Ngôn ngữ học

Nhân TẾT đến nói chuyện ĂN
     

PGS, TS PHẠM VĂN TÌNH

SUMMARY
Ăn in such combinations as ăn chia, ăn chơi, ăn dỗ, ăn mặc, ăn nhậu … marks a shift of meaning (the main meaning lies in the latter component). There are as many as 159 combinations of ăn in its vocabulary and the consideration of their structures and mechanisms of forming meanings is quite an interesting experience.
an tet

Ăn là câu chuyện của muôn thuở. Từ cổ chí kim, hỏi có ai không ăn mà sống được? Tết nhất hội hè, người ta thường hay tổ chức ăn uống linh đình. Đó cũng là chuyện đương nhiên. Trong bài này, tôi không có ý lạm bàn về chuyện ẩm thực (ẩm: uống, thực: ăn). Tôi muốn nhân đây để bàn về một vấn đề liên quan tới ngôn ngữ. Đó là ngữ nghĩa của tổ hợp từ ăn Tết.

Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên) đã thống kê tới 159 tổ hợp có từ ăn đứng đầu. Dĩ nhiên, các từ này phải có nghĩa xuất phát, nghĩa cơ bản của ăn, được giải thích là “tự cho vào cơ thể thức nuôi sống”. Ăn cơm, ăn cháo, ăn cám, ăn cỏ, ăn ráy, ăn khoai,… là ăn các thức ăn cụ thể. Ăn sáng, ăn trưa, ăn tiệc, ăn cỗ, ăn sam,... nói về việc ăn trong các thời điểm và nghi thức, kiểu cách khác nhau. Ăn bớt, ăn bẩn, ăn chặn, ăn cắp,… là các lối “ăn” được coi là xấu, liên quan tới tư cách, phẩm chất của người ăn,... Miếng ăn quá khẩu thành tàn (tục ngữ) mà!

Tuy nhiên, có một loạt tổ hợpăn mà nghĩa chung của nó lại được thay đổi lệch sang thành tố sau. Ví dụ:

- ăn chia: chia phần (giữa những người, những bên cùng tham gia một công việc nào đó). Tụi mình đã làm ăn với nhau trước hết ăn chia phải sòng phẳng; ăn cho đều kêu cho sòng (tục ngữ).

- ăn chơi: chơi bời, tiêu khiển bằng các thú vui vật chất (và tinh thần). Tay ấy được coi là kẻ ăn chơi bậc nhất, sẵn sàng ném tiền qua cửa sổ.

- ăn dỗ: dỗ dành, lừa phỉnh (để kiếm ăn). Rõ dơ! Người nom thế mà lại đi ăn dỗ trẻ con..

- ăn mặc: mặc hay những vấn đề thuộc về trang phục nói chung. Hôm nay ngày kị, con nhớ ăn mặc sao cho chỉnh tề nhé!

- ăn nhậu: nhậu nhẹt, chè chén. Chiều nào hội này cũng ăn nhậu với nhau đến khuya.

- ăn tiêu: tiêu pha (trong đời sống). Nhà ấy kiếm ra tiền nhưng ăn tiêu dè sẻn lắm.

v.v.

Ta thấy, nghĩa của các tổ hợp có ăn trên không có sự hoà kết tương đồng “ăn + x”. Lẽ ra, ăn ở đây phải mang nghĩa trội nhưng qua quan sát, nghĩa chủ yếu lại rơi vào yếu tố đứng sau. Chẳng hạn, ăn chia: chia là chính, ăn chơi: chơi là chính, ăn mặc: mặc (trang phục) là chính,… Lẽ ra, chí ít trong kết hợp 1 + 1 này, 2 thành tố phải ngang bằng về ngữ nghĩa (như nhà cửa, cơm nước, rau cỏ, hoa trái,…). Vậy mà, “anh chàng” ăn kia lại bị đẩy sang một bên, để anh chàng đứng sau lấn át. Rõ ràng, đây là các kết hợp “có vấn đề”.

Trở lại với từ ăn Tết mà chúng ta đang bàn. Tết là “ngày lễ lớn hàng năm, thường có cúng lễ, vui chơi, hội hè theo phong tục và truyền thống dân tộc”. Ở Việt Nam ta có rất nhiều tết: Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu,… Bây giờ lại có thêm nhiều tết nữa: Tết Dương lịch, Tết trồng cây, Tết người nghèo, …

Dĩ nhiên, nói đến Tết, mỗi người Việt Nam sẽ nghĩ ngay tới Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết ta) quen thuộc, hàm chứa nhiều ý nghĩa. Làm như ba ngày mùa để đâu cho hết, ăn như ba ngày Tết lấy gì mà ăn; Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết… (tục ngữ). Tết là dịp người ta chuẩn bị sắm sanh đồ ăn thức uống đủ đầy. Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà; Khôn ngoan tới cửa quan mới biết, giàu có ba mươi Tết mới hay (tục ngữ). Nhưng cao hơn cả là những hoạt động hướng về tổ tiên, nguồn cội. Tháng Giêng ăn Tết ở nhà. Dù ai đi đâu làm đâu, dẫu xa đến mấy vẫn lấy tết là một thời điểm cần phải hành hương về quê, đoàn tụ với người thân, xóm làng. Ở đó có hương hoả, tổ tiên và quê hương nguồn cội của họ. Theo truyền thống dân gian, cách ứng xử với cha mẹ ông bà là một nét làm nên chữ hiếu. Con cái có hiếu nghĩa mới thực sự được coi là nên người, được tổ tiên phù hộ, may mắn, thành đạt...

Tết cũng là dịp người ta đoàn tụ một cách đầy đủ nhất. Tổ ấm gia đình là nơi ta gửi gắm, sẻ chia nhiều điều từ điều lớn lao tới điều nhỏ nhặt. Ăn cơm mới, nói chuyện cũ (tục ngữ). Mỗi khi Tết đến xuân về, những người già, người lớn tuổi thường nhân dịp con cháu quây quần để “ôn cố tri tân”. Coi đó là một dịp nhắc nhở và răn dạy các thế hệ hậu sinh. Và các thế hệ hậu sinh này hướng về các bậc cao niên sinh thành để đáp lễ, bằng các hành động, bằng sự tri ân (biếu tiền bạc, tặng quà cáp, báo cáo sự thành đạt…). Tết là dịp để mỗi người, mọi người tổng kết, nhìn lại và suy ngẫm về quá khứ và định hướng cho tương lai.

Rồi cũng nhân dịp Tết, người ta thường tổ chức các lễ hội mừng xuân: hái lộc, ra chùa cầu may mắn, tham gia các trò vui mang tính thể thao, như chơi đu, bắt chạch trong chum, bịt mắt bắt dê, ném còn Ai đã từng về vùng nông thôn xưa, nhân dịp Tết, sẽ thấy có rất nhiều đám đông tụ họp, ăn mặc đẹp nhiều màu sắc, vui chơi, nhảy múa trong tiếng nhạc và tiếng trống rộn ràng. Tháng Giêng là tháng ăn chơi (tục ngữ) mà.

Như vậy, ăn Tết hình như không chỉ có “ăn” và “ăn” chỉ là một phần nhỏ làm nên cái Tết. Hương vị Tết phải là những gì mang nét đẹp tinh thần, có ý nghĩa tâm linh tín ngưỡng và đậm chất nhân văn truyền thống. Tết (với nghĩa rộng như trên đã nói) là thành tố chủ đạo làm nên tổ hợp từ ăn Tết. Tết là thời điểm đặc biệt, và ý nghĩa của nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mọi người dân Việt Nam. Tết chẳng riêng ai, Tết mọi nhà / Quê hương, làng xóm, ông bà, tổ tiên (tục ngữ).

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 1(9)/2011.

 

 

Bài đăng trước:

  • Chuyển mã thuật ngữ - một phương thức khẳng định bản sắc: Nghiên cứu trường hợp thông tin đại chúng trong cộng đồng người Việt ở Úc.
  • Về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
  • Vấn đề chữ quốc ngữ
  • FERDINAND DE SAUSSURE với Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
    (Một số suy nghĩ khi đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand de Saussure)
  • Về tính có lí do của các đơn vị từ vựng phái sinh trong tiếng Việt*