Ngôn ngữ học

CÂU và TỪ LOẠI
     

GS ĐINH VĂN ĐỨC

4.10.1 Câu là đơn vị giao tiếp. Nó luôn có tính thông báo. Nội dung cơ bản của thông điệp là sự tình và 98% sự tình trong tiếng Việt được biểu đạt bằng động từ.

Câu biểu đạt sự tình trong một hành động nhận định mệnh đề. Ngữ pháp giao tiếp, theo chức năng luận, hướng sự quan tâm đến ba bình diện của câu: kết học (Syntactic), nghĩa học (Semantic) và dụng học (Pragmatic). Bình diện kết học thể hiện qua cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. Khác với ngữ pháp truyền thống, vốn lấy phân tích mệnh đề (cấu trúc chủ - vị) làm xuất phát điểm, ngữ pháp giao tiếp tiếng Việt lấy cấu trúc Đề - Thuyết làm cấu trúc cú pháp cơ bản. Các phân tích kết học cũng xoay quanh cấu trúc này.

4.10.2 Nghĩa học của câu là một bình diện mới, bình diện sự tình. Có hai khía cạnh nghĩa mà ngữ pháp giao tiếp quan tâm: cấu trúc nghĩa của câu và các vai nghĩa hiện diện trong câu.

Về khía cạnh thứ nhất, cấu trúc nghĩa của câu thường nên hiểu theo lối giải thích của Ch. Bally [44]. Theo đó, câu có một tổ hợp nghĩa bao gồm nghĩa ngôn liệu (Dictum) và nghĩa tình thái (Modus). Nghĩa ngôn liệu được hiểu là nghĩa miêu tả, chứa đựng nội dung mệnh đề, trong khi nghĩa tình thái chỉ ra mục đích phát ngôn của câu cũng như các mối liên hệ giữa người nói - câu - thực tại. Các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Việt khá đa dạng, cả những phương tiện từ vựng và ngữ pháp, chuyện dụng và lâm thời. Lâu nay, các sách dạy tiếng Việt thường chỉ chú ý đến việc giới thiệu các cấu trúc cú pháp mà chưa quan tâm đầy đủ đến các phương tiện tình thái thường dùng trong các phát ngôn.

Các vai nghĩa trong câu lại có một xuất phát điểm khác. Ngữ pháp truyền thống, xuất phát từ cấu trúc chủ - vị, luôn quan tâm đến cơ cấu của câu (câu đơn, câu ghép) và cách thức liên kết các mệnh đề trong câu. Ngữ pháp giao tiếp, coi trọng việc biểu đạt các sự tình của câu và các quan hệ nghĩa của động từ vị ngữ. Trong câu, vai trò cơ bản thuộc về vị ngữ động từ, các quan hệ nghĩa giữa động từ vị ngữ với các tham tố của nó đã tạo ra cái khung quan hệ giữa hàng loạt vai nghĩa khác nhau của các thành tố.

4.10.3 Chú ý đến việc biểu đạt các giá trị dụng học của câu cũng là nét mới trong khi đề cập đến ngữ pháp giao tiếp. Các giá trị này, trong các sách ngữ pháp truyền thống, thường bị tách khỏi các quy tắc ngữ pháp, nhất là các quy tắc kết hợp từ.

Giá trị dụng học thứ nhất thể hiện ở chỗ cần hướng dẫn cho người học chú ý tới tình cảm và thái độ của người nói trong câu. Mỗi câu nói có một mục đích phát ngôn xác định (trần thuật, phủ định, nghi vấn, cầu khiến,...) thể hiện các giá trị ngôn trung và người học cần biết những phương tiện và cách thức biểu đạt nó.

Giá trị dụng học thứ hai thể hiện ở chỗ làm cho người học hiểu đúng nghĩa của câu bằng cách gắn nó với ngữ cảnh, tức là các tình huống cụ thể. Ngày nay, trong sách dạy tiếng thường có rất nhiều tranh ảnh minh hoạ, chính nó góp phần tích cực vào việc chỉ ra giá trị dụng học của câu.

Giá trị dụng học thứ ba thể hiện ở chỗ người ta “Làm thế nàođể nói được nhiều hơn cái điều muốn nói”. Người học cần được hướng dẫn về các nghi thức lời nói trong giao tiếp, các lối nói theo phép lịch sự từ những hành vi giao tiếp đơn giản nhất (chào, cảm ơn, xin lỗi, tạm biệt,...).

Hành động ngôn từ, với từ loại động từ là trung tâm các sự tình phải là tiêu điểm của ngữ pháp giao tiếp, theo đó, dạy ngữ pháp giao tiếp là dạy căn cứ vào các hành động ngôn từ.

4.10.4 Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, thông tin nhân loại (Human Communication) được chuyển tải trong chuỗi liên tục của các câu hỏi và câu đáp. Vậy thì hành vi hỏi (và trả lời) phải được xem xét ưu tiên. Theo đó, việc dạy ngữ pháp giao tiếp cũng phải tập trung vào việc hướng dẫn cách hỏi và cách trả lời, ở tất cả các bậc học tiếng.

Trước hết nói về động từ với hành động hỏi.

Đây là hành động cực kỳ quan trọng trong hội thoại. Câu hỏi tiếng Việt, trong cách suy nghĩ của người Việt, có những nét chung với các ngôn ngữ khác và cả những đặc thù. Việc thiết lập thực tế các câu hỏi cho thấy hiện có khác nhiều lối biểu đạt khác nhau và người Việt đã dùng đến nhiều phương tiện biểu đạt.

Những câu hỏi phổ biến liên quan đến động từ là:

a/ Câu hỏi dùng các từ để hỏi chuyên dụng (ai? gì? nào? đâu? sao? mấy? bao nhiêu?),

b/ Câu hỏi dùng các từ tình thái cuối câu (à? ư? nhỉ? nhé? chăng? phỏng?),

c/ Câu hỏi đảo trật tự để nhấn mạnh.

Câu hỏi với các từ chuyên dụng để hỏi là loại câu phổ biến nhất trong tiếng Việt. Do không có hình thái, các từ này có thể đứng ở các vị trí khác nhau trong câu: Ai gặp anh?/ Anh gặp ai?/ Anh mượn sách của ai? Anh mua áo cho ai?,... Cần chú ý là có những trường hợp chúng được dùng sóng đôi như những biểu thức (đã...chưa?, có...không? bao nhiêu....rồi?...). Cũng có lúc chúng được dùng đồng âm nhưng khác nghĩa (ai, gì, nào, đâu, ...trong cái nghĩa của đại từ bất định).

Các từ để hỏi chuyên dụng không chỉ xuất hiện trong câu hỏi ngắn (dạng đơn) mà cả trong câu hỏi dài (dạng phức) vốn thường dùng để hỏi nguyên nhân (tại sao/vì sao?), mục đích (để làm gì?/để cho ai?), cách thức (bằng cách gì?/làm sao để?).

4.10.5 Trong số các câu hỏi của tiếng Việt, câu hỏi “Có/Không?” là câu hỏi có sức tổng quát lớn và rất quan trọng. Câu hỏi này có rất nhiều dạng cụ thể, bao gồm dạng đầy đủ và dạng biến đổi (Anh/chị có phải là sinh viên không?/ Anh/chị là sinh viên phải không?/ Có phải anh/chị là sinh viên không?).

+ Có thể dùng câu hỏi có... không? mà trong đó nội dung sự tình có thể là một hành động, một trạng thái, hay một đặc trưng (Anh/chị có uống cà phê không? Phố ấy có ồn không? Hoa này có đẹp không?).

+ Có thể dùng câu hỏi hỏi có... không? mà nội dung sự tình là giới thiệu một nhân vật, một địa chỉ, hay một xuất xứ,... (Anh/chị có phải là sinh viên không? Đây có phải là phố Bà Triệu không? Anh/chị ấy có phải là người Hàn Quốc không?).

+ Câu hỏi có... không? còn gặp ở nhiều lối nói phức tạp, chẳng hạn, câu: Cái này mà cũng gọi là thuốc lá? là một câu khó. Đây là một câu phủ định có dạng một câu hỏi có/không? bởi vì người nghe hoàn toàn có thể trả lời: vâng/chứ sao! Tuy nhiên loại câu hỏi có/không kiểu này chỉ nên dạy ở bậc cao (advanced).

4.10.6 Cũng như ở các ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt có câu hỏi lựa chọn. Câu hỏi này nằm ngoài phạm vi có/không. Nó cho người ta khả năng chọn trong số cái hiện hữu (thực thể, hành động, đặc trưng,...). Liên từ hay là công cụ biểu đạt logic (Anh uống cà phê haynước cam?).

Về động từ với các câu trả lời.

Trả lời là nửa bên kia của các câu hỏi.

Do có nhiều cách hỏi, tiếng Việt, trong hành động đáp, cũng có nhiều cách trả lời, từ đơn giản đến phức tạp mà ngữ pháp giao tiếp phải quan tâm.

Những lối trả lời thường gặp nhất là:

+ Trả lời với động từ cho câu hỏi “có/không”?

Cách trả lời đơn giản nhất là dùng biểu thức: có/vâng () hoặc không (). Cũng có thể lặp lại cả mệnh đề hoặc thuyết đề: ví dụ: để trả lời cho câu hỏi: Anh/chị có uống cà phê không?, ta có thể nói: dạ, có, em có uống ạ./ dạ có uống ạ / dạ, uống ạ! và: dạ, không, em không uống ạ / dạ, không uống ạ / dạ không ạ.

+ Trong trường hợp câu hỏi này dùng từ tình thái (a?) thì khi trả lời câu hỏi, chẳng hạn, Anh có uống cà phê không? (có/không) nên có sự giải thích thêm bằng một ngữ đoạn hay một vị ngữ chứa sự tình: Có ạ, nhưng chỉ uống buổi sáng thôi ạ / Không ạ, bởi vì em rất khó ngủ.

+ Với các câu hỏi khác ngoài đối lập có/không.

Dùng phổ biến nhất là các câu hỏi chuyên dụng có dùng từ để hỏi. Khi trả lời người nói thường sử dụng các ngữ đoạn, nhiều nhất là các giới ngữ để giải thích (nơi chốn, nguyên nhân, mục đích, phong cách,...): ví dụ: ở thư viện ạ (ở đâu?), vì trời mưa ạ (tại sao?), để học tiếng Việt ạ (để làm gì?), bằng máy bay ạ (đi bằng gì?).

Với câu hỏi lựa chọn, cách trả lời cũng tương tự như vậy. Tuy ở ngoài đối lập có/không nhưng cũng có thể lặp lại mệnh đề hay ngữ đoạn (Em uống cà phê ạ / Uống cà phê ạ.).

4.10.7 Hỏi và trả lời bao trùm lên mọi hành động ngôn từ của chúng ta. Phía sau nó là các “cải biến”“tạo sinh”. Vì vậy mọi câu trần thuật, trong sử dụng, cần phải được biến đổi thành các câu hỏi, câu phủ định, câu cầu khiến như một nguyên tắc trong thực hành ngoại ngữ.

Trong khi trả lời hoặc trình bày (Presentation), đa số trường hợp, chúng ta nói động từ với câu trần thuật.

Như đã nói, câu trong mối quan hệ với tư duy, dùng để biểu đạt một sự tình / sự thể. Mỗi sự tình lại có một nội dung cụ thể. Bởi vậy câu trần thuật được dùng để giới thiệu, nhận xét, đánh giá các sự tình. Động từ vị ngữ là trung tâm của nội dung ngữ pháp.

Căn cứ vào nghĩa ngôn liệu (dictum), có thể phân ra nhiều kiểu câu trần thuật để dạy tiếng, chẳng hạn như động từ vị ngữ hiện diện trong các câu:

+ Câu giới thiệu

Đây là kiểu câu biểu đạt một phán đoán trong quan hệ logic: quan hệ này khi thì đồng nhất, khi thì bao hàm. Kiểu câu này gắn với việc sử dụng hệ từ trong danh vị ngữ (Tên em là Nam. Hà Nội là thủ đô (của)Việt Nam. Anh ấy là sinh viên).Trong nhiều trường hợp, kiểu câu này khi trần thuật, không cần đến hệ từ (Anh ấy người Hàn Quốc. Bà ấy giám đốc công ty này). Do quan hệ đồng nhất, trong nhiều trường hợp có thể đảo trật tự cú pháp (Thủ đô Việt Nam là Hà Nội).

+ Câu tự sự

Loại câu này gặp nhiều nhất. Nó phần lớn chỉ ra các sự tình diễn đạt bằng động từ, mà phổ biến nhất là các động từ hành động, trạng thái, tư thế (Anh Nam đi đến trường. Xe điện ngầm đang chạy. Cái bút rơi xuống sàn. Chị Ba ngồi ở ghế).

+ Câu miêu tả

Loại câu này trần thuật sự tình dưới dạng một nhận xét của người nói. Sự tình ở đây thường được diễn đạt bằng một tính từ, một từ mô phỏng (Hoa này rất đẹp. Thượng Hải lớn hơn Hồng Kông. Nhà anh ấy xa lắm. Nước chảy ào ào. Gió thổi ù ù).

+ Câu tồn tại

Loại câu này hay gặp trong khi nói. Nó chỉ ra sự tình: có mặt, hiện hữu, xuất hiện, biến mất,... của sự vật tại một nơi chốn được nhắc tới trước. Nó thường được biểu đạt bằng nhóm động từ tồn tại (có, treo, đựng, hiện ra, biến đi,...). Ví dụ: (Trên bàn có cuốn sách. Trong tủ có nhiều thức ăn. Trên tường có bức tranh. Ngoài sân hiện ra một vị khách.)

Trong giao tiếp, do những tình huống cụ thể, người nói và người nghe có thể đã biết nhau, cho nên trong lời đối thoại, có thêm lối nói câu trần thuật tỉnh lược bộ phận xuất phát điểm của lời nói (tức là đề ngữ).

Việc chuyển câu trần thuật sang câu hỏi là một bắt buộc khi dạy tiếng. Nếu không làm được, người học sẽ khó nói được. Tuy nhiên, do câu hỏi có nhiều kiểu, cho nên trước hết ngữ pháp giao tiếp ưu tiên cho những câu hỏi đơn giản, trực tiếp, dễ hiểu. Ở bậc học nâng cao sẽ đề cập thêm các loại câu hỏi như: Câu hỏi có giá trị cầu khiến (Liệu anh có giúp đỡ được tôi chăng?), câu hỏi có giá trị phủ định (Xe này mà anh bảo là đẹp à?), câu hỏi có giá trị cảm thán (Trời ơi! anh không đến dự liên hoan được sao?).

+ Biến đổi câu trần thuật ngoài câu hỏi

Câu trần thuật chỉ ra sự tình hiện hữu / không hiện hữu luôn dựa trên đối lập logic khẳng định / phủ định. Câu phủ định là một phương tiện rất quan trọng trong giao tiếp. Mọi câu khẳng định cũng đều phải được đổi thành câu phủ định dưới một dạng nào đó. Ở bậc cơ sở, người học tiếng Việt cần được giới thiệu những lối phủ định tiêu biểu nhất, đặc biệt việc dùng các từ phủ định - tình thái không chẳng. Các lối phủ định phức tạp khác (phủ định nghi vấn, phủ định cảm thán,...) chỉ nên dạy ở bậc cao.

Câu trần thuật cũng có thể chuyển thành câu bác bỏ. Đây là những câu khẳng định và phủ định nhằm nói ngược lại ý kiến của người đối ngôn (Làm gì có chuyện đó / không có chuyện đó đâu).

Câu trần thuật cũng phải được chuyển thành câu cầu khiến. Câu cầu khiến (thỉnh cầu và sai khiến) gồm có các lối nói có giá trị ra lệnh, hỏi han có giá trị cầu khiến, giả định có giá trị cầu khiến. Ở bậc cơ sở cần ưu tiên cho việc dạy các động từ tình thái muốn, cần, phải, và các động từ xin, cho, yêu cầu, đề nghị,... việc dùng từ tình thái “đi” ở cuối câu diễn đạt ý mệnh lệnh / cầu khiến.

+ Câu Ngôn hành / Ngữ vi

Đây là một kiểu câu có nét đặc thù trong giao tiếp. Câu ngôn hành cũng là câu trần thuật, nhưng nét khu biệt của nó là ở chỗ trong khi trần thuật một sự tình thì người nói cũng đồng thời thực hiện cái sự tình ấy. Các động từ ngôn hành cần được giới thiệu là chào, xin lỗi, cảm ơn, ra lệnh, khuyên, bảo,...Câu ngôn hành thường bắt đầu từ xưng hô dùng ở ngôi thứ nhất (tôi/chúng tôi) để làm cho người nghe chú ý rằng người nói thông báo sự tình và thực hiện cùng lúc sự tình ấy (Em cảm ơn thầy ạ. Tôi yêu cầu anh trả lời cho tôi. Tôi nhờ nó giúp đỡ). Lối nói ngôn hành đã tạo ra những biểu thức giao tiếp mà người học có thể sử dụng như những công thức cho sẵn (Tôi xin có lời đề nghị anh/chị,...).

Nguồn: CÁC BÀI GIẢNG VỀ TỪ PHÁP HỌC TIẾNG VIỆT
TỪ LOẠI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CHỨC NĂNG
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội 2010

 

 

Bài đăng trước:

  • Về lai lịch của từ HÀNH LÍ
  • Câu chuyện: "MÃO: MÈO hay THỎ?" và sự tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc phương Đông
  • Đặc điểm văn hoá – giới tính qua tục ngữ Việt
  • Nhân TẾT đến nói chuyện ĂN
  • Chuyển mã thuật ngữ - một phương thức khẳng định bản sắc: Nghiên cứu trường hợp thông tin đại chúng trong cộng đồng người Việt ở Úc.