuật ngữ là đặc điểm của chu cảnh xuất hiện của nó, tức là đặc điểm về khả năng tổ hợp của nó với những từ ngữ nhất định. Dĩ nhiên, đặc điểm này cũng chỉ có thể bộc lộ ra khi chúng ta đối lập chu cảnh của từ được dùng với nghĩa thuật ngữ với chu cảnh của từ được dùng với nghĩa thông thường; chẳng hạn như: chảy trong men chảy trong sự so sánh với nước chảy, dòng sông chảy xiết; đứng trong men đứng trong sự so sánh với người đứng, người ngồi, dựng đứng,...Thiết nghĩ, mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp trong những trường hợp đang xét là rất đáng chú ý.

3. Cấu tạo thuật ngữ theo phương thức mô phỏng thực chất là sử dụng những yếu tố và mô hình cấu tạo từ tiếng Việt để dịch nghĩa những thuật ngữ tương ứng trong tiếng nước ngoài. Thí dụ: cánh cứng trong sâu bọ cánh cứng là sự mô phỏng của coléoptère; trong đó cánh tương ứng với - ptère, còn cứng tương ứng với coléo -. Cũng vậy, thể khí là sự mô phỏng của corps gazeux hay gaseous body gazoobraznoje telo; trong đó thể tương ứng với corps, body telo; còn khí tương ứng với gazeux, gaseousgazoobraznoje. Đặc điểm chung của những thuật ngữ đang xét là có tính dân tộc (hay tính bản ngữ; x. Nguyễn Như Ý, 1972) về hình thái và có tính quốc tế về ngữ nghĩa. Bởi vì, nếu chỉ xét về hình thái, thì có thể coi những thuật ngữ này là thuật ngữ tân tạo trong tiếng Việt, là thuật ngữ Việt. Nhưng nếu xét về ngữ nghĩa, tức là mặt khái niệm do các thuật ngữ này biểu thị, thì có thể coi chúng là thuật ngữ quốc tế. Do thói quen trong cách diễn đạt của ngôn ngữ học, chúng ta gọi những thuật ngữ được tạo ra theo phương thức như thế là thuật ngữ mô phỏng. Đó là hệ quả của một sự dung hợp, sự thống nhất tính dân tộc và tính quốc tế của thuật ngữ. Khái niệm khoa học do các thuật ngữ này biểu thị là thành tựu chung của trí tuệ loài người. Nói “dịch nghĩa” hay “mượn nghĩa” là nói theo thói quen với cách hiểu ít nhiều có tính chất ước định mà thôi. Đã là thành tựu chung, thì tất sẽ chẳng còn là của riêng ai. Và do đó, ai cũng có trách nhiệm giữ gìn, bồi bổ cho nó, làm cho nó ngày một thêm phong phú. Đồng thời ai cũng có quyền khai thác, sử dụng và kế thừa, hay “thừa hưởng” nó một cách chính đáng.

Tất nhiên, khi biểu thị những khái niệm khoa học chung này, mỗi dân tộc đều làm theo cách riêng của mình. Cách riêng ấy thể hiện ở việc sử dụng những yếu tố và phương thức cấu tạo từ vốn có trong mỗi ngôn ngữ. Vì thế, muốn nhận diện đặc trưng của các thuật ngữ mô phỏng, phải đi vào chi tiết trong sự phân tích đặc trưng của các yếu tố và mô hình cấu tạo nên những thuật ngữ ấy.

Trong tiếng Việt, các yếu tố tham gia cấu tạo những thuật ngữ đang xét đều là những yếu tố có nghĩa, tức là những yếu tố có tư cách làm hình vị, như tính, thể, nửa (bán), hoá, v.v...

Về nguồn gốc, các yếu tố này có thể là thuần Việt như hai, cặp, đôi, kép,... có thể là gốc Hán, như nhị, lưỡng, song,... Vai trò của những yếu tố gốc Hán trong sự cấu tạo từ ở tiếng Việt cũng như ở tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên,... gợi cho ta nghĩ đến vai trò tương tự của các yếu tố gốc Latin trong các ngôn ngữ Ấn - Âu, kiểu như dy (nhị) trong dyadic system (Anh), hay système dyadique (Pháp: hệ nhị phân); iso (đẳng, đồng) trong isothermal system (Anh) hay système isotherme (Pháp: hệ đẳng nhiệt).

Về mặt hình thái, có thể thấy các yếu tố đang xét có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

a) Có khả năng hoạt động với tư cách những đơn vị độc lập/không độc lập ở mức độ khác nhau. Có những đơn vị có khả năng hoạt động độc lập và rõ ràng là có tư cách như những từ đơn âm tiết, thí dụ máy, sự, sức,... Một số đơn vị khác không có khả năng hoạt động độc lập, mà chỉ có thể kết hợp hạn chế với tư cách như những phụ tố, kiểu như: hoá trong công nghiệp hoá, kế trong nhiệt kế, đẳng trong đẳng thức, v.v... Số đơn vị thứ ba là những đơn vị trung gian giữa hai loại vừa nêu, tức là những đơn vị mà ở trong hoàn cảnh này thì được dùng độc lập, nhưng ở trong hoàn cảnh khác lại được dùng hạn chế; ss. học trong có họchọc trong hoá học, học thuyết, v.v... Do đặc điểm này mà trong Việt ngữ học, cũng như trong ngôn ngữ học Đông phương, có sự bàn luận khá sôi nổi về khái niệm “từ - hình vị”, khái niệm “bán phụ tố” (V. M. Solncev, 1960) và về hiện tượng gọi là “đồng âm khác bậc” (Nguyễn Văn Thạc, 1980).

b) Có sự phân bố về vị trí và có vai trò khác nhau trong cấu trúc của thuật ngữ.

Trước hết, cần phân biệt những yếu tố có thể giữ vai trò trung tâm với những yếu tố giữ vai trò ngoại biên trong cấu trúc của thuật ngữ. Những yếu tố trung tâm chính là những yếu tố có khả năng hoạt động độc lập, thí dụ: lực trong lực đẩy, lực kéo, lực trong, lực ngoài; sức trong sức kéo, sức ngựa. Những yếu tố ngoại biên thì cũng chính là những yếu tố hoạt động không độc lập, trong đó:

- Có những yếu tố chuyên đứng trước, như tự trong tự động, tự phát, tự giác, tự phê bình;

- Có những yếu tố chuyên đứng sau, như vị trong âm vị, từ vị, hình vị, nghĩa vị; tử trong nguyên tử, toán tử, v.v.

- Có những yếu tố voó có thể đứng trước, voó có thể đứng sau tuỳ từng trường hợp, thí dụ: tính đảng, tính nhân dân, tính giai cấp, v.v.

Ở một số trường hợp, vị trí của những đơn vị đang xét không chỉ có tác dụng quy định tư cách của chúng là yếu tố trung tâm hay ngoại biên, mà còn có tác dụng xác định bản chất từ loại của thuật ngữ, ss. chủ nghĩa xã hội (danh ngữ) và xã hội chủ nghĩa (tính ngữ); chủ nghĩa tự do tự do chủ nghĩa, v.v.

c) Sức sản sinh của các yếu tố đang xét không đều nhau, và có một số đáng kể các yếu tố có sức sản sinh khá lớn. Nhờ vậy mà chúng ta có thể tạo ra được hàng loạt thuật ngữ theo những mô hình nhất định, làm cho thuật ngữ tiếng Việt có tính hệ thống khá chặt chẽ. Có thể quy các thuật ngữ mô phỏng trong tiếng Việt về hai mô hình cơ bản là: xy và yx trong đó x là yếu tố tương ứng với căn tố, còn y là yếu tố tương ứng với phụ tố trong thuật ngữ tiếng nước ngoài. Thí dụ:

đồng bộ               > tính đồng bộ (synchronism, synchronisme),

(synchronic,        (yx)

synchrone)          đồng bộ hoá (synchronize, synchroniser)

                             (xy)

     > sự đồng bộ hoá (synchronization, synchronisation)

                             (yxy)

Tham gia cấu tạo các thuật ngữ theo mô hình xy có thể kể đến những yếu tố như: x hoá, x học, x luận, x biểu, x kế, x vị, x tử, x tố v.v... Còn những yếu tố tham gia cấu tạo thuật ngữ theo mô hình yx là: tính x, tự x, siêu x, máy x, độ x, sự x, song x, lưỡng x, nhị x, đồng x, đẳng x, vô x, phi x, bán / nửa x, v.v.

Cần nhận xét rằng sự hoạt động của hai mô hình trên đây có thể tương tác, xen lồng với nhau, tạo ra những khả năng dồi dào trong việc cấu tạo thuật ngữ, theo kiểu: tự động > tự động hoá (xy) > nửa tự động hoá (yxy); Việt Nam > Việt Nam hoá (xy) > phi Việt Nam hoá (xyx); vô sản > vô sản hoá (xy) > phi vô sản hoá (yxy), v.v... Các thuật ngữ được cấu tạo theo mô hình yxy là những thuật ngữ phái sinh bậc hai.

Mặt khác, trong tiếng Việt hiện nay, thấy có xu hướng coi tính đảng (tính x), chứ không phải đảng tính (x tính) là chuẩn. Cũng vậy, trưởng phòng chứ không phải phòng trưởng, phó trưởng phòng chứ không phải phó phòng; nhưng lại viện trưởngphó viện trưởng chứ không phải trưởng viện và phó viện hayviện phó là chuẩn. Đó là những xu hướng rất đáng chú ý khi chọn dùng những mô hình cần thiết để cấu tạo thuật ngữ mới.

Về mặt ngữ nghĩa, các đơn vị đang xét có những đặc trưng sau đây:

a) Trước hết, cần nhận xét rằng nghĩa của số lớn những đơn vị đang xét là nghĩa từ vựng - ngữ pháp, vì nó biểu thị các khái niệm thuộc những phạm trù rất khái quát, thí dụ: sự, tính, vị, tố, hoá; v.v... Do đặc trưng này mà các đơn vị đang xét có giá trị chuyên biệt trong sự phạm trù hoá thuật ngữ.

Thật vậy, có những yếu tố chuyên động ngữ hoá thuật ngữ, nhưhoá trong ô xi hoá, nhiệt đới hoá, xanh hoá, mũ hoá.

Có những yếu tố chuyên tính ngữ hoá thuật ngữ, như: đồng trong đồng dạng, đồng âm, đồng nghĩa, đồng hình; phi trong phi nghĩa, phi vô sản, phi quân sự, phi giai cấp,...

Có những yếu tố chuyên danh ngữ hoá thuật ngữ, như sự trong sự tự tiếp xúc, sự hệ thống hoá, sự tồn nghi; phép trong phép tổng hợp, phép cộng, phép biện chứng, v.v.

b) Do các yếu tố đang xét biểu thị những khái niệm khái quát, có tính chất phạm trù, đồng thời lại có nguồn gốc khác nhau nên giữa chúng thường diễn ra sự “xung đột đồng nghĩa”. Sự xung đột đồng nghĩa này là hệ quả tất yếu của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, khi có các yếu tố thuộc ngôn ngữ này xâm nhập vào ngôn ngữ khác (gọi là hiện tượng giao thoa: interférence), mà trong ngôn ngữ ấy thường vốn đã có yếu tố tương đương. Thí dụ: yếu tố gốc Hán đại xâm nhập vào tiếng Việt, khi trong tiếng Việt đã có to, lớn. Và giữa đại với to, lớn tất yếu sẽ có sự xung đột đồng nghĩa. Kết quả của sự xung đột ngữ nghĩa này là:

- Yếu tố ngoại lai có thể thay thế yếu tố thuần Việt, như đầu thay cho trốc, hoặc ngược lại.

- Yếu tố ngoại lai và yếu tố thuần Việt có thể song song tồn tại và có sự phân bố về nghĩa và phạm vi sử dụng; thí dụ: hàn sovới lạnh, hoả so với lửa, có sự phân bố rõ rệt về phạm vi dùng: một bên là thuật ngữ của ngành y, một bên là từ thường dùng trong đời sống hàng ngày.

Khi cấu tạo các thuật ngữ mô phỏng thì việc tuyển chọn yếu tố thuần Việt hay yếu tố gốc Hán nào trong các nhóm đồng nghĩa trở thành một vấn đề quan trọng. Trong việc này, các nhà thuật ngữ học thường phải cùng một lúc vận dụng làm sao cho nhuần nhuyễn những nguyên tắc khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn nhau, để tạo nên những thuật ngữ vừa chính xác vừa có hệ thống, mà lại ngắn gọn. Muốn có hệ thống, thì tương ứng với một yếu tố trong thuật ngữ nước ngoài, cần cố gắng chọn dùng nhất quán một yếu tố trong tiếng Việt để tạo hàng loạt thuật ngữ tương ứng: thí dụ: chống tương ứng với anti - trong chống ẩm, chống xoay, chống nhiễu, chống cảm ứng, chống nhiễm khuẩn, chống tăng, v.v... “Nhưng đồng thời cũng nên cân nhắc kĩ trong những trường hợp có thể ảnh hưởng đến tính chính xác của thuật ngữ được tạo ra” (Quyết nghị, 1983). Vì thế, mà kháng trong kháng sinh, phản trong phản khoa học, phòng trong phòng không, giải trong giải độc cũng được dùng tương ứng với anti - Những căn cứ cần được dựa vào để cân nhắc, lựa chọn trong những trường hợp đang xét là: 1) khả năng biểu thị các khái niệm của các yếu tố Việt hay gốc Hán được phân bố trong những phạm vi nào (bởi vì sự phân bố này thể hiện những nét khác nhau tinh tế về nghĩa giữa các yếu tố, mà sự khác nhau ấy tất yếu sẽ dẫn đến sự khác nhau về nghĩa giữa các thuật ngữ do chúng tạo nên). Hãy so sánh: phòng không, khác với đối không, giải độc khác với phòng độc, v.v... Nếu sự cân nhắc này không kĩ lưỡng thì không thể bảo đảm được tính chính xác của thuật ngữ, và nhiều khi còn phương hại đến cả tính hệ thống của nó. Thí dụ: nếu dùng vật thay cho thể trong thể rắn, trong khi vẫn dùng thể khí, thể lỏng, thì rõ ràng thuật ngữ vật rắn không bảo đảm được cả yêu cầu về tính chính xác cũng như yêu cầu về tính hệ thống. 2) Khả năng kết hợp của các yếu tố đang xét với các yếu tố khác thành những đơn vị vừa có kết cấu chặt chẽ, vừa tiện dùng trong văn bản. Thí dụ: nhiệt kế, nhớt kế, ẩm kế có kết cấu chặt hơn máy đo nhiệt, máy đo nhớt, máy đo ẩm.

4. Quả thực, cũng có thể nói con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường và con đường cấu tạo thuật ngữ bằng phương thức dịch nghĩa, hay mô phỏng là hai con đường xây dựng vốn thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt. Khi nào không hoặc chưa tìm được khả năng thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường và cấu tạo thuật ngữ mô phỏng, thì các nhà khoa học tìm đến con đường thứ ba: con đường tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài.

Trong một thời gian dài, do những điều kiện lịch sử của sự giao lưu văn hoá quy định, nên việc tiếp nhận thuật ngữ vào tiếng Việt thường thông qua tiếng Hán. Điều đó hầu như là tự nhiên, và cũng có những thuận tiện nhất định, vì tiếng Việt và tiếng Hán là những ngôn ngữ thuộc cùng một loại hình, lại có quan hệ tiếp xúc từ lâu đời. Và trong thực tế có nhiều thuật ngữ gốc Hán, được đọc theo âm Hán - Việt, đặc biệt là thuật ngữ chính trị và triết học, đã đi vào vốn từ của tiếng Việt với tư cách như những yếu tố ổn định và được đồng hoá ở những mức độ khác nhau. Thí dụ: lượng, chất, dân tộc, dân chủ, độc lập, tự do, v.v.. Cách mượn thuật ngữ nước ngoài qua một khâu trung gian như thế có lúc ồ ạt có khi thưa thớt, và hầu như là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt tiến trình lịch sử của tiếng Việt. Cho đến ngày nay, quá trình ấy vẫn còn tiếp diễn.

Song, trong mấy thập kỉ gần đây, khi mà tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ phát triển, đã phát huy đầy đủ các chức năng xã hội của mình và được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội; khi mà sự giao lưu văn hoá không còn đóng khung trong một khu vực, mà đã mở rộng trong phạm vi quốc tế, thì thấy nổi lên hai xu hướng mới rất đáng chú ý trong sự tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài. Đó là:

a) xu hướng dùng những thuật ngữ được cấu tạo bằng các yếu tố Việt thay cho những thuật ngữ gốc Hán trong hàng loạt trường hợp, khi điều kiện cho phép. Thí dụ: máy bay, sân bay, tàu sân bay, tên lửa, vùng trời, vùng biển, v.v.. thay cho phi cơ, phi trường, hàng không mẫu hạm, hoả viễn, không phận, hải phận, v.v...

b) xu hướng tiếp nhận trực tiếp nhiều thuật ngữ từ các ngôn ngữ Ấn- Âu, không qua khâu trung gian là tiếng Hán, kể cả một số trường hợp đã có thuật ngữ gốc Hán tương ứng. Thí dụ: acid (ss. vớicường toan), vitamin (ss. với sinh tố).

Cần nhận xét rằng khuynh hướng tiếp nhận thẳng các thuật ngữ có nguồn gốc Ấn- Âu đặc biệt mạnh trong thời gian gần đây, nhất là trong các ngành khoa học tự nhiên, như hoá học, địa chất học và dược học. Hãy lấy một số thí dụ: tantal (tantalum, tantale), tantalat (tantalate), tartrat (tartrate), thali (thalium), thein (theine, théine)...

Đặc trưng của lớp thuật ngữ đang xét là có tính quốc tế cao, cả về mặt ngữ nghĩa cũng như mặt hình thái. Vì thế có thể gọi lớp thuật ngữ này là lớp thuật ngữ quốc tế.

Khi cấu tạo thuật ngữ phái sinh, các thuật ngữ gốc Ấn- Âu này thường có tư cách như những hình vị được dùng làm căn tố. Chúng có khả năng kết hợp với các yếu tố thuần Việt và gốc Hán để tạo nên những thuật ngữ ghép, kiểu như: thuyết ion, sự oxi hoá,...

Như vậy, xét về nguồn gốc, có thể thấy trong thực tế các yếu tố tham gia cấu tạo thuật ngữ trong tiếng Việt gồm có không phải chỉ hai, mà là ba loại: yếu tố thuần Việt, yếu tố gốc Hán và yếu tố gốc Ấn- Âu. Nếu dùng kí hiệu V để chỉ yếu tố thuần Việt, kí hiệu H để chỉ yếu tố gốc Hán và kí hiệu A để chỉ yếu tố gốc Ấn- Âu, thì về lí thuyết, các thuật ngữ ghép sẽ có những hình thái như sau:

V - V             H - H                 A - A                 V - H - A

V - H             H - V                 A - V                 H - V - A

V - A             H - A                 A - H                 H - A - V

                                                                        A - H - V

                                                                        A - V - H

                                                                        V - A - H

Từ những hình thái này, có thể quy thuật ngữ ghép thành hai loại:

1) Thuật ngữ ghép thuần, trong đó có thuật ngữ ghép thuần Việt (V - V) như máy kéo, máy khâu, tủ lạnh,...; thuật ngữ ghép thuần gốc Hán (H - H), như: nguyên tử, điện tử, tác tố, lưỡng phân; thuật ngữ ghép thuần Ấn- Âu (A - A), như titan hidrur (titanium hydride, hydrure de titane), titanil sulfat (titanyl sulphate, sulfate de titanyle), titan carbur (titanium carbide, carbure de titane);

2)Thuật ngữ ghép lai, trong đó có:

V - H, thí dụ: lớp từ, vốn từ,...

V - A, thí dụ: đường sin (sinusoid, sinusoide, sinusoida)

H - V,  thí dụ: hệ đóng (closed system, système fermé, zamknutaja sistema); độ chảy (flowability (met, plast) fluidité, tekuchest).

H - A, thí dụ: thuyết electron (electronic theory, théorie électronique elektronnaja teorija), nhiệt dung mol (molar heat capacisy, chaleur molaire, moljarnaja teplojomekost).

A - H, thí dụ: thori phóng xạ (radiothorium, radiothorium, radiotorij).

H - A - H, thí dụ: sự telomer hoá, sự polimer hoá nhiệt, v.v.

5. Từ những phác hoạ trên đây có thể thấy:

Vốn thuật ngữ của tiếng Việt, cũng như của bất cứ ngôn ngữ nào khác, bao giờ cũng bao gồm một bộ phận thuộc bản ngữ và một bộ phận ngoại lai. Và trong tiến trình hình thành và phát triển thuật ngữ luôn luôn thấy có hai xu thế, mới xem thì có vẻ trái ngược nhau, nhưng trong thực tế lại có quan hệ rất biện chứng với nhau: đó là xu thế bản ngữ hoá và xu thế quốc tế hoá. Nếu nhận thức phiến diện và không sâu sắc những thực tế này thì khó tránh khỏi những sai lầm về chủ trương và quan điểm trong khoa học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Khắc Việt, Về vấn đề thu thập và định nghĩa thuật ngữ trong Từ điển tiếng Việt, Ngôn ngữ, 1970, số 3.

2. Hoàng Tuệ, Nhìn lại công việc chuẩn hoá tiếng Việt, Ngôn ngữ, 1983, số 1, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Ngôn ngữ, 1980, số 1.

3. Hoàng Xuân Hãn, Danh từ khoa học, H. 1942.

4. Lê Khả Kế, Về vấn đề thống nhất và chuẩn hoá thuật ngữ khoa học tiếng Việt, Ngôn ngữ, 1979, số 3 - 4.

5. Lê Văn Thới và Nguyễn Văn Dương, Nguyên tắc soạn thảo danh từ chuyên khoa, S. 1970.

6. Nguyễn Thạc Cát,Về vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việt gốc Âu, Ngôn ngữ, 1980, số 1.

7. Nguyễn Văn Thạc, Tính hạn chế - không hạn chế về vị trí của các đơn vị cơ bản trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, 1978, số 3.

8. Vân Lăng và Như Ý, Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong mấy chục năm qua, Ngôn ngữ, 1972, số 1.

9. V. M. Solncev cũng nhiều tác giả, Tiếng Việt, M. 1960.

10. L. V. Sherba, Tuyển tập về ngôn ngữ học và ngữ âm học. tập I, Leningrad, 1958.

Nguồn: HOÀNG VĂN HÀNH, Tuyển tập ngôn ngữ học.
Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội 2010.



[1] Lê Khả Kế cho rằng: “phương thức 1 và 2 thực ra chỉ là một, chỉ là hai biến thể của một phương thức: xây dựng thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt. Cho nên, chỉ nên đề ra có 2 phương thức xây dựng thuật ngữ như sau: 1. Đặt thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt; 2. Tiếp nhận và phiên thuật ngữ nước ngoài” (Lê Khả Kế, 1979, tr. 36-37).

 

 

Bài đăng trước:

  • CÂU và TỪ LOẠI
  • Về lai lịch của từ HÀNH LÍ
  • Câu chuyện: "MÃO: MÈO hay THỎ?" và sự tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc phương Đông
  • Đặc điểm văn hoá – giới tính qua tục ngữ Việt
  • Nhân TẾT đến nói chuyện ĂN