Ngôn ngữ học

Câu chuyện: "MÃO: MÈO hay THỎ?" và sự tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc phương Đông
     

GS, TS NGUYỄN VĂN LỢI

SUMMARY
The article studies the origin of the nominal system of 12-year cycle (12 Earthly Branches), in which there is a story of “Mão: Cat or Rabbit?”, and points out issues of interest regarding the histories, cultures, languages of the Oriental peoples. During the period of Chinese rule in our country, the system of 12-year cycle (Tí - Rat, Sửu – Chinese Ox, Vietnamese Buffalo, Dần - Tiger, Mão - Chinese Rabbit, Vietnamese Cat, Thìn - Dragon, Tị - Snake, Ngọ - Horse, Mùi - Chinese Sheep (or Goat), Vietnamese Goat, Thân - Monkey, Dậu - Rooster, Tuất - Dog, Hợi – Pig (or Boar)) was introduced into Vietnam. Change in a specific environment (Mão > Mèo) reflects the way of improvising of the Vietnamese culture: accepting, borrowing, yet not modeling on but changing accordingly.

TÓM TẮT

Việc tìm hiểu nguồn gốc tên gọi TNC (trong đó có câu chuyện "Mão: Mèo hay Thỏ ?") đặt ra nhiều vấn đề thú vị về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc phương Đông:

1. Tên gọi TNC mà người Hán sử dụng không có nguồn gốc tiếng Hán, được người Hán mượn từ ngôn ngữ nào đó của các tộc người cư trú ở nam Trung Quốc: Proto Austro-Tai [P. Benedict]?, Proto Austroasiatic [J. Norman ]?;

2. Từ người Hán và tiếng Hán, cách tính và tên gọi TNC lại được các dân tộc phương Đông khác vay mượn theo cách khác nhau, ở thời kì khác nhau;

3. Ở người Việt (Kinh) cổ, đã tồn tại hệ TNC với tên gọi 12 con vật là các từ thuần Việt. Hệ thống này đã được người Khmer, Thái (Xiêm), Lào vay mượn;

4. Thời Bắc thuộc, hệ thống TNC với tên gọi Tí, Sửu, Dần, Mão… đã được du nhập vào tiếng Việt;.

5. Sự thay đổi Mão > Mèo phản ánh cách ứng biến của văn hoá Việt: thu nạp, vay mượn, nhưng làm thay đổi cho thích ứng với văn hoá dân tộc các yếu tố ngoại lai.

 Năm nay (2011) là năm Mão, theo cách tính Thập Nhị Chi (TNC)[1] của các dân tộc phương Đông. Tuy nhiên, đối với người Việt (Kinh), Mão ứng với Mèo (Mão > Mèo), và quan niệm: người sinh năm Mão - cầm tinh con Mèo.Giờ Mão - từ 5 giờ đến 7 giờ sáng, khi mèo bắt đầu đi kiếm ăn. Còn đối với người Hán và đa số các dân tộc phương Đông khác, Mão lại là Thỏ (Mão > Thỏ), người tuổi Mão - cầm tinh con Thỏ. GiờMão (5-7 giờ), lúc trăng (Thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.

Đằng sau câu chuyện tưởng như khá đơn giản, lại ẩn chứa nhiều điều thú vị về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc phương Đông.

1. Vấn đề nguồn gốc tên gọi TNC tiếng Hán và sự tiếp xúc tiếng Hán với các ngôn ngữ khác

1.1. Cách tính thời gian theo chu kì 12 con giáp (gọi là Thập Nhị Chi - TNC), hay Địa chi gồm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, bên cạnh hệ Thiên can, gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý đã được sử dụng ở Trung Quốc từ thời cổ đại. Các chữ tượng hình chỉ các yếu tố TNC xuất hiện với tần xuất cao trong các thẻ bói bằng xương động vật. Tính chất hình vẽ (pictograph) của các chữ tượng hình ghi các chi (yếu tố) TNC phản ánh tính chất cổ xưa của hệ địa chi. Chẳng hạn, các nhà khoa học cho rằng chữ Hán chỉ chi cuối cùng trong 12 con giáp Hợi chính là hình vẽ con lợn [Jerry Norman, 1985]. Đồng thời, các nhà khoa học nhận thấy rằng, mặc dù có nguồn gốc cổ xưa, tên gọi các chi TNC của người Hán không liên quan đến tên gọi các con vật tương ứng trong tiếng Hán. Ví dụ, trong tiếng Hán, tên gọi chi thứ tư (Mão > Thỏ): măo (Hán hiện đại), *miaw?(Hán trung đại), trong khi đó “thỏ”: [thu31]. Vì vậy, nhiều người cho rằng, tên gọi TNC trong tiếng Hán đã được vay mượn từ ngôn ngữ của dân tộc khác. Ngoài ra, sự tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ giữa người Hoa Hạ (tổ tiên của người Hán) với tộc người nào đó dẫn đến sự vay mượn trên, có lẽ đã xảy ra từ rất lâu, ít nhất từ thời nhà Thương (1766-1122 TCN).

1.1.1. Năm 1967, trong bài viết về văn hoá và ngôn ngữ Nam - Thái (Austro-Tai), P. Benedict đã chứng minh các yếu tốNgọ (Ngựa), Tuất (Chó), Hợi (Lợn) bắt nguồn từ ngôn ngữ Proto Nam-Thái (ngôn ngữ nguyên gốc chung của các ngôn ngữ họ Tai-Kadai và họ Nam Đảo hiện đại) và cho rằng, tên gọi các con vật trong TNC của người Hán có nguồn gốc từ ngôn ngữ Proto Nam-Thái. Ý kiến trên được Benedict tiếp tục phát triển trong công trình «Austro-Thai Language and Culture» (Ngôn ngữ và Văn hoá Nam-Thái, 1975). Tác giả cho rằng, một số từ như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cưỡi (ngựa), voi, ngà, lợn, thỏ, trâu, ong, mật, gạo, mía, muối… trong tiếng Hán vốn có nguồn gốc Nam-Thái, nhưng sau đó các cư dân Nam-Thái vay mượn lại những từ đó từ tiếng Hán. Cũng như vậy đối với tên gọi TNC tiếng Hán: Chúng có nguồn gốc Nam-Thái, nhưng sau đó một số tộc người nhóm Tai-Kadai lại vay mượn tên gọi TNC từ tiếng Hán. Cùng với quan niệm trên là giả thuyết về quê hương của ngôn ngữ Proto Nam-Thái: Đó là khu vực Đông Nam Trung Quốc. Cũng chính ở khu vực này đã xảy ra sự tiếp xúc ngôn ngữ, văn hoá giữa người Proto Nam-Thái với người Hoa Hạ ở phía bắc.

Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề Nam Thái nói chung và vấn đề quan quê hương của Proto Nam Thái và quan hệ của nó với các ngữ hệ khác ở Đông Nam Á nói riêng, vẫn đang được thảo luận. Hai trong ba trường hợp Benedict đưa ra để chứng minh cho giả thuyết nguồn gốc Nam Thái của tên gọi TNC không thực sự thuyết phục; chỉ trường hợp tên gọi Ngọ (Ngựa) có thể có mối liên hệ với từ ngà “ngựa” trong tiếng Lê (ở Hải Nam Trung Quốc).

1.1.2. Năm 1985, J. Norman nêu giả thuyết nguồn gốc Nam Á (Austroasiatic) của tên gọi TNC. Theo tác giả, có thể tìm thấy mối liên hệ một số tên gọi trong TNC với từ chỉ động vật tương ứng trong các ngôn ngữ Nam Á như: Sửu (trâu), Thìn (rồng), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Dậu (gà). Thật ra, quan niệm về nguồn gốc Nam Á của một một số từ tiếng Hán đã được Norman trình bày trong bài báo viết chung với Mei Tsu-Lin từ trước đó (1976). Trong bài báo này, các tác giả đã đưa ra nhận định rằng chủ nhân của tên gọi TNC đã cư trú ở khu vực bờ biển Đông Nam Trung Quốc, có thể là các nước Ngô hay Việt thời xưa. Có một thực tế là: Khu vực phân bố hiện nay của các ngôn ngữ Nam Á chủ yếu là vùng Đông Nam Á lục địa (các nhóm ngôn ngữ thuộc dòng Mon-Khmer) và một phần Đông Nam Ấn Độ (khu vực phân bố các nhóm ngôn ngữ thuộc dòng Mun Đa và các nhóm Kha Si, Ni Cô Ba); nếu chấp nhận giả thuyết trên, thì phải thừa nhận rằng ở thời cổ đại, tổ tiên của các tộc người nói ngôn ngữ Nam Á (Proto Nam Á) đã cư trú xa hơn về phía bắc, tiếp giáp với vùng cư trú của người Hoa Hạ ở lưu vực sông Hoàng Hà.

Điều đáng lưu ý là, 5 trong 6 trường hợp được tác giả thảo luận có dạng thức ngữ âm gần với dạng thức ngữ âm từ chỉ động vật tương ứng trong tiếng Proto Việt-Mường (ngôn ngữ nguyên gốc chung của tiếng Việt, và Mường) – một trong những đại diện của họ ngôn ngữ Nam Á. Ngoài ra, trong 6 trường hợp chứng minh nguồn gốc Nam Á của tên gọi TNC Trung Hoa mà Norman đưa ra, có lẽ tính thuyết phục chỉ thấy ở 2 hoặc 3 trường hợp (Sửu, Ngọ, và có thể, Mùi).

1.1.3. Từ năm 2000, trong loạt bài trên mạng Internet, tác giả Nguyễn Cung Thông cho rằng hệ TNC của người Trung Hoa vốn của người Việt (Kinh). Theo tác giả, tên gọi TNC bắt nguồn từ tên gọi loài động vật tương ứng trong tiếng Việt, ví dụ: bắt nguồn từ chuột, Sửu bắt nguồn từ trâu, Dần bắt nguồn từ kễnh (hổ), Mãobắt nguồn từmèo, Thân bắt nguồn từ khọn. Tuy nhiên, phương pháp và cứ liệu của tác gia không thuyết phục. Chẳng hạn, để chứng minh tên gọi chính là «chuột», tác giả lập luận: Trong tiếng Việt từ (trong câu: Nghỉ một tí) và từ chút (trong câu: Nghỉ một chút) là hai từ đồng nghĩa. Thời cổ đại (khi tiếng Việt chưa có 6 thanh điệu như ngày nay) chút và chuột có cách phát âm giống nhau, như vậy chính là Chuột.

1.2. Ngoài người Hán, cách tính TNC cũng phổ biến ở các dân tộc phương Đông khác, như ở người Việt (Kinh), Nhật, Triều Tiên, Khmer, Thái (Xiêm), Lào, Lự, Hmông, Dao, Khmú, La Chí, Cơ Lao… Tuy nhiên, trong các ngôn ngữ của các dân tộc phương Đông, tên gọi các chi trong TNC lại không đồng nhất. Có hai cách gọi tên các yếu tố TNC:

1.2.1. Ở người Nhật Bản, Triều Tiên, Bố Y, Khmú, Mảng… tên gọi TNC có hình thức ngữ âm gần với tên gọi TNC tiếng Hán. Điều này chứng tỏ các tộc người đó đã vay mượn cách tính thời gian theo TNC từ người Hán và vay mượn luôn tên gọi TNC từ tiếng Hán. Căn cứ vào hình thức ngữ âm của tên gọi TNC trong ngôn ngữ vay mượn trong sự so sánh với dạng phục nguyên tên gọi TNC tiếng Hán, có thể xác định thời gian xảy ra sự du nhập tên gọi TNC từ tiếng Hán vào ngôn ngữ đó.

1.2.2. Ở một số dân tộc như Hmông, La Chí, Cơ Lao.. ở nước ta hay người Pu Giang ở Vân Nam Trung Quốc, cách tính thời gian, thứ tự các chi cũng tương tự như hệ TNC của người Hán, nhưng tên gọi các chi lại chính là tên gọi loài động vật tương ứng trong ngôn ngữ của dân tộc đó. Chẳng hạn, người Hmông ở Việt Nam gọi chi thứ tư TNC (Mão) là Luôr[luF35] (ví dụ, Luôr shông (năm Thỏ – năm Mão); trong tiếng Hmông tul luôr [tu21 luF35] “con thỏ”.

 Thực tế trên chứng tỏ rằng người Hmông, La Chí, Cơ Lao… đã mượn cách tính thời gian theo hệ TNC từ người Hán, nhưng họ không mượn tên gọi TNC từ tiếng Hán, mà dùng tên gọi loài động vật trong ngôn ngữ của mình để gọi các chi tương ứng.

2. TNC ở người Việt và sự tiếp xúc ngôn ngữ các tộc người ở Đông Nam Á

2.1. Ở Việt Nam, cách tính thời gian theo TNC (Địa chi) và Thiên can cũng phổ biến ở dân tộc Việt (Kinh). Tên gọi và trật tự sắp xếp các đơn vị TNC hiện được người Việt sử dụng là: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Hình thức ngữ âm (cách phát âm) Tí, Sửu, Dần, Mão… gần với hình thức ngữ âm tiếng Hán Trung đại. Về “ý nghĩa”, TNC Hán và Việt có sự khác biệt duy nhất ở chi thứ tư (Mão): ứng với thỏ (Mão > Thỏ) - theo người Hán; ứng với mèo (Mão > Mèo) - theo người Việt [2].

*Có hai cách giải thích sự khác biệt này.

a. Do chỗ hình thức ngữ âm từ mèo trong tiếng Hán và Việt gần với Mão, có thể giả định rằng lúc đầu, ở người Hán, Mão ứng với mèo; và người Việt đã mượn tên gọi và “ý nghĩa”: Mão > Mèo từ tiếng Hán. Sau đó, trong tiếng Hán, “nghĩa” Mão > Mèo đã thay đổi: Mão > Thỏ. Lí do của sự thay đổi này là: Thỏ (động vật gặm nhấm, có nhiều ở vùng thảo nguyên) là loài động vật gần gũi với đời sống người Hán (du mục, chăn thả đại gia súc, trồng kê) và văn hoá Hán (biểu tượng Trăng - Thỏ Ngọc, đi giày thỏ để chạy nhanh), vốn được hình thành và phát triển trên vùng thảo nguyên lưu vực sông Hoàng Hà. Sự thay đổi này nếu có, thì chắc đã xảy từ trước thời Hán, bởi vì trên các thẻ bói theo TNC thời Tiên Tần, đã ghi Mão ứng với thỏ. Như vậy, nếu coi “Mão > Mèo” là nguyên gốc Hán và được tổ tiên người Việt vay mượn, thì sự vay mượn này đã xảy ra từ trước Công nguyên, ít nhất trước thời Hán. Tuy nhiên, dạng thức ngữ âm của tên gọi TNC trong tiếng Việt lại chứng tỏ rằng sự du nhập tên gọi TNC đã xảy ra vào thời Đường Tống.

b. “Mão > Thỏ” là nguyên gốc Hán, nhưng khi nhập vào Việt (thời Đường Tống), có sự thay đổi Mão > Mèo. Lí do của sự thay đổi này là:

i - Cách phát âm Mão gần với cách phát âm từ Mèo.

ii - Khác với thỏ, mèo là loại động vật gần gũi hơn với đời sống người Việt (trồng lúa nước, thuần hoá mèo để diệt chuột), văn hoá Việt (hình ảnh mèo khá phổ biến trong văn hoá dân gian Việt), vốn được hình thành và phát triển ở lưu vực sông Hồng (Giao Chỉ), sông Mã, sông Cả (Cửu Chân).

 Trong hai cách giải thích trên, cách thứ hai dễ được chấp nhận hơn. Trong dịp đón Tết Tân Mão vừa qua, trên các diễn đàn, nhiều ý kiến thiên về cách giải thích thứ hai. Cũng nên nói thêm rằng, việc coi “Mão > Mèo” thay cho “Mão > Thỏ” chính là sự “tiếp biến văn hoá” theo truyền thống ứng xử văn hoá Việt: Chịu ảnh hưởng, thu nạp các yếu tố văn hoá Hán, nhưng không “bê” nguyên xi yếu tố Hán, để trở thành cái “bóng” của văn hoá Hán, mà biến đổi cho thích ứng với văn hoá bản địa của người Việt.

2.2. Thực ra người Việt cổ (Proto Việt-Mường), trước khi du nhập tên gọi TNC tiếng Hán, đã sử dụng hệ thống TNC với tên gọi là những từ thuần Việt.

 2.2.1. Năm 1935, học giả Coedès Georges nhận thấy rằng, tên gọi các năm theo chu kì 12 con vật của người Campuchia không trùng với các từ chỉ 12 con vật tương ứng trong tiếng Khmer, mà trùng với các từ chỉ các con vật trong các phương ngữ tiếng Mường. Từ đó tác giả cho rằng, người Khmer ở phần phía bắc Chân Lạp đã vay mượn hệ thống tên gọi TNC từ tiếng Mường cổ .

 2.2.2.Tư liệu và giả thiết của Georges về nguồn gốc Mường cổ của tên gọi TNC Khmer được Michel Ferlus - chuyên gia về lịch sử ngôn ngữ Việt-Mường tiếp tục đi sâu khai thác và đưa ra những giả thuyết mới về nguồn cội các ngôn ngữ Việt-Mường. Trong các bài báo công bố năm 1979 và 1992, Ferlus chỉ ra rằng, một số tên gọi các năm theo chu kì 12 con giáp xuất hiện ở một số văn bia Khmer cuối thế kỉ X, cũng như trong các văn bản bằng tiếng Xiêm (Thái Lan), tiếng Lào, lại hoàn toàn trùng với tên gọi con vật tương ứng không chỉ trong các thổ ngữ Mường, mà còn ở các ngôn ngữ khác thuộc nhóm Việt-Mường như Poọng, Tha Vựng, Pa Ka Tan. Đây là một trong những cơ sở để tác giả cho rằng cái nôi hình thành ngôn ngữ Proto Việt-Mường không phải vùng châu thổ sông Hồng, mà ở phía tây Trường Sơn, vùng trung lưu sông Mê Công. Người Khmer đã tiếp nhận hệ TNC Việt-Mường thông qua trung gian là cư dân Proto Katuic (tổ tiên của cư dân Ka Tu, Bru, Pakoh, Ta Ôih, Kuồi, Nghẹ… hiện cư trú ở Việt Nam, Lào, Thái Lan) ở bắc Chân Lạp – địa bàn tiếp xúc với Proto Việt-Mường.

Năm 2004, trong Hội nghị Quốc tế Ngôn ngữ học Liên Á lần thứ VI, M. Feslus một lần nữa lại trở lại vấn đề trên. Tác giả đưa ra một số kết luận:

a. Chu kì TNC của người Hán đầu tiên được người Việt cổ chuyển dịch sang tiếng Việt;

b. Những đối ứng về nguyên âm trong tên gọi TNC Khmer và từ chỉ con vật tương ứng trong các ngôn ngữ Việt-Mường chứng tỏ người Khmer đã vay mượn hệ thống này của Proto Việt-Mường từ thời kì Tiền Angkor, ít nhất ở thế kỉ VI-VII SCN. Người Thái (Xiêm), người Lào lại vay mượn hệ thống này từ người Khmer vào thế kỉ XIII-XIV;

c. Tư liệu về sự vay mượn hệ TNC từ tiếng Việt cổ vào tiếng Khmer, Thái, Lào xác nhận mối quan hệ giữa Việt Nam cổ (Giao Chỉ) và Campuchia cổ (Chân Lạp) và cung cấp những thông tin hữu ích về sự phát triển tiếng Việt.

2.2.3. Năm 2008 (Mậu Tí), vấn đề nguồn gốc Việt cổ của tên gọi TNC trong tiếng Khmer, Thái (Xiêm) được chúng tôi (Nguyễn Văn Lợi) đề cập trong bài báo “Tí (chuột) trong hệ Thập Nhị Chi và một số vấn đề tiền sử ngôn ngữ Đông Nam Á. Dựa trên tư liệu không chỉ các ngôn ngữ Việt, Mường mà cả các ngôn ngữ khác thuộc nhánh Việt (Vietic) như Rục, Sách, Arem, Thà vựng, Ma Lang… chúng tôi đi đến một số nhận định như sau:

a. Ngôn ngữ nhánh Việt (còn được gọi là các ngôn ngữ Vietic, bắt nguồn từ ngôn ngữ nguyên gốc là Proto Vietic) không chỉ gồm tiếng Việt và Mường (bắt nguồn từ ngôn ngữ nguyên gốc là Proto Việt-Mường), mà còn gồm các ngôn ngữ khác ở Bắc Trung Bộ Việt Nam và Trung Lào như Thổ, Cuối, Đan Lai, Li Hà, Poọng, Tum, Rục, Sách, Thà Vựng, Ma Lang …

b. Trong các ngôn ngữ nhánh Việt từ “chuột” có 2 nguồn gốc:

i - “chuột” với dạng thức Proto Vietic *kune < Proto Môn – Khmer *kniʔ tìm thấy ở các ngôn ngữ phân bố ở phía nam như Poọng - Tum, Rục, Thà Vựng, Ma Lang…;

ii - Dạng thức “chuột” *ɟuət > cuət (chuột) chỉ thấy ở các ngôn ngữ Việt và Mường - các ngôn ngữ thuộc nhóm bắc của nhánh Vietic. Như vậy, dạng thức “chuột” *ɟuət > cuət (chuột) là hiện tượng cách tân chỉ xảy ra ở các ngôn ngữ Việt và Mường (Proto Việt-Mường);

c. Trong tiếng Khmer, “chuột” có dạng ngữ âm kətur, còn yếu tố thứ nhất TNC có dạng thức cut (Khmer hiện đại) < *ɟuət (Proto Khmer). Dạng thức này được vay mượn không phải từ Proto Vietic mà từ Proto Việt-Mường;

d. Theo ý kiến của các nhà khoa học như Ferlus M, Chamberlain J., Diffloth G., Nguyễn Tài Cẩn… quê hương của các ngôn ngũ nhánh Việt có thể là vùng trung lưu sông Mê Công. Sự chia tách Proto Việt-Mường khỏi Proto Vietic chắc đã xảy từ 2.000-2.500 năm trước. Như vậy, khu vực hình thành Proto Việt-Mường, sau khi tách khỏi Proto Vietic, không còn là vùng trung lưu sông Mê Công, mà có lẽ là lưu vực sông Hồng (Giao Chỉ), sông Mã, sông Cả (Cửu Chân);

e. Sự vay mượn tên gọi yếu tố thứ nhất TNC cut (Khmer hiện đại) < *ɟuət (Proto Khmer) không phải do sự tiếp xúc trực tiếp giữa cư dân Proto Vietic ở và Proto Khmer ở trung lưu sông Mê Công, như M. Ferlus giả định, mà là kết quả sự ảnh hưởng, tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ gián tiếp giữa người Proto Việt Mường ở Giao Chỉ, Cửu Chân với Proto Khmer ở Chân Lạp.

3. Kết luận

Đề tài nguồn gốc tên gọi TNC (trong đó có câu chuyện “Mão: Mèo hay Thỏ?”) đặt ra nhiều vấn đề thú vị, nhưng khá phức tạp về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ các dân tộc phương Đông. Chúng ta sơ bộ rút ra một vài kết luận, sau khi điểm lại một số những nghiên cứu về đề tài này:

1. Cách tính TNC đã được người Hán sử dụng từ lâu. Tuy nhiên, tên gọi TNC mà người Hán sử dụng không có nguồn gốc tiếng Hán, mà được người Hán mượn từ ngôn ngữ nào đó của các tộc người cư trú ở nam Trung Quốc;

2. Từ người Hán và tiếng Hán, cách tính và tên gọi TNC lại được các dân tộc phương Đông khác vay mượn theo cách khác nhau, ở thời kì khác nhau;

3. Ở người Việt (Kinh) cổ, đã tồn tại hệ TNC với tên gọi 12 con vật là các từ thuần Việt: *ɟuot (chuột), *klu (trâu), *k-hal (hổ, khái), *thoh (thỏ), *roŋ (rồng), *m-sěŋ (rắn), *m-mi (dê), *wɔk (khỉ, voọc), *r-ka (gà), *ʔ-cɔʔ (chó), *kur (lợn, cúi);

4. Từ vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, hệ thống này đã lan truyền và được người Khmer ở Chân Lạp mượn từ thời Tiền Angkor, ít nhất ở thế kỉ VI-VII; sau đó, vào thế kỉ XIII-XIV, người Thái (Xiêm), người Lào lại mượn hệ thống này từ Khmer;

5. Sau khi bị người Hán đô hộ, dưới thời Bắc thuộc, cùng với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết Hán ở người Việt, hệ thống TNC với tên gọi Tí, Sửu, Dần, Mão… tiếng Hán đã được du nhập vào tiếng Việt.

6. Sự thay đổi Mão > Mèo phản ánh cách ứng biến của văn hoá Việt: thu nạp, vay mượn, nhưng làm thay đổi cho thích ứng với văn hoá dân tộc các yếu tố ngoại lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Benedict Paul K. 1967.“Austro-Thai Studies, 3. Thai and Chinese” Behavioral Science Note, 1967, II, No. 4 : 288-291.
[2] Coedès Georges 1935. “1’Origine du cycle des douzes animaux au Cambodge”, Tung Pao XXXI, 1935, 315-329.
[3] Nguyễn Tài Cẩn 1995. Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Hà Nội, 1995.
[4] Diffloth Gerard 1992.Proto Mon-Khmer Etymologies: The Khmer Animal Cycle. Second Annual Meeting of SEAL Society, Phoenix, Arizona, May, 1992.
[5] Ferlus Michel 1992. Sur l‘origine geographique des langues Viet Muong Mon Khmer Studies, 18-19, 52-59.
[6] Ferlus Michel 2005. Le cycle douze animaux: Histoire d’un contact ancien entre Vietnam et Cambodge (Kỉ yếu Hội thảo Ngôn ngữ học Liên Á lần thứ VI), Hà Nội, tr. 94-103
[7] Nguyễn Cung Thông. Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp, http://www.ngonnguhoc.org.vn, nguyencungthong@yahoo.com.
[8] Nguyễn Tài Cẩn 1995. Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Hà Nội, 1995.
[9] Nguyễn Văn Lợi 2008. Các ngôn ngữ nhánh Việt (Vietic) và vấn đề nguồn gốc tên gọi Cửu Chân, Tạp chí Khoa học Xã hội miền Trung và Tây Nguyên, s. 1, 2008, Hà Nội, tr. 26-33.
[10] Nguyễn Văn Lợi 2008. Tí (Chuột) trong hệ Thập Nhị Chi và một số vấn đề tiền sử ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Tạp chí Khoa học Xã hội miền Trung và Tây Nguyên, s. 3, 2008, Hà Nội, tr. 41-46.
[11] Norman Jerry 1985. A note on the origine of the Chinese Duodenary cycle. Linguistic of Sino-Tibetan Area, The State of Art. Pacific Linguistics Series C, No 87, 85-89.
[12] Peiros Ilia and Starostin Sergej 1996. A comparative vocabulary of five SinoTibetan Languages, The University of Melbourne, Australia, 1996.
[13] Ryuchi Kosaka, Zhou Guoyan, Li Jinfang 1998. A Wordlist of Ge-Yang Languages, Beijing, 1998.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 2(10)/2011.


[1] Cách tính Thập nhị chi là cách tính thời gian theo chu kì (giáp) gồm 12 đơn vị (chi), ứng với 12 con vật; do vậy, TNC còn gọi là chu kì 12 con giáp.
[2]
Thật ra, có sự khác biệt giữa tầng lớp “bình dân” và “bác học” về “nghĩa” của “Mão”. Trong Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, xuất bản năm 1651, giải thích giờ mão là giờ mèo. Lê Quý Đôn (1726-1784) trong “Vân đài loại ngữ”- xuất hiện sau Từ điển của de Rhodes gần 200 năm, ghi mãothỏ.

 

 

Bài đăng trước:

  • Đặc điểm văn hoá – giới tính qua tục ngữ Việt
  • Nhân TẾT đến nói chuyện ĂN
  • Chuyển mã thuật ngữ - một phương thức khẳng định bản sắc: Nghiên cứu trường hợp thông tin đại chúng trong cộng đồng người Việt ở Úc.
  • Về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
  • Vấn đề chữ quốc ngữ