Ngôn ngữ học

Về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
     

GS HOÀNG PHÊ

Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng
quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó...

Hồ Chủ tịch

Trước Cách mạng Tháng Tám, trong lĩnh vực văn hoá, Đảng ta nêu nhiệm vụ “tranh đấu về tiếng nói” thành một “nhiệm vụ cần kíp”, chủ trương “thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói” của dân tộc [1].

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở trong giai đoạn gay go nhất, đồng chí Trường Chinh kêu gọi “gây một phong trào Việt hoá lời nói và văn chương”, “kiên quyết bảo vệ tiếng mẹ đẻ” [2]. Và gần đây, giữa lúc tiếng súng chống Mĩ cứu nước đang nổ rền khắp Nam, Bắc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhắc mọi người phải “giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta”, vì “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt tức là góp phần chống Mĩ cứu nước trên mặt trận văn hoá” [3].

Như vậy, “bảo vệ tiếng mẹ đẻ”, “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” là một công tác không thể thiếu được trong toàn bộ công tác cách mạng của chúng ta. Dù những khi phải tập trung sức lực chống ngoại xâm, như trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và trong chống Mĩ cứu nước hiện nay, cũng không một lúc nào chúng ta chểnh mảng việc đó.

Theo đường lối nói trên của Đảng, những người nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta cũng nhận thức rằng: “Bảo vệ tính chất trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó mỗi ngày một giàu đẹp, chính xác thêm đó là nhiệm vụ của tất cả mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học, nhà văn, nhà báo” [4] và trong mấy năm nay rải rác đã có không ít bài nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt [5].

Từ đầu năm 1966, sau bài phát biểu về “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của thủ tướng Phạm Văn Đồng, vấn đề càng được chú ý hơn, và không chỉ trong giới ngôn ngữ học. Nhiều người, trong đó có những nhà văn, nhà báo đã nói những suy nghĩ và những băn khoăn của mình về vấn đề này [6].

Cách mạng Tháng Tám mở ra một giai đoạn phát triển mới của tiếng Việt: giai đoạn nó được nâng lên địa vị ngôn ngữ nhà nước của một dân tộc độc lập, tự do, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, phạm vi sử dụng của tiếng Việt được mở rộng một cách không hạn chế. Ngày nay, đông đảo nhân dân ta dùng tiếng Việt hằng ngày trong những lĩnh vực hoạt động, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ đối với mình. Do đó mà cũng không khỏi nảy sinh hiện tượng khá phổ biến là nói, viết không được tốt, ảnh hưởng đến sự trong sáng, sự phát triển lành mạnh của ngôn ngữ. Mọi người đều thấy cần chống những hiện tượng ấy.

Nhưng đi cụ thể, đi sâu hơn nữa thì nảy ra nhiều vấn đề. Trước hết, có vấn đề đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ. “Trong việc dùng từ và đặt câu... điều then chốt là phải phân rõ cái đúng với cái sai, cái làm giàu đẹp thêm tiếng Việt với cái “làm hư” tiếng Việt... Nhưng ai cũng thấy việc ấy không phải dễ” [7]. Thật vậy, trong ngôn ngữ, thế nào là đúng, sai, tốt, không tốt? Có nhiều trường hợp rõ ràng, nhưng cũng có những trường hợp không rõ ràng. Thế nào là sự trong sáng của tiếng Việt là một câu hỏi không dễ trả lời, và đúng là “có nhiều quan niệm trong sáng khác nhau, do đó có nhiều cách đánh giá khác nhau” [8]. Vậy nên quan niệm như thế nào để không ngăn cản “mỗi người viết văn... có lấy cái phong cách, cái vẻ riêng của mình” [9]? Lại còn có khía cạnh khoa học của vấn đề: làm thế nào để khi giải quyết vấn đề ngôn ngữ tránh được sai lầm của chủ nghĩa chủ quan, tránh được “cái tình trạng chỉ dựa vào cảm tính” [10] mà không dựa vào sự nghiên cứu khoa học?

Như vậy, có nhiều vấn đề, mà chung quy là: nên hiểu thế nào là “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”? Thế nào là “trong sáng”, thế nào là “giữ gìn”? Rõ ràng là cần phải nghiên cứu cơ sở lí luận, nội dung, phương hướng của việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ chúng ta.

Vấn đề rất lớn và phức tạp. Dưới đây chỉ xin trình bày một số suy nghĩ bước đầu và chưa phải toàn diện.

Đề ra việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữtức là thừa nhận rằng trong ngôn ngữ có cái “đúng” và cái “sai”, cái “tốt” và cái “không tốt”, và thừa nhận con người có thể tác động một cách tự giác và tích cực đến sự phát triển của ngôn ngữ. Thừa nhận như vậy có cơ sở hay không? Câu hỏi này nhiều người có thể cho là thừa. Nhưng đây chính là một vấn đề quan điểm cơ bản, và trong ngôn ngữ học hiện đại, không phải là không có những ý kiến khác nhau rất nhiều.

Cho nên cũng cần khẳng định rõ ràng quan điểm của chúng ta. Đó đây, có những nhà ngôn ngữ học cho rằng một “nguyên tắc cơ bản” là “trong ngôn ngữ không có cái gọi là tốt và xấu (hay là đúng và sai, hợp ngữ pháp và không hợp ngữ pháp)”, và nếu nghĩ rằng trong ngôn ngữ có cái đúng, cái sai, thì đó là một quan niệm “không những không đúng đắn, sai lầm và vô ích, mà còn là hết sức có hại” [11]. Quan niệm này chỉ là “sản phẩm phụ của những địa vị xã hội nào đó”, cho nên nhà ngôn ngữ học “quan sát tất cả các hình thức ngôn ngữ một cách vô tư” [12] và “sẽ không đứng về phía nào cả”, bởi vì ngôn ngữ học là khoa học, mà nói khoa học tức là “dựa trên sự quan sát hiện tượng và không đề nghị một sự lựa chọn nào hết” [13], cũng tức là hoàn toàn không can thiệp vào sự phát triển của sự vật. Quan điểm trên đây từ mấy chục năm nay là quan điểm phổ biến trong giới ngôn ngữ học các nước tư bản. Nó đã nảy sinh trong hoàn cảnh có sự phản ứng chống lại việc dạy ngôn ngữ ở nhà trường theo lối kinh viện chủ nghĩa, tách rời ngôn ngữ sinh động của nhân dân, chống thái độ bảo thủ, hẹp hòi, “thuần tuý chủ nghĩa” trước những hiện tượng mới trong ngôn ngữ, chống chủ nghĩa chủ quan trong việc đánh giá và nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ. Nhưng nếu chống chủ nghĩa chủ quan mà lại rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, thì vẫn là sai lầm. Không thể vì phản đối sự đánh giá chủ quan đối với các hiện tượng ngôn ngữ mà phủ nhận mọi sự đánh giá. Sự thật là trong hoạt động ngôn ngữ, mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, dù tự giác hay không, đều có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, phân biệt giữa đúng và sai, tốt và không tốt. Ngay cho rằng trong ngôn ngữ không có cái đúng và cái sai cũng đã là một sự đánh giá rồi, đánh giá rằng cái gì cũng “được”, cũng đúng, không có cái gì là “sai” cả. Vì có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, nên mới có sự lựa chọn cách diễn đạt và có sự sáng tạo trong lời nói, mới có thái độ khác nhau đối với những hiện tượng mới trong ngôn ngữ. Một hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng được chấp nhận hay không, được giữ lại và củng cố, hay bị bỏ đi, hoặc bị thay thế là thông qua sự đánh giá của xã hội.

Trong những vấn đề ngôn ngữ cũng vậy, nếu vin vào lẽ cần phải khách quan, mà đi đến có thái độ khách quan chủ nghĩa thì là hoàn toàn sai lầm. Không thể coi “ngôn ngữ là một hệ thống chỉ biết có trật tự của bản thân nó” [14]. Không thể “để mặc ngôn ngữ”, như có người đã nêu thành một đường lối, đề tên như vậy cho một quyển sách của mình [15]. Có lúc người ta quên cái chân lí đơn giản sau đây: chính con người tạo ra và sử dụng thì cũng chính con người phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ. Xã hội và khoa học phát triển, thì tác dụng của con người đối với cái sản phẩm ấy của mình cũng từ không tự giác dần dần trở thành tự giác, và ngày càng tự giác hơn, tích cực hơn. Cho nên nghiên cứu về ngôn ngữ thì phải biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, tuyên truyền cho một sự đánh giá đúng đắn, hướng dẫn sự đánh giá của xã hội, đứng về phía những hiện tượng tích cực mà đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực. Như có người đã nói: “Những nhà ngôn ngữ học phải là những người thực tiễn; không những chỉ sưu tầm các từ ngữ, mà còn phải can thiệp vào quá trình phát triển của ngôn ngữ; phải giải thích quá trình ấy, đoán trước chiều hướng phát triển, đấu tranh dũng cảm cho cái mới. Nói chung, phải nắm lấy ngôn ngữ!” [16]. Đó thật ra là điều mà Mác và Ăng ghen đã nói từ lâu: “Lẽ dĩ nhiên, đến lúc nào đó, con người sẽ hoàn toàn kiểm soát cả cái sản phẩm ấy” (chỉ ngôn ngữ) [17].

Như vậy, vấn đề không phải là nên hay không nên đánh giá, mà là nên đánh giá như thế nào. Đây đúng là vấn đề mấu chốt, mà cũng là vấn đề khó khăn nhất. Trước cùng một hiện tượng ngôn ngữ, sự đánh giá có khi không nhất trí: có người cho là đúng, tốt, hoặc ít nhất là “được”; có người cho là sai, không tốt, “không được”. Có những cách nói tương đối phổ biến, nhưng lại bị một số người không phải ít phản đối. Đúng, sai như thế nào, lắm lúc làm chúng ta rất phân vân. Sự đánh giá không nhất trí, vì thường dựa trên những căn cứ khác nhau. Nó chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâm lí, văn hoá, xã hội phức tạp, và không phải lúc nào cũng dựa trên những hiểu biết về ngôn ngữ. Có khi sự đánh giá chỉ dựa trên những “thị hiếu” ngôn ngữ cá nhân, hoàn toàn chủ quan. Chúng ta thường thích một cách nói này hơn một cách nói khác, nhưng hỏi lí do tại sao thì lắm khi rất khó trả lời. Ai cũng ít nhiều quan tâm đến ngôn ngữ, “nhưng kết quả kì cục... là trong lĩnh vực này, hơn ở đâu hết, nảy sinh những ý nghĩ vô lí, những định kiến, tưởng tượng, ảo tưởng... Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học trước hết là vạch ra và làm tan những cái đó...” [18]. Đúng như vậy. Nhưng vạch ra và làm tan các thứ định kiến là nhằm để đi đến xây dựng một sự đánh giá đúng đắn đối với các hiện tượng ngôn ngữ, một sự đánh giá khách quan hơn, dựa nhiều hơn trên những hiểu biết về ngôn ngữ, về quy luật, yêu cầu, điều kiện, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời kì mà ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, không những cần đánh giá đúng đắn rất nhiều hiện tượng ngôn ngữ mới, mà lắm khi còn cần “đánh giá lại” nhiều hiện tượng ngôn ngữ cũ nữa.

Nên căn cứ vào đâu để đánh giá những hiện tượng ngôn ngữ, và trước hết là để phân rõ đúng và sai?

Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong lô gích: hình như cái gì “hợp lí” là đúng. Nhưng thế nào gọi là “hợp lí” trong ngôn ngữ? Ngôn ngữ có cái “lí” riêng của nó, không đơn giản, khác cái lí thông thường, và có khi mâu thuẫn với cái lí thông thường. Trong tiếng Việt, nói mười một nhưng lại không thể nói “hai mười một”, “ba mười một”, mà lại phải nói hai mươi mốt, ba mươi mốt. Bất, vô đều có nghĩa phủ định: bất ngờ, bất công, vô lễ, vô cớ, v.v. nhưng bất thình lình lại nghĩa như thình lình, và vô khối lại nghĩa như khối (còn vô khối = còn khối). Cùng là chạy nhưng trong chạy giặc, chạy nạn thì có nghĩa là chạy để tránh, mà trong chạy gạo, chạy thầy thì lại có nghĩa là chạy để tìm! Chỉ dựa trên cái lí thông thường, làm sao xác định được cái đúng, cái sai ở đây?

Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong dĩ vãng, trong sách. Trước kia, ngày xưa, nói như vậy, hiểu như vậy, thì bây giờ cũng phải nói như vậy, hiểu như vậy mới là đúng, khác đi là sai. Hình như nghĩa theo gốc, theo từ nguyên mới là nghĩa “đúng” nhất của một từ. Nhưng ngôn ngữ đâu có đứng nguyên một chỗ, nó phát triển không ngừng. Tiếng Việt ngày nay không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Du, càng không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Trãi. Nếu hiểu theo thời Nguyễn Trãi, thì ngặt, phải có nghĩa là “nghèo”:

Quân tử hay lăm bền chí cũ,
Chẳng âu ngặt chẳng âu già [19].

Còn nghèo thì lại có nghĩa là “nguy, khốn, ngặt”:

Khi bão mới hay là cỏ cứng,
Thuở nghèo thì biết có tôi lành [20].

Đểucáng, ngày xưa chỉ những hạng người lao động, theo quan điểm của chúng ta ngày nay thì chẳng có gì đáng khinh. Nhưng từ lâu rồi, “đểu cáng” đâu còn có nữa cái nghĩa phu gánh thuê và phu cáng, như Việt-nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức đã giải thích? Trong ngôn ngữ, cái quá khứ chỉ có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm cái hiện tại, chứ không xác định được cái hiện tại. Ăng ghen đã từng nói rằng phải hiểu một từ “theo cái nghĩa mà nó đã có trong quá trình phát triển lịch sử của việc sử dụng nó trong thực tế”, chứ không thể hiểu “theo cái nghĩa mà đáng lẽ nó phải có theo nguồn gốc từ nguyên của nó” [21].

Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng trong một ngôn ngữ nước ngoài. Có người dựa theo ngữ pháp của một tiếng nước ngoài để phân tích, đánh giá một câu của tiếng Việt: đó là một sai lầm ấu trĩ. Nhưng nếu với những từ mượn, mà dựa theo “từ nguồn gốc” trong tiếng nước ngoài để xác định âm và nghĩa của nó thì sao? Có người cho rằng “có nhiều chữ Hán, tục đọc sai lầm như huyễn đọc ảo..., thống kế đọc thống kê, uỷ mĩ đọc uỷ mị... nay... [cần phải] cố gắng sửa lại.” [22] Và người ta cho rằng nói thống kê, thông qua, ảo tưởng, trú ngụ là “sai”, phải thống kế, thông quá, huyễn tưởng, trụ ngụ mới “đúng”! Sự máy móc dựa vào tiếng Hán đã làm đảo ngược đúng, sai thực tế trong tiếng Việt. Sự thật là khi chúng ta mượn một từ của tiếng nước ngoài, thì với một ý nghĩa nào đó, chúng ta đã “tạo” ra một từ mới của ta: từ của tiếng Việt này sẽ có một “đời sống” riêng của nó, có thể có những biến đổi về âm, nghĩa, cách dùng, như những từ khác của tiếng Việt, theo yêu cầu của tiếng Việt, và có khi theo những con đường phức tạp và đầy mâu thuẫn, kết quả làm cho mối liên hệ giữa nó với “từ nguồn gốc” trong tiếng nước ngoài chỉ có thể ngày càng bớt chặt chẽ đi (bản thân “từ nguồn gốc” này trong tiếng nước ngoài cũng có thể có những biến đổi, theo một con đường phát triển khác hẳn). Hủ hoá là một từ mới mượn gần đây của tiếng Hán. Bên cạnh cái nghĩa “hư hỏng, biến chất, sa đoạ”, dựa trên nghĩa trong tiếng Hán (“thối nát”), nó nhanh chóng có thêm một nghĩa mới: “có quan hệ nam nữ bậy bạ, bất chính”. Nghĩa mới này là nghĩa thường dùng hiện nay; nó có liên hệ với nghĩa cũ, nhưng là một nghĩa không hề có trong tiếng Hán. Dùng hủ hoá trong tiếng Việt với nghĩa như vậy, phải chăng là sai? Tìm hiểu nguồn gốc của một từ mượn có thể giúp ta hiểu sâu thêm về âm hoặc nghĩa của từ, nhưng nếu muốn dựa vào đó để “uốn nắn” lại âm, nghĩa, cách dùng hiện tại của từ thì là một việc làm nhiều khi vô ích và trái lịch sử.

Chúng ta trở lại vấn đề: vậy nên căn cứ vào đâu để đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, để phân rõ đúng và sai, trong sáng và không trong sáng?

Trong đời sống hằng ngày, khi vợ chồng, mẹ con, bạn bè thân thiết nói chuyện với nhau, chắc ít ai nghĩ đến cái “đúng”, cái “sai” trong ngôn ngữ. Nhưng khi một nhà văn sáng tác truyện, một nhà khoa học viết sách, một thầy giáo giảng bài, một cán bộ chính trị nói trước quần chúng đông đảo, thì nhất định vấn đề đúng hoặc sai, trong sáng hoặc không trong sáng của ngôn ngữ phải được đặt ra. Tại sao vậy? Tại vì trong những trường hợp này, chức năng của ngôn ngữ đã được nâng cao, ngôn ngữ được dùng làm một công cụ văn hoá. Ngôn ngữ được sử dụng ở đây không phải để diễn đạt những cái chỉ có ý nghĩa nhất thời, nói rồi có thể quên đi giữa đôi ba người, mà là để diễn đạt đời sống văn hoá tinh thần, những tư tưởng, tình cảm quý giá, những gì quan trọng, có thể cần nói cho nhiều người, những người đó có thể ở gần mà cũng có thể ở xa, có thể là quen biết mà cũng có thể không hề quen biết, có thể thuộc thế hệ đương thời mà cũng có thể thuộc những thế hệ mai sau. Chức năng công cụ văn hoá đòi hỏi ngôn ngữ phải có tính thống nhất, tính toàn dân, khắc phục những sự sai khác bất tiện giữa các địa phương, các lớp người, các nghề nghiệp; đồng thời phải có tính ổn định, khắc phục những biến đổi bất thường và không cần thiết. Nó cũng đòi hỏi ngôn ngữ phải được nâng cao, đủ phong phú và tinh xác để có thể diễn đạt mọi tư tưởng tinh tế, diễn tả mọi tình cảm tế nhị. Khi ngôn ngữ đã được nâng lên thành ngôn ngữ toàn dân thống nhất, ổn định, tinh xác, phong phú, làm công cụ văn hoá của dân tộc thì đó là ngôn ngữ văn học (ngôn ngữ tiêu chuẩn) dân tộc, như vẫn thường gọi, hay đúng hơn là ngôn ngữ văn hoá [23]; ngôn ngữ văn hoá dân tộc có hệ thống chuẩn mực [24] của nó; chuẩn mực trong ngôn ngữ là cái được mọi người hoặc ít nhất là một số khá đông thừa nhận, số khá đông ấy không nhất thiết phải là đa số, nhưng phải gồm số lớn những người có uy tín và ảnh hưởng về mặt văn hoá, được coi là mẫu mực về mặt ngôn ngữ. Như vậy, cái chuẩn mực là cái nếu tạm thời chưa được đại đa số thừa nhận, thì phải càng ngày càng được nhiều người thừa nhận hơn, có triển vọng sẽ được mọi người hoặc đại đa số thừa nhận. Cho nên xác định chuẩn mực của ngôn ngữ, thì phải nhìn cái hướng phát triển [25]. Chuẩn mực có thể chỉ phương tiện ngôn ngữ (âm; từ...), mà cũng có thể chỉ quy tắc. Nghĩa là chúng ta nói có những âm, những từ chuẩn mực, cũng như nói có những cách phát âm, cách dùng từ chuẩn mực. Như vậy, chuẩn mực xác định cách phát âm, cách dùng từ, cách kết hợp từ, đặt câu; có chuẩn mực ngữ âm, chuẩn mực từ vựng, chuẩn mực ngữ pháp, chuẩn mực tu từ. Chuẩn mực là căn cứ của cái đúng. Nó bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định của ngôn ngữ văn hoá.

Ngôn ngữ văn hoá hình thành và phát triển do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền văn hoá dân tộc, và do hoạt động ngôn ngữ có ý thức của con người. Ngôn ngữ văn hoá biểu hiện sự tự giác của con người trong việc sử dụng ngôn ngữ, ý thức trau dồi lời ăn tiếng nói, hướng tới cái mà con người cho là hay, đẹp, trong sáng trong ngôn ngữ, ý thức nắm ngôn ngữ và can thiệp vào sự phát triển của nó. Khái niệm sự trong sáng gắn liền với khái niệm ngôn ngữ văn hoá. Nói sự trong sáng của tiếng Việt, tức là nói sự trong sáng của tiếng Việt văn hoá. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt gắn liền với việc xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hoá, và là một mặt - quan trọng, chủ yếu - của việc xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hoá. Có xác định những chuẩn mực của tiếng Việt văn hoá thì mới có cơ sở không những để phân rõ đúng và sai, mà còn để phân rõ trong sáng và không trong sáng trong tiếng Việt. Và ngược lại, muốn xác định tốt những chuẩn mực của tiếng Việt văn hoá thì phải chú ý đầy đủ yêu cầu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm sao cho những chuẩn mực của tiếng Việt văn hoá không những bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định, mà còn bảo đảm tính trong sáng của nó.

Như vậy, chuẩn mực là khái niệm trung tâm trong vấn đề giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ.

Chuẩn mực ngôn ngữ là một khái niệm phức tạp, đầy mâu thuẫn. Sự xác định và tồn tại của chuẩn mực phụ thuộc không những vào những yếu tố “bên trong” ngôn ngữ, vào đặc điểm kết cấu, truyền thống lịch sử, quy luật phát triển nội bộ của mỗi ngôn ngữ, mà còn phụ thuộc khá nhiều vào những yếu tố bên ngoài của ngôn ngữ: vào đặc điểm phát triển của mỗi xã hội, điều kiện tồn tại của mỗi ngôn ngữ văn hoá, thành phần của những người nắm ngôn ngữ văn hoá, v.v., những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự đánh giá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ. Cần nghiên cứu chuẩn mực của ngôn ngữ một cách toàn diện. Nhưng đến nay, trong lí luận ngôn ngữ học, vấn đề này chưa được nghiên cứu mấy.

Chuẩn mực là cái gì ít nhiều có tính chất bắt buộc. Yêu cầu đối với mọi người sử dụng ngôn ngữ văn hoá là phải theo các chuẩn mực, không được vô cớ đi chệch. Nhưng “mức độ bắt buộc và phạm vi tác động của các chuẩn mực” [26] không như nhau. Có những chuẩn mực xác định những đặc trưng cơ bản của một ngôn ngữ, những chuẩn mực này vững chắc nhất, lâu bền nhất, được mọi người thừa nhận, phạm vi tác động rất rộng, mức độ bắt buộc rất cao: có thể gọi đó là những chuẩn mực đặc trưng của ngôn ngữ. Bên cạnh, hay nói đúng hơn là trên cơ sở những chuẩn mực đặc trưng, có những chuẩn mực xác định những đặc điểm của bản thân ngôn ngữ văn hoá, xác định cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ văn hoá. Có thể gọi đó là những chuẩn mực văn hoá. Chuẩn mực văn hoá được những người hoạt động văn hoá, và trước tiên là các nhà văn lớn, xây dựng một cách có ý thức. Nói, viết tiếng Việt mà sai lệch những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt thì lời nói câu văn không phải Việt Nam nữa. Còn nếu sai chệch những chuẩn mực văn hoá, thì lời nói câu văn dù có vẻ rất Việt Nam, vẫn bị đánh giá là “không tốt”, “không văn hoá”. Quan niệm như vậy thì biết nói và biết nói “tốt” là hai việc khác nhau. Ai cũng học để biết nói, một cách tự nhiên, từ ngày còn ở trong nôi, nhưng muốn biết nói “tốt”, biết sử dụng ngôn ngữ văn hoá, thì phải khó khăn hơn, phải qua học tập, thường bắt đầu là ở nhà trường, phải có công phu trau dồi lời nói, phải nắm được các chuẩn mực của ngôn ngữ văn hoá, có ý thức tự giác trong việc vận dụng các chuẩn mực. Trong hệ thống chuẩn mực, như ở trên đã nói, chuẩn mực đặc trưng là cơ sở, sai chệch chuẩn mực đặc trưng thì chuẩn mực văn hoá cũng mất chỗ dựa. Lời nói câu văn mà đã không Việt Nam thì đâu có cơ sở để thành lời nói câu văn “tốt”. Cho nên điều quan trọng trước tiên là phải tôn trọng các chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Đó là yêu cầu sơ đẳng. Rải rác trong một số sách nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của một số học giả người nước ngoài, có thể nhặt những câu thí dụ ngô nghê, không Việt Nam, đại loại như:

- Chúng ta đi xem lễ. Họ họ đều vui, ta ta cũng thích.
- Công việc đó tôi đã đã nói rồi. [27]

Người nước ngoài khó nắm được sâu sắc, toàn diện những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Một sai lầm dễ mắc là dựa theo một kiểu tạo từ, kết hợp từ hoặc đặt câu nào đó của tiếng Việt, rồi suy rộng ra một cách máy móc: dựa theo những kiểu “người người đều vui”, “ai ai cũng thích”, “tôi thường thường đi chợ”, mà tưởng lầm rằng có thể nói “họ họ đều vui”, “ta ta cũng thích”, “tôi đã đã nói rồi”. Nhưng dù sao, sai lầm này ở người nước ngoài thì cũng không đáng chê trách lắm. Đáng chê trách hơn là người Việt Nam chúng ta lại đi viết những câu văn không được Việt Nam kia! Thí dụ:

- Đang lúc ấy, phóng ngựa đến, tên quản lí Phi líp... (Sách).
- Đây là Hoàng, em ruột của Toàn, người mà đã biết. (Sách).
- Nguyên nhân chính đưa đến thắng lợi là được sự soi sáng bởi nghị quyết của Trung ương. (Báo).

Thật ra, đã là người Việt Nam, nói tiếng Việt hằng ngày từ nhỏ, thì ai mà không nắm được những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt? Khó mà nghe có những lời nói “không Việt Nam” ở miệng những người dân Việt Nam bình thường. Những câu không Việt Nam thường chỉ gặp dưới ngòi bút của một số người có văn hoá, ít nhiều có làm quen với một ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Việt văn hoá là tiếng Việt đã được nâng cao: nói nâng cao nghĩa là dựa trên những đặc trưng cơ bản của tiếng Việt, giữ gìn, phát huy những cái tốt vốn có, khắc phục những cái không tốt. Nhưng có khi chúng ta hiểu sự nâng cao thành một sự “gia công” giả tạo, thậm chí đôi khi, ít hay nhiều, có ý thức hay vô ý thức, chúng ta dựa vào những chuẩn mực của một ngôn ngữ văn hoá nước ngoài nào đó mà chúng ta quen thuộc, thoát li những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt (nếu có thể nói như vậy). Ngôn ngữ văn hoá mà không dựa vững chắc trên cơ sở ngôn ngữ thường ngày của nhân dân thì có nguy cơ thành giả tạo và què quặt, có thể đầy dẫy những từ ngữ và lối nói không tự nhiên, “bác học”, khó hiểu. Một ngôn ngữ văn hoá như vậy thật ra chỉ là công cụ văn hoá trong tay một nhóm trí thức thượng lưu; đối với quần chúng lao động bình thường, nó khó hiểu, khó nắm, khó sử dụng. Là công cụ văn hoá, nhưng nó lại làm cho văn hoá trở thành “xa lạ” với người dân bình thường. Thời phong kiến, ở nước ta, giai cấp thống trị không dùng tiếng Việt, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân, mà dùng tiếng Hán làm công cụ văn hoá, độc quyền trong tay chúng, trong suốt hàng bao thế kỉ. Thảng hoặc có dùng đến tiếng Việt, thì đó lại là một thứ tiếng Việt lai Hán. Để xướng danh những người thi đỗ, đáng lẽ nói rất đơn giản: “Đỗ đầu cử nhân là Đào Vân Hạc, hai mươi ba tuổi, quê làng Đào-nguyên, tỉnh Sơn-tây”, thì ngày xưa người ta nói:

“Cử nhân đệ nhất danh Đào Vân Hạc! Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn-tây tỉnh, Đào-nguyên xã!” [28]

Muốn cho quần chúng nhân dân làm chủ văn hoá, nhanh chóng nâng cao trình độ văn hoá của mình, thì không những phải dùng ngôn ngữ dân tộc làm công cụ văn hoá, mà còn phải dân chủ hoá ngôn ngữ văn hoá, làm cho nó gần ngôn ngữ thường ngày của nhân dân. Vì vậy, yêu cầu chống “bệnh dùng chữ” - như Hồ Chủ tịch thường nhắc - “dân tộc hoá lời nói và câu văn” [29], “giữ gìn bản sắc tinh hoa, phong cách của tiếng ta” [30], là xuất phát từ lòng yêu dân tộc, yêu nhân dân, yêu tiếng mẹ đẻ, và từ yêu cầu của cách mạng tư tưởng và văn hoá ở nước ta hiện nay. Chúng ta quan niệm một tiếng Việt trong sáng trước tiên phải là một tiếng Việt rất “Việt Nam”, dễ nghe, dễ hiểu đối với người dân Việt Nam bình thường và dễ làm rung động trái tim của họ. Cho nên vấn đề nghiên cứu, nắm vững, tôn trọng, giữ gìn, phát huy những đặc trưng của tiếng Việt là vấn đề phải được đề ra hàng đầu.

Nhưng mặt khác, một ngôn ngữ văn hoá, dầu gần ngôn ngữ thường ngày bao nhiêu, cũng vẫn khác ngôn ngữ thường ngày: nó là ngôn ngữ đã được nâng cao, nghĩa là đã khắc phục những cái gì có tính chất thuần tuý địa phương và những cái gì có tính chất ngẫu nhiên, nhất thời, tuỳ tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày. Trong ngôn ngữ thường ngày, có người nói:

- Bên cạnh anh ta là một đống hái và liềm để rất vô tổ chức.
- Giờ có nhiều anh em thợ đi học..., họ họcgiờ nhanh lắm [31].

Những cách nói như vậy tuy cũng Việt Nam đấy, nhưng không hoàn toàn hợp với chuẩn mực của tiếng Việt văn hoá hiện đại [32]. Trong tiếng Việt văn hoá hiện đại, cách nói thông thường là:

- Bên cạnh anh ta là một đống hái và liềm để rất lộn xộn.
- Bây giờ có nhiều anh em thợ đi học...

Chúng ta quan niệm một tiếng Việt trong sáng phải là một tiếng Việt không những rất “Việt Nam”, mà còn rất “văn hoá”. Nói, viết một cách giả tạo là không tốt; nhưng nói, viết một cách dễ dãi, tuỳ tiện cũng là không nên. Cần giản dị, tự nhiên, nhưng tự nhiên không phải có nghĩa là tự nhiên chủ nghĩa. Trong nhiều cách nói, hằng ngày nghe trong quần chúng, chúng ta phải biết chọn những cách nói tốt nhất, giản dị, rõ ràng, trong sáng, đẹp, và đôi khi còn phải biết trau dồi chút ít cho nó tốt hơn nữa, có như vậy mới nâng cao được ngôn ngữ của chúng ta. Nếu chỉ hoàn toàn “nói sao viết vậy” thì chưa hẳn đã tốt. Cần tôn trọng những chuẩn mực đặc trưng, nhưng trên cơ sở đó, lại cần xây dựng những chuẩn mực văn hoá.

Mặt khác, ngay khi sử dụng ngôn ngữ thường ngày, cũng nên chú ý tránh tuỳ tiện, cẩu thả. Tuy rằng giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ văn hoá bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định, nhưng khoảng cách ấy không phải là một bức tường. Cái tuỳ tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày có thể ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn hoá. Cho nên cũng cần trau dồi cả ngôn ngữ thường ngày, nâng nó lên gần ngôn ngữ văn hoá.

Chuẩn mực là cái gì có tính chất bắt buộc, thì đồng thời cũng có tính chất ổn định. Đã là chuẩn mực, thì tức là được nhiều người - nếu không phải là mọi người - thừa nhận, trong một thời gian không phải ngắn. Ngôn ngữ được nâng lên thành ngôn ngữ văn hoá, làm công cụ giao tiếp giữa toàn dân tộc qua các địa phương và các thế hệ, thì càng đòi hỏi chuẩn mực phải có tính ổn định cao. Nhưng mặt khác, ngôn ngữ văn hoá cũng lại phát triển không ngừng, do yêu cầu phát triển của xã hội và của tư duy; sự đánh giá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ cũng thường có thay đổi, nhất là trong những thời kì xã hội có biến đổi lớn. Do đó, tính ổn định của chuẩn mực cũng chỉ là tương đối. “Trong lịch sử ngôn ngữ văn học [ngôn ngữ văn hoá] nói chung có hai xu thế phát triển mâu thuẫn với nhau: 1) chiều hướng muốn giữ và củng cố những chuẩn mực đang tác động, và 2) chiều hướng sửa đổi những chuẩn mực đã hình thành [33]. Chuẩn mực là cái quen dùng [34], mà thói quen thì không dễ gì vứt bỏ. Ngôn ngữ dựa vào thói quen của hàng vạn, hàng triệu người. Trong lĩnh vực ngôn ngữ, tính bảo thủ là phổ biến, không ít người trong các lĩnh vực khác thì mạnh bạo đổi mới, nhưng trong lĩnh vực này thì lại nệ cũ, thích cổ. Chuẩn mực khi đã hoàn thành thì thường có sức sống mạnh mẽ, mà nó càng sống lâu bao nhiêu thì sức sống dai của nó càng tăng thêm bấy nhiêu, nó càng bám rễ sâu vào thói quen của các lớp người, các thế hệ. Những chuẩn mực đặc trưng vì thế là những chuẩn mực rất vững chắc. Nhưng chuẩn mực mới lại có sức mạnh của cuộc sống. Chuẩn mực mới hình thành, suy đến cùng là do đòi hỏi của cuộc sống phát triển không ngừng, và ở đây cũng vậy, cuối cùng cuộc sống thắng, cái cũ bị đẩy lùi, cái mới phong phú hơn được củng cố, nhưng nhiều khi phải qua một thời gian đấu tranh giằng co, trong thời gian ấy, cũ, mới cùng tồn tại, và sự đánh giá của xã hội không nhất trí. Cái cũ ở đây thường không rút lui một cách đơn giản: nó thường cố bám lấy trận địa của nó, chỉ nhường từng miếng đất một, cố thủ trên những miếng đất cuối cùng, và cũng có những miếng đất trên đó mới và cũ giằng co kéo dài, “chưa ai thắng ai”: như vậy cái cũ là chuẩn mực trong một số trường hợp, cái mới là chuẩn mực trong một số trường hợp khác, và có những trường hợp cũ và mới đều là chuẩn mực. Mề đay, thông ngôn trước đây là những từ thông dụng, và đã có lúc chúng ta có nói đến những “mề đay cứu quốc” [35]. Ngày nay, huân chương, phiên dịch được dùng phổ biến; nhưng riêng khi nói về địch, nguỵ thì mề đay, thông ngôn cũng vẫn còn được dùng. Trước kia lính là từ thông dụng, nhưng từ khi có thêm bộ đội, thì có sự phân biệt: bộ đội của ta, lính của địch, nguỵ. Tuy vậy, trong những trường hợp nào đó, lính lại vẫn có thể được dùng để chỉ cả bộ đội của ta nữa, như khi nói “đời người lính”, “lính cụ Hồ” (có thể nói “bộ đội cụ Hồ”). Ngày xưa, để tỏ lòng tôn kính, chúng ta nói Nguyễn tiên sinh, Trần tướng công; sau Cách mạng Tháng Tám, một dạo chúng ta còn nói Huỳnh bộ trưởng, Võ đại tướng. Ngày nay mà nói như vậy thì rõ ràng là cổ, kiểu cách. Nhưng trừ một trường hợp: chúng ta có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà cũng có thể nói Hồ Chủ tịch, nhưng thường nói Hồ Chủ tịch hơn, cách nói này đối với chúng ta đã quen quá rồi, nó vừa tỏ được lòng kính yêu của chúng ta đối với lãnh tụ của dân tộc, vừa có vẻ tự nhiên và gần gũi; và vì vậy cách nói Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành có màu sắc trang trọng đặc biệt.

Trong đấu tranh giằng co giữa cái cũ và cái mới cũng có khi cái cũ rút lui, nhưng chờ có dịp lại xuất hiện: phu nhân, ái nữ là những từ đã cũ lắm, chúng ta hầu như đã quên đi, nhưng một lúc nào đó, do đòi hỏi của “phép lịch sự” ngoại giao những từ mà ít ai còn ưa ấy bỗng lại được nhắc đến.

Trong ngôn ngữ, cái mới cũng thường không hình thành một cách đơn giản. Không phải tất cả những cái gọi là “mới” đều có sức sống, có những cái sinh ra chỉ để mà chết yểu. Chủ nghĩa tu chính, hoả tiễn, thuỷ quân lục chiến, phụ nữ ba đảm nhiệm chỉ tồn tại một thời gian ngắn, để rồi nhường chỗ cho chủ nghĩa xét lại, tên lửa, lính thuỷ đánh bộ, phụ nữ ba đảm đang. Có khi trong cùng một trường hợp mà có nhiều cái mới được tạo ra, cùng tồn tại một thời gian, cho đến lúc nào xã hội có sự đánh giá, lựa chọn. Nhà giữ trẻ, nhà gửi trẻ, nhà trẻ, hay nhóm giữ trẻ, nhóm trẻ, đó là những tên gọi khác nhau hiện nay để chỉ cùng một tổ chức mới ở xã hội chúng ta [36]. Cùng là vùng tạm bị địch chiếm đóng, mà cho đến nay có khi chúng ta gọi là vùng địch tạm chiếm có khi gọi là vùng tạm bị chiếm, và cũng có người gọi đơn giản hơn: vùng tạm chiếm.

Như vậy, do có đấu tranh giằng co giữa cái cũ và cái mới, cũng như do có sự tồn tại của nhiều cái mới được tạo ra cùng một lúc, nên trong ngôn ngữ, bên cạnh những chuẩn mực đã rõ ràng (và đây là phần rất lớn), bao giờ cũng có, ít hoặc nhiều, những chuẩn mực còn chưa rõ ràng, những trường hợp mà xã hội đang còn lưỡng lự trong việc lựa chọn. Trong những trường hợp này, hoạt động ngôn ngữ tự giác của con người có thể có tác dụng tích cực. Giữa nhà giữ trẻ, nhà gửi trẻ, nhà trẻ, thì nhà trẻ tốt hơn vì gọn hơn (so sánh với vườn trẻ). Giữa vùng địch tạm chiếm, vùng bị tạm chiếm, vùng tạm chiếm, thì vấn đề có phần phức tạp, vì ở đây có người có thể cho rằng cái “gọn” hơn không hẳn đã là cái tốt hơn: nói vùng tạm chiếm phải chăng có thể hàm một cái nghĩa không được rõ ràng?

Vì có những hiện tượng phức tạp nói trên, nên ranh giới giữa chuẩn mực và không chuẩn mực, giữa đúng và sai là một ranh giới tương đối. “Mọi ranh giới trong tự nhiên và trong xã hội đều di động và quy ước đến một mức nào đó” [37], lời ấy của Lê nin cũng hoàn toàn đúng ở đây. Bởi vì quan hệ giữa cái chuẩn mực và cái không chuẩn mực, giữa cái đúng và cái sai là một quan hệ biện chứng. “Phép biện chứng cũng không biết có những hard and fast lines [đường phân ranh giới dứt khoát], không biết có cái “hoặc thế này hoặc thế kia” vô điều kiện và ở đâu cũng đúng..., bên cạnh cái “hoặc thế này... hoặc thế kia”, nó cũng biết có cái “vừa là thế này... vừa là thế kia”“ [38]. Vì thế, “không nên xem những mặt đối lập là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, hoạt động, chuyển hoá lẫn nhau” [39]. Cái đúng trong ngôn ngữ là cái đúng sinh động. Đúng, sai là có điều kiện. Cái đúng trong trường hợp này, hoàn cảnh này có thể không đúng trong trường hợp khác, hoàn cảnh khác; cái đúng hôm qua có thể không còn là đúng nữa hôm nay. Và ngược lại, cái không đúng ở chỗ này lại có thể là đúng ở một chỗ khác. Bệnh sính nói chữ là không tốt, và có ai kiên quyết chống cho bằng Hồ Chủ tịch, nhưng chính Hồ Chủ tịch đôi khi cũng “nói chữ”: “Thực túc thì binh cường, cấy nhiều thì khỏi đói” [40]. Nói chữ thường là không nên, nhưng “nói chữ” như Hồ Chủ tịch, thật đúng chỗ, đúng lúc, thì lại là tốt.

Chuẩn mực có tính tương đối, nên chỉ tác động đến một số hiện tượng nhất định, trong những điều kiện nhất định; nếu đem tuyệt đối hoá, áp dụng cho mọi hiện tượng cùng loại hoặc trong mọi phong cách thì khó tránh sai lầm. Trong tiếng Việt hiện đại, có hiện tượng gọi là “nói tắt”. Đánh giá hiện tượng này, phải xét trường hợp cụ thể, và cũng phải tuỳ theo phong cách. Người cận thị mà nói thành người cận thì không nên; nhưng cửa hàng kính cận, kính viễn mà đổi thành cửa hàng kính cận thị, kính viễn thị, thì vị tất đã cần thiết. Mi-li-mét là tên gọi chính thức của đơn vị chiều dài bằng 1/1000 của mét; nhưng không phải bất cứ lúc nào cũng phải nói đầy đủ “mi-li-mét”, mà không thể nói gọn hơn: li. Đại bác 105 mi-li-mét, trong nhiều trường hợp, có thể nói đại bác 105 li, thậm chí đại bác 105. Lời sau đây của một chiến sĩ, nói đang giữa một trận đánh:

- Trăm linh sáu đấy... Tám mốt đấy... Đạn bốn mươi li... lại năm bảy li... [41]

mà nếu chữa lại cho “đầy đủ” hơn:

- Một trăm linh sáu mi-li-mét đấy... Tám mươi mốt mi-li-mét đấy... Đạn bốn mươi mi-li-mét..., lại năm mươi bảy mi-li-mét...

thì sao khỏi trở thành không hiện thực? Hiện tượng “nói tắt” phát triển nhiều hơn trong ngôn ngữ hằng ngày, trong khẩu ngữ, và thường từ đó mà vào trong ngôn ngữ văn hoá. Ngôn ngữ văn hoá, với những phong cách của nó, sàng lọc, tiếp thu những từ, ngữ nói tắt cần thiết; nhưng mặt khác, cũng cần ngăn ngừa sự “xâm nhập” của những từ, ngữ “nói tắt” do cẩu thả, như phê tự phê (phê bình tự phê bình), cũng như của những từ, ngữ “nói tắt” có thể dễ dàng gây hiểu lầm, như tuyên bố (kết hôn).

Không nên xem chuẩn mực ngôn ngữ thành một cái gì cứng đờ, nên tránh những sự đánh giá cứng nhắc về những hiện tượng ngôn ngữ. Có lần, nhận xét về một bài báo nào đó, Lê nin cho rằng viết “Пара лет [para let = vài năm] là không đúng tiếng Nga”. Theo Lê nin, từ para trong tiếng Nga có nghĩa là “một cặp, một đôi”, đem dùng với nghĩa là “vài ba” như trong para let là không đúng. Nhưng về sau, chính Lê nin lại đã nhiều lần dùng từ para với cái nghĩa “vài ba” như vậy, để diễn đạt những ý “vài ngày”, “vài tháng”, v.v. [42]. Cái nghĩa này của từ para đã được dùng phổ biến, và Lê nin, không câu nệ, đã thay đổi ý kiến của mình.

- Trong lời nói sinh động hằng ngày, luôn luôn có những chuẩn mực cũ bị phá hoại, những chuẩn mực mới xuất hiện và dần dần được củng cố. Cái đúng cũ nhường chỗ cho cái đúng mới. Cái đúng mới ấy không phải là một cái gì thoát li cái đúng cũ, nó hình thành trên cơ sở cái đúng cũ, nó là cái đúng cũ phát triển thành sinh động hơn, phong phú hơn. Mặt khác, trong cái đúng mới, có một số yếu tố thoát thai từ trong những cái gọi là “không đúng” cũ, bởi vì cái mới có khi nảy sinh dưới hình thức một sự đi chệch chuẩn mực. Chính trong những cái gọi là “không đúng” ngày nay, có những yếu tố chuẩn bị cho một cái đúng nào đó của ngày mai. Những yếu tố ấy là những yếu tố tích cực, cần phân biệt với những yếu tố tiêu cực, với những cái không đúng thật sự. Cho nên giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ thì phải bảo vệ những đặc trưng của nó, bảo vệ những chuẩn mực sẵn có, cái đúng sẵn có, đấu tranh chống những hiện tượng sai chệch chuẩn mực một cách vô cớ, do cẩu thả hoặc do thiếu những hiểu biết cần thiết về ngôn ngữ. Do thường nói phát triển đảng, kết nạp đảng viên, mà có người nói thành kết nạp đảng, phát triển đảng viên. Do quả phụ nghĩa là đàn bà goá, mà có người nói nhầm là goá phụ. Đó là những hiện tượng sai chệch chuẩn mực không tốt. Nhưng cũng cần phân biệt những hiện tượng này với những cái mà chúng ta cho là “sai”, nhưng kì thật là những chuẩn mực đã được xác định từ lâu rồi. Nhân dân ta từ lâu nói làm tròn nhiệm vụ, tiếp thu phê bình, và nói như vậy không có gì là không tốt, bất tiện. Nhưng gần đây, trên báo chí có xu hướng muốn chữa lại là làm trọn nhiệm vụ (cho rằng “trọn” mới “có nghĩa”), tiếp thụ phê bình (cho rằng “tiếp thụ” mới đúng, theo như trong tiếng Hán). Một sự uốn nắn như vậy dầu có thực hiện được cũng sẽ không mang lại một lợi ích gì thiết thực.

Một mặt khác, cũng là quan trọng, không thể thiếu, của việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ, là trên cơ sở bảo vệ những đặc trưng của ngôn ngữ, lại phải ủng hộ những cái mới tích cực, “ủng hộ những chuẩn mực mới đã chín muồi ở nơi nào mà sự bảo thủ vô lí ngăn cản nó xuất hiện” [43]. Ở đây, đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói, đòi hỏi người nghiên cứu và người sử dụng ngôn ngữ “phải chủ động, tích cực, nhạy cảm” [44]. Sự nhạy cảm rất là cần thiết, để vừa kịp thời đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, vừa kịp thời phát hiện và ủng hộ những hiện tượng tích cực. Nhưng cái tiêu cực và cái tích cực trong ngôn ngữ không phải lúc nào cũng dễ phân biệt; đôi khi phải chờ sự thử thách của thời gian, của cuộc sống, chứ không thể vội vàng kết luận. Không thể “để mặc ngôn ngữ”. Nhưng nếu tuyệt đối hoá những chuẩn mực sẵn có, khe khắt với bất cứ sự đi chệch nào, định chuẩn mực một cách chủ quan, vội vàng, cứng nhắc, gò ép, thì sẽ ngăn cản sự hình thành những chuẩn mực mới, ngăn cản sự phát triển của ngôn ngữ, và như thế cũng là sai lầm.

Nhiều chuẩn mực cùng song song tồn tại là điều không thể tránh. Đó cũng là điều kiện cần thiết để cho chuẩn mực mới có thể hình thành, cho ngôn ngữ có thể phát triển. Những hình thức đồng nghĩa cùng tồn tại nói chung là điều kiện có lợi, là biểu hiện sự phong phú, khả năng dồi dào của ngôn ngữ. Để diễn đạt cùng một ý, có thể có nhiều cách nói khác nhau, mỗi cách thích hợp với một hoàn cảnh riêng. Cùng một ý “thống nhất Tổ quốc”, nhưng tuỳ trường hợp chúng ta có thể nói thống nhất Tổ quốc, thống nhất đất nước, thống nhất Nam - Bắc, thống nhất nước nhà, hay đơn giản hơn: thống nhất (như trong đấu tranh thống nhất, ngày thống nhất, v.v.). Có người băn khoăn: không biết nên viết Tổ quốc ta, hay Tổ quốc của ta, quân và dân miền Bắc, hay quân, dân miền Bắc? Phải chăng nói Tổ quốc của ta thì “thừa” (thừa của), còn nói thống nhất không thôi thì thiếu? Nhưng ngôn ngữ chúng ta dùng đâu có phải là thứ “ngôn ngữ xác định như một đại số” [45]? Không nên hiểu sự “thừa, thiếu” trong ngôn ngữ như sự “thừa, thiếu” trong toán học. Nếu theo phép giản hoá trong đại số mà viết gọn lại cái câu sau đây:

“Sao mà cái đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế! [46] thành:

“Sao đời tù túng, chật hẹp, bần tiện thế!

thì đúng vẫn đúng, nhưng còn gì là câu của nhà văn!

Bên trên cái đúng, cần phải đạt đến cái hay. Mà muốn vậy thì phải có nhiều cách nói khác nhau, để cho người sử dụng ngôn ngữ có quyền lựa chọn. Chính sự lựa chọn ấy biểu hiện cá tính, biểu hiện phong cách.

Nhưng lắm khi người sử dụng ngôn ngữ cảm thấy hình như ngôn ngữ vẫn nghèo nàn. Bởi vì một ngôn ngữ dù giàu có, phong phú bao nhiêu, cũng làm sao mà phong phú cho bằng thế giới, đời sống, tư tưởng, tình cảm con người, những cái mà ngôn ngữ phải diễn đạt, diễn tả! Cùng một ý, nhưng thường có nhiều khía cạnh khác nhau. Lắm lúc con người cảm thấy phải tìm, phải nghĩ ra một cách nói mới để diễn đạt cho thật đúng, cho sát, cho tốt những ý nghĩ, tình cảm của mình, nghĩa là phải sáng tạo.

Người nào sử dụng ngôn ngữ cũng đều ít nhiều có sáng tạo. Trong ngôn ngữ thường ngày, sáng tạo thường là tự phát, do đòi hỏi nhất thời của việc diễn đạt tư tưởng, tình cảm ngay trong một lúc nào đó. Trong ngôn ngữ văn hoá, sự sáng tạo thường có ý thức hơn là kết quả của một công phu suy nghĩ, tìm tòi, nhiều khi không phải chỉ trong chốc lát.

Ngôn ngữ văn hoá xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ thường ngày, qua một quá trình lựa chọn, sàng lọc: nhìn khía cạnh ấy, thì so với ngôn ngữ thường ngày, hình như ngôn ngữ văn hoá có phần nào “nghèo nàn” hơn. Nhưng do chức năng của nó, do nó được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động văn hoá, hoạt động trí tuệ của con người, trong rất nhiều phong cách khác nhau, để diễn đạt rất nhiều cái mà những ngôn ngữ thường ngày không thể và không cần diễn đạt, nên về mọi phương diện đều đòi hỏi nó phải phong phú hơn ngôn ngữ thường ngày gấp bội.

Ngôn ngữ văn hoá là ngôn ngữ dùng trong văn học - nghệ thuật và trong khoa học. Phong cách nghệ thuật đòi hỏi tính sinh động phong phú, phong cách khoa học đòi hỏi tính chính xác cao. Để đáp ứng những đòi hỏi ấy, ngôn ngữ văn hoá phải có những cách diễn đạt phong phú, đa dạng, tinh tế hơn những cách diễn đạt của ngôn ngữ thường ngày. Ngôn ngữ văn hoá là ngôn ngữ đã được nâng cao do sự sáng tạo có ý thức của con người có văn hoá, những sáng tạo này trước hết nhằm nâng cao tính sinh động và tính chính xác của ngôn ngữ.

Tiếng Việt được sử dụng từ lâu trong thơ ca. Nhưng chỉ từ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, nghĩa là từ hơn nửa thế kỉ nay, nó mới dần dần được sử dụng trong khoa học cũng như trong mọi lĩnh vực khác của đời sống văn hoá. Dùng trong nhiều phong cách mới mẻ và phải diễn đạt nhiều nội dung mới, phong phú và đang mỗi ngày một phong phú thêm, tiếng Việt văn hoá đang chuyển mình mạnh từ mấy chục năm nay và trước mắt chúng ta. Nó đã và đang cải tiến nhiều cách diễn đạt cũ, tự tạo thêm và tiếp thu nhiều cách diễn đạt mới, trở thành uyển chuyển hơn, sáng sủa hơn, giàu đẹp hơn. Nó không những giàu thêm rất nhiều về từ, mà - quan trọng hơn nhiều - còn giàu thêm về kiểu tạo từ và về cách dùng từ; cách kết hợp từ cũng mạnh bạo hơn, vị trí của từ trong câu trở nên linh hoạt hơn, bên cạnh lối nói thuận, những lối nói đảo cũng được dùng nhiều hơn; nó cũng giàu thêm về kiểu câu, và bên cạnh những câu đơn giản thường là ngắn gọn, nó cũng dùng nhiều hơn những câu phức hợp, theo những kiểu khác nhau. Sau đây chỉ là một ít thí dụ về những cách dùng từ và những kiểu câu mới trong tiếng Việt văn học hiện đại:

- Hà Nội mít tinh lớn trong những ngày chống Mĩ.

- Đâu cần thanh niên , đâu khó có thanh niên.
(Khẩu hiệu của thanh niên).

- chủ nghĩa xã hội, thống nhất tổ quốc, lí tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên!
(Khẩu hiệu của thanh niên).

- Mặt y tối sầm những lo âu [47].

- Là một thế hệ anh hùng của thời đại anh hùng, trong bất cứ hoàn cảnh nào thanh niên ta cũng xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân, của Đảng, với sự giáo dục và chăm sóc ân cần của Hồ Chủ tịch [48].

Mặt khác, tiếng Việt hiện đại cũng đang cố gắng “chuyên hoá” - nếu có thể nói như vậy - một số cách diễn đạt, phân biệt với một số cách diễn đạt khác, tạo ra những kiểu “đối lập” trước không hề có, vươn tới một tính chính xác cao hơn, có thể không cần thiết trong phong cách thường ngày hoặc phong cách nghệ thuật, nhưng rất cần thiết trong phong cách khoa học và một số phong cách khác [49]. Đây là một yêu cầu lớn trong sự phát triển của tiếng Việt văn hoá hiện đại. Trong tiếng Việt, thường dùng trật tự của từ để diễn đạt các quan hệ ngữ pháp. Có những kiến trúc hoàn toàn giống nhau về hình thức, nhưng diễn đạt những ý khác nhau. Chúng ta so sánh:

- Bà mẹ Suốt là một bà mẹ anh hùng (bản thân bà mẹ là một anh hùng) và Bà mẹ Suốt là một bà mẹ chiến sĩ.

- Anh ấy có thể tin được (người ta có thể tin anh ấy được) và Anh ấy có thể làm được, hoặc Tôi có thể tin được.

Có những nhà văn viết:

- Liên về chợ [50] (Liên đi chợ về).

- Mười hai giờ trưa có kẻng về đồng [51] (nghỉ việc đồng về nhà).

Về chợ, về đồngkhông thể nói là không hợp chuẩn mực. Trong tục ngữ có: Mong như mong mẹ về chợĐi chợ thì chớ ăn quà, về chợ thì chớ rề rà ở trưa.

Những cách nói trên đây có thể có sự tế nhị về ý, uyển chuyển về lời, cần cho văn học - nghệ thuật, nhưng lại thiếu sự chính xác cần cho khoa học. Làm sao giải quyết mâu thuẫn ở đây? Đôi khi chúng ta cũng cảm thấy lúng túng trong một vài cách diễn đạt: tiếng Việt văn hoá hiện đại có cho phép nói: Mai tôi sẽ đến tìm hoặc sẽ gọi điện thoại cho anh, hoặc:Học tập, thi đua với những người tiên tiến hay không, hay là nhất thiết phải nói: Mai tôi sẽ đến tìm anh hoặc sẽ gọi điện thoại cho anh, Học tập những người tiên tiến, thi đua với họ? Vấn đề đặt ra là: làm sao cho ngôn ngữ của chúng ta uyển chuyển hơn nữa? Rõ ràng là do đòi hỏi phát triển của tiếng Việt văn hoá hiện đại, có nhiều chuẩn mực mới đang hình thành, đang phải được xây dựng. Tiếng Việt văn hoá đang hướng tới một sự trong sáng mới, một sự trong sáng cao hơn, một sự trong sáng không chỉ chuộng hình thức, mà còn chuộng nội dung, không chỉ theo nền nếp cũ, mà còn có sáng tạo, không đơn điệu mà phong phú, không cầu kì, mà giản dị, không ngưng đọng mà phát triển. Khái niệm trong sáng của ngôn ngữ là một khái niệm có tính lịch sử. Xã hội thay đổi, đời sống con người thay đổi, thì yêu cầu đối với ngôn ngữ và do đó cả quan niệm về sự trong sáng của nó cũng đổi khác. Quan niệm của chúng ta ngày nay về sự trong sáng của tiếng Việt không giống như quan niệm trước đây vài ba chục năm, càng không thể giống như quan niệm trước đây một vài thế kỉ.

Chúng ta quan niệm sự trong sáng của tiếng Việt là một sự trong sáng phải ngày càng được nâng cao, cho nên giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, chúng ta đồng thời coi trọng tất cả những cố gắng nhằm làm cho nó giàu đẹp thêm. Những cố gắng đó trước hết là những cố gắng phát hiện và phát huy những cái hay, đẹp vốn có của tiếng Việt, là những sáng tạo dựa trên vốn cũ của ngôn ngữ dân tộc. Những sáng tạo như vậy làm tăng sức sống của tiếng Việt. Chuẩn mực ngôn ngữ không phải là những cái “khuôn” cứng rắn. Trong phạm vi tuân theo các chuẩn mực, người sử dụng ngôn ngữ có một tự do rất lớn: tự do lựa chọn trong những cách diễn đạt của ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ nào cũng có những cách, những khả năng diễn đạt rất phong phú. Vì vậy nên nhiều người cùng sử dụng chung một ngôn ngữ, mà cách diễn đạt cụ thể ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau. “Những khả năng của sự diễn đạt cá nhân là vô tận. Ngôn ngữ là một công cụ diễn đạt hết sức uyển chuyển, có thể nói là uyển chuyển nhất... Ngôn ngữ sẵn sàng... thể hiện cá tính của người nghệ sĩ” [52]. Vận dụng các chuẩn mực, phát hiện những khả năng diễn đạt tiềm tàng của ngôn ngữ để tạo nên những giá trị diễn đạt mới, nhiều khi bất ngờ, đó là sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo.

Trong ngôn ngữ, sáng tạo không nhất thiết là tạo ra những từ mới. Dưới ngòi bút của những nhà văn có tài, có những từ rất thường được dùng một cách rất sáng tạo, như từ không trong câu sau đây:

“Họ chẳng có một tí gì. Đồ đạc không. Hòm xiểng không. Đồ ăn thức đựng không. Một cái bát nhỏ ăn cơm cũng không nốt. [53]

Đôi khi, có những sáng tạo táo bạo, vượt ra ngoài những chuẩn mực hiện có:

- “Kha nhìn bức tường dựng đứng. ít ra là tám chín thước cao. [54]

- “Hiên ngang Cu-ba. [55]

Thật ra, ngay những sáng tạo như thế, phân tích kĩ, thường cũng không phải là hoàn toàn thoát li những chuẩn mực hiện có của ngôn ngữ. Nguyễn Du cũng đã từng viết:

“Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.”
(Truyện Kiều)

Nhưng dù sao những cách diễn đạt trên đây cũng khác lạ những cách diễn đạt thông thường, và cũng có thể coi là hiện tượng đi chệch chuẩn mực hiện có. Nhưng sự đi chệch này là có ý thức, có cân nhắc, có lí do. Nếu sáng tạo mà chưa thành công, thì ít nhất cũng là một thí nghiệm. Chúng ta có thể tán thành hay không, nhưng nói chung không nên phản đối, vì đây là một mặt quan trọng của sáng tạo nghệ thuật, miễn là nghiêm túc, thì cần được trân trọng. “Tất nhiên, không có những nhà văn nào mà hoàn toàn không đi chệch các chuẩn mực, những nhà văn như vậy sẽ đáng chán vô cùng. Khi mà con người đã được bồi dưỡng để cảm biết cái chuẩn mực, thì con người cũng bắt đầu cảm thấy được tất cả cái hay, cái đẹp của hiện tượng đi chệch chuẩn mực một cách có lí do ở các nhà văn giỏi” [56].

Có những sáng tạo thành công được nhiều người bắt chước, thành phổ biến, được xã hội chấp nhận và trở thành chuẩn mực mới. Vùng trời mà Hồ Chủ tịch đã dùng thay cho không phận, Hội chữ thập đỏ mà Hồ Chủ tịch đã dùng thay cho Hội hồng thập tự [57] đang ngày càng được dùng phổ biến là một thí dụ.

Nhưng cũng có những sáng tạo thành công mà không thành phổ biến. Đó là “những từ ngắn ngủi, sản sinh ra với sự cần thiết nhất thời và chết đi khi sự cần thiết ấy không còn nữa; nó không phải là những từ “chết trong trứng”, nó đã sống một lúc và có thể hồi sinh cùng với hoàn cảnh đã tạo ra nó” [58]. Đó còn là những cách kết hợp từ, cách đặt câu, gắn liền với một hoàn cảnh nhất định. Nguyễn Du đã viết:

Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
(Truyện Kiều)

Mặc dầu sau này nách tường cũng đã được nhà văn khác dùng:

Hoa mai vàng... nở bên nách tường trên lối đi... [59]

nách tường vẫn không được dùng phổ biến và không thành chuẩn mực. Cũng vậy, hiên ngang Cu-ba không thành chuẩn mực. Chính vì những từ ngữ, cách nói này không thành phổ biến, không thành chuẩn mực, nên chúng giữ được mãi mãi cái giá trị của chúng; mỗi lần gặp lại chúng, người ta vẫn cảm thấy chúng là mới, là sáng tạo.

Bất cứ một sáng tạo thành công nào trong ngôn ngữ cũng đều đáp ứng những đòi hỏi thực tế của việc diễn đạt tư tưởng, tình cảm, và không mâu thuẫn với những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ.

Nhưng dù với những nhà văn rất lớn, phần thật sự sáng tạo cá nhân trong lĩnh vực ngôn ngữ cũng không là bao so với phần sử dụng ngôn ngữ “theo như đã có sẵn”, nghĩa là gần như lặp lối nói mà mọi người đã thường nói và đang nói hằng ngày. Sự sáng tạo thường chỉ thể hiện trên một số từ, ngữ nhất định nào đó, như những bông hoa điểm trên một bức tranh mà cái nền làm bằng những câu, lời thông thường.

Ngoài sự sáng tạo, một nguồn quan trọng làm giàu thêm cho ngôn ngữ là sự vay mượn của các ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Việt không những vay mượn nhiều từ, mà còn vay mượn nhiều cách diễn đạt của tiếng Hán, tiếng Pháp, v.v., và sự thật không nên phủ nhận là sự vay mượn đó đã góp phần quan trọng làm cho nó giàu đẹp thêm, trong sáng thêm.

Lĩnh vực văn hoá, văn học, khoa học là một lĩnh vực không những có sự kế thừa trong nội bộ dân tộc, mà còn có sự giao lưu giữa các dân tộc, sự giao lưu này ngày càng rộng rãi hơn. Ngôn ngữ văn hoá là công cụ văn hoá của dân tộc thì đồng thời cũng là công cụ giao lưu văn hoá giữa các dân tộc. Giữa ngôn ngữ văn hoá của các dân tộc, sự tiếp xúc ngày càng nhiều, vay mượn giữa các ngôn ngữ là hiện tượng không những tất nhiên, mà còn là cần thiết, nhìn về yêu cầu của chức năng công cụ văn hoá cũng như của chức năng công cụ giao lưu văn hoá của ngôn ngữ. Nhưng vay mượn chỉ có thể là một biện pháp bổ sung để làm giàu đẹp một ngôn ngữ, chứ không thể là biện pháp chủ yếu. Trong vấn đề ngôn ngữ cũng vậy, phải nêu cao tinh thần tự cường dân tộc, tinh thần tự lực cánh sinh, và đây cũng là vấn đề đường lối cơ bản xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc. Chỉ nên vay mượn khi nào thật sự cần thiết, sau khi sử dụng và phát huy đầy đủ cái vốn sẵn có. Vay mượn là để bổ sung cho sáng tạo, và ngay trong vay mượn cũng cần có “sáng tạo”: phải vay mượn một cách có chọn lọc, cân nhắc, vay mượn một cách thông minh, dựa trên yêu cầu thực tế và khả năng tiếp thu của ngôn ngữ mình mà vay mượn, và “dân tộc hoá”, đồng hoá yếu tố vay mượn, biến cái của người thành cái của ta. Chỉ sự vay mượn như thế mới là hợp lí và mới có tác dụng tốt đối với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Nếu coi vay mượn là biện pháp thứ nhất, biện pháp chủ yếu để làm giàu ngôn ngữ, và nếu vay mượn một cách máy móc, sống sượng, ào ạt, thì tác dụng có thể ngược lại: sự sáng tạo bị hạn chế, khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ không được phát huy, chuẩn mực của nó bị đảo lộn, sự trong sáng cũng như sức sống của nó bị giảm sút; sự giàu thêm chút ít về lượng sẽ không bù được cho sự nghèo đi về chất, và ngôn ngữ sẽ trở thành nghèo nàn què quặt.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một việc làm tích cực nhằm bảo vệ và phát triển ngôn ngữ dân tộc của chúng ta.

Nó là một việc làm tự giác, dựa trên lòng yêu nước và yêu quý tiếng mẹ đẻ, trên nhận thức cách mạng rằng con người có quyền và có khả năng làm chủ cái công cụ ngôn ngữ của mình, trên quyết tâm làm cho tiếng Việt phát triển tốt hơn nữa. Việc làm này còn dựa trên những hiểu biết khách quan, khoa học về ngôn ngữ, về tiếng Việt, về điều kiện, yêu cầu, chiều hướng phát triển của nó. Ở đây, vừa có vấn đề đường lối, quan điểm, vừa có vấn đề khoa học, kiến thức. Không có đường lối quan điểm đúng thì đặt sao được đúng vấn đề, nói gì đến giải quyết vấn đề? Nhưng không có kiến thức khoa học thì khi giải quyết những vấn đề cụ thể, khó tránh khỏi lúng túng và mâu thuẫn, khó quán triệt được đường lối, quan điểm đúng.

Quyết định là đường lối. Đường lối của chúng ta, ở đâu cũng vậy và ở đây cũng vậy, là đường lối của chủ nghĩa Mác - Lê nin, và ở đây cũng vậy, cần đấu tranh trên hai mặt, chống hoặc đề phòng hai khuynh hướng sai lầm: khuynh hướng khách quan chủ nghĩa, để mặc ngôn ngữ phát triển một cách “tự nhiên”, và khuynh hướng chủ quan, gò sự phát triển của ngôn ngữ theo những yêu cầu chủ quan của mình. Khuynh hướng chủ quan dẫn đến cái gọi là “chủ nghĩa thuần tuý” trong ngôn ngữ, với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng đều là phiến diện.

Xác định được đường lối, quan điểm đúng, thì tránh được chủ nghĩa khách quan. Nhưng muốn tránh chủ nghĩa thuần tuý, thì có đường lối quan điểm đúng rồi, lại còn phải có những hiểu biết đầy đủ, khoa học, có cái nhìn toàn diện. Vấn đề ngôn ngữ rất phức tạp, tiếng Việt của chúng ta lại chưa được nghiên cứu nhiều. Cần tìm hiểu, học tập, nghiên cứu tiếng Việt của chúng ta nhiều hơn nữa, để có cơ sở vững chắc giải quyết tốt những vấn đề ngôn ngữ mà cuộc đấu tranh cách mạng hoàn thành giải phóng cả nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội đang đề ra cho chúng ta.

1968

Nguồn: HOÀNG PHÊ - Tuyển tập Ngôn ngữ học.
NXB Đã Nẵng – 2008.



[1] XemĐề cương văn hoá Việt Nam (1943), trong “Về công tác văn nghệ”, Hà Nội, 1962, tr. 5-6.

[2] Xem T. Tr. (Trường Chinh): Hãy gây một phong trào Việt hoá lời nói và văn chương, báo “Sự thật”, ngày 19-12-1948. (In lại, có sửa chữa chút ít, dưới đầu đề “Hãy gây một phong trào Việt hoá nói và văn của chúng ta”, trong Trường Chinh:Tăng cường công tác báo chí của chúng ta. Hà Nội, 1963, tr. 48-52).

[3] Xem Phạm Văn Đồng: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Tạp chí “Học tập”, 1966, số 4.

[4] Lưu Vân Lăng, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu: Khái luận ngôn ngữ học (những bài giảng ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), Hà Nội, 1961, tr. 83.

[5] Ở đây không thể nêu tất cả những bài đó. Đáng chú ý là những bài của Hồng Giao: Vài ý kiến về tiếng Việt hiện thời, tập san “Nghiên cứu Văn Sử Địa”, 1957, số 26; Đào Thản: Phấn đấu cho ngôn ngữ trong sáng và chính xác hơn nữa, tập san “Nghiên cứu Văn học”, 1960, số 7; Hoàng Tuệ: Mấy điều suy nghĩ trong sự liên hệ với Việt ngữ(nhân đọc bài “Tiếng nói của Đảng là tiếng nói của nhân dân”), tập san “Nghiên cứu Văn học”, 1961, số 6; Nguyễn Văn Thạc: Mấy nhận xét về cách mượn từ tiếng Hán, tạp chí “Văn học”, 1963, số 5; những bài của Hoàng Tuệ, Nguyễn Lân, Nguyễn Tăng, Hoàng Phê trong tập “Viết thế nào cho đúng”, Hà Nội, 1965; Hoàng Phê: Tình hình tiếng Việt và mấy nhiệm vụ cấp bách, tập san “Nghiên cứu Văn học”, 1960, số 2, v.v.

[6] Xem những bài của Nguyễn Văn Huyên, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Nam Trường và Hoàng Lê, Hoàng Văn Hành, Quang Đạm trong tạp chí “Văn học”, 1966, số 3 và số 4; của Tô Hoài, Chế Lan Viêntrong báo “Văn nghệ” ngày 25-2-1966 và ngày 11-3-1966.

[7] Quang Đạm: Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với những người viết báo Việt Nam, tạp chí “Văn học”, 1966, số 4, tr. 60.

[8] Chế Lan Viên:Làm cho tiếng nói trong sáng, giàu và phát triển, Tạp chí “Văn học”, 1966, số 3, tr. 29.

[9] Nguyễn Tuân: Về tiếng ta, tạp chí “Văn học”, 1966, số 3, tr. 26.

[10] Hoàng Tuệ: Mấy điều suy nghĩ..., tr. 55.

[11] R. A. Hall: Leave your language alone! (Hãy để mặc ngôn ngữ của bạn!), New York, 1950, tr. 6 và tr. 28.

[12] L. Bloomfield: Language(Ngôn ngữ), bản in ở London, 1955, tr. 22.

[13] A. Martinet: Eléments de linguistique générale (Nguyên lí ngôn ngữ học đại cương), in lần thứ hai, Paris, 1961, tr. 9-10.

[14] F. de Saussure: Cours de linguistique générale (Bài giảng ngôn ngữ học đại cương), in lần thứ hai, Paris, 1922, tr. 43.

[15] R. A. Hall: Tđd.

[16] Lời một nhân vật - giáo sư ngữ văn - trong truyện dài Эаноза của Обухова. Dẫn theo B. B. Виноградов: Русская речь, ее изучение и вопросы рчевой культуры (Tiếng Nga, việc nghiên cứu nó và những vấn đề trau dồi lời nói), tạp chí Вопросы языкознания (Những vấn đề ngôn ngữ học), 1961, số 4, tr. 9.

[17] C. Mác - F. Ăng ghen: Hệ tư tưởng Đức. C. Mác - F. Ăng ghen: Toàn tập (bản tiếng Nga), in lần thứ 2, tập 3. M., 1955, tr. 427.

[18] F. de Saussure: Tđd, tr. 21-22.

[19] Nguyễn Trãi: Quốc âm thi tập, Hà Nội, 1956, tr. 39.

[20] Như trên, tr. 119.

[21] F. Ăng ghen: Lutvich Fơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (C. Mác - F. Ăng ghen: Tuyển tập, tập II, Hà Nội, 1962, tr. 616. Chúng tôi có dịch chữa lại một đôi chỗ - H.P.).

[22] Hoàng Thúc Trâm:Hán-Việt tân từ điển, Sài Gòn, 1951, Phàm lệ, tr. 14.

[23] Gọi là “ngôn ngữ văn học” thì dễ lầm là ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học (“ngôn ngữ nghệ thuật”). Sự thật là các nhà văn, ở nước nào cũng vậy, có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng ngôn ngữ văn hoá dân tộc. Nhưng ngôn ngữ văn hoá không phải chỉ được dùng trong văn học, mà còn được dùng trong khoa học, trong mọi lĩnh vực hoạt động văn hoá khác (hiểu theo nghĩa rất rộng) của con người. Những lĩnh vực này ngày càng phát triển, ngày càng thêm quan trọng trong đời sống của xã hội hiện đại. Vì vậy, dùng “ngôn ngữ văn hoá” thoả đáng hơn. Trong ngôn ngữ học các nước ngoài, cũng có người dùng “ngôn ngữ văn hoá”, hoặc “ngôn ngữ văn minh”, để chỉ ngôn ngữ - dùng làm công cụ văn hoá - của một dân tộc đạt đến một trình độ văn minh tương đối cao.

[24] Trước nay nhiều người gọi là “tiêu chuẩn”. Nhưng tiêu chuẩn thường có nghĩa là “căn cứ” để đánh giá, để nhận xét (“tiêu chuẩn của chân lí”...), dùng “tiêu chuẩn” ở đây nghĩa sẽ không rõ ràng. Có người dùng “mẫu mực”, như Lê Xuân Thại, Hồng Dân (trong các bài trongNghiên cứu ngôn ngữ học, Hà Nội, KHXH, 1968). Nhưng mẫu mực dễ hiểu lầm là “gương mẫu”, “mô phạm”. Chúng tôi đề nghị dùng chuẩn hoặc chuẩn mực, nếu không tìm được từ khác tốt hơn.

[25] Phụ âm đầu p- (trong pin, pô-pơ-lin, a-pa-tít v.v) là một hiện tượng mới trong tiếng Việt hiện đại. Nhìn cái hướng phát triển thì phải thừa nhận nó là chuẩn mực của tiếng Việt văn hoá hiện đại, mặc dầu hiện nay có thể số đông trong nhân dân ta, nhất là ở nông thôn và trong lớp người già, không phát âm p mà chỉ phát âm b (“a-ba-tit”, “bô-bơ-lin”).

[26] B. B. Виноградов, Изучениe русского литературного языка зa пocлeднee десятилетие в CCCP (Việc nghiên cứu tiếng Nga văn học - tiếng Nga văn hoá - trong mười năm lại đây ở Liên Xô), Matxcơva, 1955. Dẫn theo B. Г. Kоcтомаров, Kyлътура языка и peчи в свете языковой палитики (Trau dồi ngôn ngữ và lời nói dưới ánh sáng của chính sách ngôn ngữ), trong tập “Язык и итилъ”), Matxcơva, 1965, tr. 46.

[27] L. C. Thompson: A. Vietnamese Grammar. (Ngữ pháp tiếng Việt), Xitơn, 1965, tr. 151-152.

[28] Ngô Tất Tố: Lều chõng, Hà Nội, 1961, tr. 262.

[29] Trường Chinh, bài đã dẫn. Tăng cường công tác báo chí..., tr. 52.

[30] Phạm Văn Đồng, bài đã dẫn, tr. 10.

[31] Nhặt trên sách báo.

[32] Trong phong cách văn học (nghệ thuật) cho phép dùng những câu như vậy, nhưng chỉ trong lời của nhân vật, và một cách cũng rất hạn chế.

[33] B. Havranek, dẫn theo B. Г. Kоcтомаров, Tđd, tr. 45.

[34] Những cái “quen dùng” không nhất thiết là chuẩn mực. Có cái “quen dùng” mà vẫn bị đánh giá là “sai”. Trong ngôn ngữ có cái sai của số đông.

[35] Như trong nghị quyết của Hội nghị cách mạng Bắc Kì, ngày 20-4-1945 về “Tiến tới tổng khởi nghĩa”. Xem Chặt xiềng, Hà Nội, 1960, tr. 36.

[36] Trên cùng một số báo “Nhân dân”, ngày 1-6-1961, mà có bài thì dùng nhà giữ trẻ, nhà gửi trẻ, nhà trẻ, nhóm trẻ, có bài thì dùng nhóm giữ trẻ, nhà giữ trẻ.

[37] V. I. Lê nin: Bệnh ấu trĩ (bệnh “tả khuynh”) trong phong trào cộng sản. Xem V. I. Lê nin: Tuyển tập, quyển II, phần II, Hà Nội, 1959, tr. 364.

[38] F. Ăng ghen: Phép biện chứng của tự nhiên(bản tiếng Pháp), Pari, 1952, tr. 214.

[39] V. I. Lê nin: Bút kí triết học, Hà Nội, 1963, tr. 118.

[40] Trong bài “Gửi các nhà nông”. Xem Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Hà Nội, 1960, tr. 221.

[41] Nguyễn Khải: Họ sống và chiến đấu, Hà Nội, 1956, tr. 18.

[42] Xem Эрнпира Д. Э. Розенталь, Kyлтъура peчи (Trau dồi lời nói) (Giới thiệu và phê bình sách), trong Boпpocы кyльтypы peчи (“Những vấn đề trau dồi lời nói”), tập 6, Matxcơva, tr. 231.

[43] Л. В. Щерба: Опыт обшй теории лексикографии (Thử xây dựng lí luận chung về từ điển học), Л. В. Щерба: Избранные работы пo языкознанию и фонетике (Tuyển tập về ngôn ngữ học và ngữ âm học), Lêningrat, 1958, tr. 66.

[44] Phạm Văn Đồng: bài đã dẫn, tr. 10.

[45] J. Vendryes: Le langage (Ngôn ngữ), in lần thứ ba, Pari, 1950, tr. 182.

[46] NamCao: Sống mòn, Hà Nội, 1963, tr. 203.

[47] NamCao: Tđd, tr. 201.

[48] Nhân dân”, 26-3-1967, xã luận.

[49] Năm 1948, đồng chí Trường Chinh, trong bài đã dẫn (tr. 50) đề nghị phân biệt chủ nghĩa đế quốc với đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội với xã hội chủ nghĩa, coi một đằng là danh từ, một đằng là tính từ. Có thể nói sự “đối lập” đó ngày nay đã thành chuẩn mực. So sánh: xây dựng chủ nghĩa xã hộicải tạo xã hội chủ nghĩa.

[50] NamCao: Tđd, tr. 222.

[51] Nguyễn Địch Dũng: Quê hương. “Tuyển tập văn Việt Nam 1945 - 1960”, tập I, Hà Nội, 1960, tr. 101.

[52] Ed. Sapir:Le langage(Ngôn ngữ, dịch từ tiếng Anh), Paris, 1953, tr. 102, 107.

[53] Nam Cao, Tđd, tr. 151.

[54] Nguyễn Đình Thi: Xung kích, in lần thứ tư, Hà Nội, 1960, tr. 70.

[55] Tên một tác phẩm của Thép Mới (Hà Nội, 1963).

[56] Л. В. Щерба: Спорные вопросы pyccкой грамматики (Những vấn đề tranh luận trong ngữ pháp tiếng Nga). Dẫn theo В. Г. Костомаров A. A. Лeoнтъев: Heкoтоpые теоретические вопросы кулътуры peчи (Một số vấn đề lí luận về trau dồi lời nói), tạp chí Bопросы языкознания (Những vấn đề ngôn ngữ học) 1966, số 5, tr. 9.

[57] Hồ Chủ tịch đã đầu tiên dùng vùng trời trong một lệnh thưởng huân chương quân công, kí ngày 7-8-1964 (xem “Nhân dân”, 8-8-1964), và đã đầu tiên dùng Hội chữ thập đỏ trong thư gửi đồng bào các tỉnh bị bão lụt ở miền Nam, ngày 17-11-1964 (xem “Nhân dân”, 17-11-1964).

[58] A. Darmesteter: La vie des mots(Đời sống của các từ), in lần thứ 14, Pari, 1923, tr. 116.

[59] Nguyễn Tuân: Xuân nở trên dòng Gianh và sông Tuyến, trong tập kí sự và bút kí Tuyến lửa, Hà Nội, 1966, tr. 11 - Thí dụ về nách tường là mượn của đồng chí Bùi Khắc Việt (xem bài của Bùi Khắc Việt trong Nghiên cứu ngôn ngữ học, H., KHXH, 1968).

 

 

Bài đăng trước:

  • Vấn đề chữ quốc ngữ
  • FERDINAND DE SAUSSURE với Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
    (Một số suy nghĩ khi đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand de Saussure)
  • Về tính có lí do của các đơn vị từ vựng phái sinh trong tiếng Việt*
  • Tính võ đoán và tính hình hiệu của ngôn ngữ
  • Logic-ngôn ngữ học