Ngôn ngữ học

FERDINAND DE SAUSSURE với Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
(Một số suy nghĩ khi đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand de Saussure)
     

GS HOÀNG PHÊ

Trong các nhà ngôn ngữ học lớn của thế kỉ XX, cho đến nay F. de Saussure vẫn là người được nhắc đến nhiều hơn cả. Có thể nói không quá đáng rằng trong ngôn ngữ học hiện đại, “không có một học thuyết chung nào mà không nhắc đến ông” (E. Benveniste)1, bởi vì khó mà tránh khỏi phải dựa vào, hoặc nếu không thì phải phản bác, một vài luận điểm quan trọng nào đó của F. de Saussure.

Sign

The Signifier, the Signified, and the Sign
According: massthink.wordpress.com

F. de Saussure là người Thuỵ Sĩ, sinh năm 1857. Năm 21 tuổi, khi đang còn là sinh viên, học ở Đức, ông viết tác phẩm Nghiên cứu về hệ thống nguyên thuỷ các nguyên âm trong các ngôn ngữ Ấn - Âu, một tác phẩm làm nhiều người ngạc nhiên, và ba bốn chục năm sau có người vẫn còn đánh giá là “chưa bao giờ có một quyển sách về ngữ pháp học so sánh vững vàng, mới mẻ và đầy đủ như vậy!” (A. Meillet)2. Ở trường ra, ông dạy học tại Pari, và từ năm 1891, dạy ở Trường đại học Giơnevơ. Tại đây, trong những năm 1906 - 1911, ông ba lần phụ trách giảng về lí luận ngôn ngữ học đại cương. Ông mất năm 1913.

F. de Saussure viết rất ít. Sau tác phẩm đầu tay, chỉ thỉnh thoảng ông mới viết một vài bài ngắn. Sau khi ông mất, hai người học trò cũ của ông, lúc bấy giờ đã là những nhà ngôn ngữ học có tiếng, Charles Bally và Albert Sechehaye, dựa vào một số bản thảo bài giảng của ông về ngôn ngữ học đại cương và vào những tài liệu ghi chép của sinh viên về các bài giảng đó, soạn lại thành quyển Giáo trình ngôn ngữ học đại cương và cho xuất bản năm 19163.

Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. de Saussure có một ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của ngành ngôn ngữ học trên thế giới. F. de Saussure nêu nhiều vấn đề quan trọng, có những suy nghĩ rất sâu, nhiều ý kiến độc đáo. Đáng tiếc là quyển Giáo trình không phải do chính tay ông viết. Chúng ta chỉ có thể biết được những tư tưởng của ông qua sự lĩnh hội và sự trình bày của Ch. Bally và A. Sechehaye. Trong Giáo trình, có nhiều chỗ khó hiểu hoặc mâu thuẫn, có những câu có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Sở dĩ như vậy, có lẽ chính là vì Ch. Bally và A. Sechehaye đã hết sức cố gắng trình bày đầy đủ và trung thành tư tưởng của người thầy của mình, cả trong trường hợp tư tưởng ấy có chỗ còn chưa rõ nét hoặc mâu thuẫn.

*
*     *

Cái mà chúng ta thường gọi là “ngôn ngữ” là một hiện tượng bao hàm nhiều mặt, nhiều nhân tố không thể tách rời nhau: âm và nghĩa; nhân tố vật lí, sinh lí và tâm lí; nhân tố cá nhân và xã hội, truyền thống, thói quen; mặt hữu hạn và vô hạn; v.v. Nó vừa là một cái gì đã hình thành rồi, vừa là một cái gì đang được sáng tạo và tiếp tục phát triển không ngừng. Trong hiện tượng vô cùng phức tạp và kì diệu ấy, cái gì là đối tượng nghiên cứu riêng của ngành khoa học gọi là ngôn ngữ học? Nói cách khác, ngôn ngữ thực chất là gì, có những mặt gì quan trọng, cần nghiên cứu, và làm thế nào để nghiên cứu?

Tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đó, F. de Saussure trước hết phân biệt ngôn ngữ (langue) khác với lời nói (parole), trong hiện tượng mà ông gọi là hoạt động ngôn ngữ (langage). Theo ông, ngôn ngữ “là bộ phận xã hội của hoạt động ngôn ngữ, tồn tại ở bên ngoài cá nhân” (tr. 38), nó là một “sản phẩm xã hội lưu trữ trong óc mỗi người” (tr. 52), “ngôn ngữ tồn tại trong tập thể dưới dạng thức một tổng thể những dấu vết đọng lại trong mỗi bộ óc” (tr. 45), còn “ngược lại, lời nói là một hành động cá nhân” (tr. 37), “nó là cái tổng thể của những điều mà người ta nói, và gồm có: a) những cách kết hợp của cá nhân, tuỳ theo ý của những người nói, b) những hành động phát âm cũng tuỳ ý như vậy, cần thiết cho việc thực hiện những cách kết hợp này” (tr. 45-46). Như vậy, tách ngôn ngữ với lời nói, theo F. de Saussure, tức là “đồng thời cũng tách luôn: 1. cái gì có tính chất xã hội với cái gì có tính chất cá nhân; 2. cái gì có tính chất cốt yếu với cái gì có tính chất thứ yếu và ít nhiều ngẫu nhiên” (tr. 19). Do đó, trong công tác nghiên cứu, thoạt tiên, phải đứng trên địa bàn của ngôn ngữ và lấy nó làm chuẩn cho tất cả các biểu hiện khác của hoạt động ngôn ngữ” (tr. 13; tác giả nhấn mạnh).

Phân biệt ngôn ngữ với lời nói, F. de Saussure muốn từ hoạt động ngôn ngữ, một hiện tượng hết sức đa dạng, vô cùng sinh động và năng động, trừu tượng hoá ra một cái gì ổn định, bất biến. Trong quan niệm của ông, ngôn ngữ đã được trừu tượng hoá khỏi con người, khỏi xã hội, khỏi lịch sử. Ông “giả định rằng... gạt ra ngoài ngôn ngữ tất cả những gì xa lạ đối với cơ chế của nó” (tr. 47), để xem xét ngôn ngữ như một cái gì “chỉ biết có một trật tự của chính bản thân nó mà thôi” (tr. 51), một cái gì trong đó “tất cả đều dựa trên những mối quan hệ” (tr. 213) và “giá trị của bất cứ một yếu tố nào cũng đều do những yếu tố ở xung quanh quy định” (tr. 202). Với một quan niệm về ngôn ngữ như vậy, phải “xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng”, chứ không nên “bắt đầu bằng những yếu tố và xây dựng nên hệ thống bằng cách cộng tất cả các yếu tố đó lại” (tr. 198). Như vậy, tất cả vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu ngôn ngữ như là một hệ thống. F. de Saussure đã tập trung suy nghĩ xung quanh kết luận quan trọng này trong rất nhiều năm, có lẽ trong suốt cả cuộc đời hoạt động khoa học của mình, từ khi ông viết tác phẩm đầu tay mang tên là: Nghiên cứu về hệ thống nguyên thuỷ các nguyên âm trong các ngôn ngữ Ấn - Âu.

Đúng như nhiều người đã nhận xét, “thực chất học thuyết của F. de Saussure là sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Tất cả phần còn lại của học thuyết là rút ra một cách lôgích từ luận điểm cơ bản ấy.” (L. Hjelmslev)4.

Trên đây là cái lõi của những tư tưởng của F. de Saussure. Những tư tưởng ấy, ở một mức độ nhất định, đã dọn đường cho ngôn ngữ học của thế kỉ XX, mà một đặc điểm nổi bật là chú ý một cách có ý thức đến mặt những quan hệ có tính hệ thống, những quan hệ cấu trúc, khi nghiên cứu bất cứ một hiện tượng nào, thuộc bất cứ một cấp bậc nào của ngôn ngữ. Cũng cần nói thêm rằng F. de Saussure đồng thời đã đề xuất ra, không phải chỉ một vài, mà là một loạt vấn đề mới khác nữa (có vấn đề trước ông cũng đã có người nêu ra, nhưng phải chờ đến ông mới được đặt ra một cách rõ ràng, với tất cả những hệ quả và tầm quan trọng của nó), như: ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu (F. de Saussure dự kiến việc thành lập một ngành khoa học mới: tín hiệu học); diện đồng đại và diện lịch đại; quan hệ hình tuyến và quan hệ liên tưởng; học thuyết giá trị trong ngôn ngữ; v.v. Trong ngôn ngữ học, “không có một nhà nghiên cứu nghiêm túc nào ngày nay lại có thể bỏ qua không nói đến” những luận điểm cơ bản của F. de Saussure, vì “vấn đề chỉ là ở chỗ mỗi người hiểu những luận điểm ấy như thế nào và rút ra từ đó những kết luận gì” (R. A. Budagov)5.

Đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, điều đập vào trí óc mọi người là tác giả hình như có cái “tật lưỡng phân”, thích nói cái gì cũng “có hai mặt”, thường tự mâu thuẫn với mình, bên cạnh những lời rất có cân nhắc, thường lại có những lối khẳng định tuyệt đối. Theo chúng tôi nghĩ, muốn hiểu F. de Saussure, không nên quên rằng Giáo trình ngôn ngữ học đại cương là một tác phẩm mà bản thân tác giả hồi còn sống chưa đặt bút viết, mặc dầu đã thai nghén trong rất nhiều năm. Quá trình thai nghén này, đối với ông, còn chưa kết thúc, và chắc chắn là gian khổ. Bắt tay vào việc nghiên cứu ngôn ngữ, ông thấy nhiều vấn đề lớn quá, không hài lòng về những khái niệm ngôn ngữ học đương thời. Trong một bức thư gửi cho A. Meillet, ông nói đến “sự ngu xuẩn tuyệt đối của những thuật ngữ đang dùng”, đến “sự cần thiết phải nêu rõ ngôn ngữ nói chung là loại đối tượng như thế nào”, đến việc “cần phải làm một cuộc cải cách kiên quyết và triệt để”6. F. de Saussure thấy cần phải xây dựng một học thuyết ngôn ngữ học mới, và ông để hết tâm trí vào đó. Ông có nhiều nỗi băn khoăn dằn vặt, khiến trong một thời gian dài ông không muốn viết lách gì, dù chỉ trong “mươi dòng”. Tuy vậy, ông cũng nói: “Cuối cùng, dù tôi muốn hay không, cũng phải kết thúc bằng một quyển sách”7, trong đó ông hứa sẽ trình bày những điều suy nghĩ của mình. Nhưng quyển sách ấy chưa được ông thảo ra. Có lẽ vì ông vẫn tự thấy rằng mình “chưa xây dựng được học thuyết đến mức đầy đủ... để có thể đưa ra công chúng. Ông không phải vào hạng những người vội vã công bố những tư tưởng của mình khi còn chưa suy nghĩ thật chín, khi còn chưa xây dựng thành một hệ thống đầy đủ và chặt chẽ, và còn chưa nêu ra được tất cả những khó khăn” (A. Meillet)8. Một người đang suy nghĩ, nghiền ngẫm những vấn đề khoa học lớn như vậy, thì luôn luôn lật đi lật lại vấn đề, có lúc đẩy một ý kiến nào đó đến cùng cực, nhiều khi tự mâu thuẫn với mình, âu cũng là điều tất nhiên. Giáo trình ngôn ngữ học đại cương không trình bày những “tư tưởng hoàn chỉnh” nào đó của F. de Saussure, mà trình bày cho chúng ta những suy nghĩ hết sức sâu sắc và phong phú của ông với tất cả những mâu thuẫn nội tại của nó. Người đọc Giáo trình sẽ phải suy nghĩ tiếp trên tác phẩm này, suy nghĩ tiếp cùng với tác giả, để giải quyết những mâu thuẫn ấy và tìm ra những kết luận thoả đáng.

*
*     *

Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, có những điều được nêu như nguyên lí tuyệt đối. Mà, như Lê nin đã nói, “bất cứ một chân lí nào đều có thể bị đẩy tới chỗ phi lí, nếu người ta làm cho nó trở thành “quá đáng”, nếu thổi phồng nó thái quá, nếu đưa nó vượt quá phạm vi áp dụng thực tiễn của nó; và trong những điều kiện ấy, chân lí đó thậm chí tất nhiên cũng sẽ biến thành điều phi lí nữa kia”, cho nên “phương sách chắc chắn nhất để làm cho một tư tưởng chính trị mới (và không phải chỉ một tư tưởng chính trị mà thôi) mất tín nhiệm, và để làm hại nó, là bảo vệ nó bằng cách đẩy nó đến chỗ phi lí”9. Nhiều tư tưởng mới của F. de Saussure đã bị cái số phận như vậy.

Đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, người ta dễ có cảm giác rằng nhiều khi, vì muốn nhấn mạnh mà tác giả cường điệu, đi đến tuyệt đối hoá một mặt nào đó hoặc tuyệt đối hoá sự đối lập. Phân biệt ngôn ngữ và lời nói, Giáo trình có đoạn viết: “...trong lời nói không có gì là tập thể cả; những biểu hiện của nó đều có tính chất cá nhân và nhất thời” (tr. 46), ngôn ngữ và lời nói trở thành hai khái niệm hoàn toàn đối lập. Nhấn mạnh mặt những quan hệ nội tại có tính hệ thống trong ngôn ngữ, Giáo trình có đoạn khẳng định rằng “trong ngôn ngữ chỉ có những sự phân biệt mà thôi” (tr. 208; tác giả nhấn mạnh), chỉ có những quan hệ thuần tuý, và “ngôn ngữ là một hình thức, chứ không phải là một chất liệu” (tr. 212; tác giả nhấn mạnh). Do đó, nghiên cứu ngôn ngữ, không những phải gạt ra ngoài “tất cả những gì mà người ta gọi là ‘ngôn ngữ học ngoại tại’.” (tr. 47), mà còn phải gạt bỏ tất cả những gì thuộc về chất thể, về vật chất. Và Giáo trình kết thúc bằng câu kết luận nổi tiếng: “đối tượng duy nhất và chân thực của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân nó và vì bản thân nó” (tr. 393; tác giả nhấn mạnh). Người ta có quyền hoài nghi, không biết câu đó thật ra có phải là của F. de Saussure hay không10, nhưng dù sao thì đó cũng là sự phát triển và kết luận rất logic của những ý kiến và lập luận như loại vừa nói ở trên, rải rác đó đây trong tác phẩm.

Với những quan niệm như vậy, ngôn ngữ biến thành một hệ thống siêu hình, đóng kín của những quan hệ thuần tuý, phi vật chất. Thời của F. de Saussure là thời mà toán học phát triển mạnh, xâm nhập vào nhiều ngành khoa học, khiến không phải chỉ có một số nhà toán học, mà - như Lê nin đã vạch rõ và phê phán - nhiều nhà khoa học khác cũng cho rằng “phương trình, tất cả là ở đấy hết, không có bất cứ vật chất nào cả”11. Đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, có lúc người ta cũng thấy phảng phất có cái ý: quan hệ nội tại, tất cả là ở đấy hết; chỉ có hình thức, không có bất cứ chất thể nào cả. F. de Saussure có sức trừu tượng hoá rất cao. Đó là chỗ mạnh của ông. Trong quá trình nhận thức khoa học, người ta có quyền trừu tượng hoá để tách riêng ra một bộ phận, một khía cạnh quan trọng của sự vật, tạm thời cô lập nó để nghiên cứu thật sâu. Hơn nữa, đó là một bước hết sức cần thiết, thậm chí có khi là “điều kiện cơ bản cho những tiến bộ khổng lồ” (Engels)12 của một ngành khoa học nào đó trong một thời kì lịch sử nhất định. Tuy nhiên, nếu biến sự cô lập đó trong trí chúng ta thành sự cô lập trong thực tế khách quan, đi đến chỉ nhìn thấy một bộ phận, một khía cạnh, quên những liên hệ và tác động qua lại của nó với những bộ phận, những khía cạnh khác, không thấy rằng: “Toàn bộ của tất cả các mặt của hiện tượng, của cái hiện thực và của các quan hệ (lẫn nhau) của chúng - đó là những cái hợp thành chân lí” (Lê nin; những chỗ nhấn mạnh là do Lê nin)13 thì là rơi vào phương pháp tư duy siêu hình mà Engels đã từng phê phán sâu sắc14. Điều đáng tiếc là phương pháp tư duy của F. de Saussure không khỏi có yếu tố siêu hình, mặc dầu chính ông cũng nhận thấy cần phải luôn luôn đề phòng cái nguy cơ “chỉ nắm một bộ phận của thực thể trong khi cứ tưởng mình ôm được toàn bộ thực thể”, cái nguy cơ khiến “thực thể ngôn ngữ không còn nữa”, và “đáng lẽ là một vật cụ thể, thì trước mắt ta, chỉ còn lại một sự trừu tượng hoá thuần tuý” (tr. 180). Đây là mặt yếu cơ bản của ông. Sau này, những người phê phán ông đều tập trung vào đó đã đành, mà có những người ca tụng ông, tôn ông là thầy, cũng lại tìm cách biến mặt yếu đó của ông thành mặt mạnh, biến ông thành người phất ngọn cờ “chỉ có quan hệ, chỉ có hình thức, ngoài ra không có gì nữa hết” trong một số xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ học nói riêng, và nghiên cứu khoa học nói chung, mấy chục năm gần đây. Ca tụng ông như vậy chỉ làm hại cho ông, làm cho người ta hiểu ông sai lệch và đánh giá ông không đúng.

*
*     *

Điều người ta thường hay quên là nếu F. de Saussure có những ý kiến duy tâm và siêu hình nào đó, thì cũng chính bản thân ông cũng đã tự phản bác mình - nếu chúng ta có thể nói như vậy - một cách rõ ràng, dứt khoát, đanh thép hơn ai hết. Đúng là trong Giáo trình có chỗ trình bày sự đối lập ngôn ngữ với lời nói như một cái gì tuyệt đối; nhưng cũng chính trong Giáo trình lại có chỗ viết: “Hoạt động ngôn ngữ có một mặt cá nhân và một mặt xã hội, và không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được” (tr. 29), “hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau: ngôn ngữ là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói lại cần thiết để cho ngôn ngữ được xác lập; về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước... Cuối cùng, chính lời nói làm cho ngôn ngữ biến hoá... Như vậy, có sự lệ thuộc lẫn nhau giữa ngôn ngữ và lời nói; ngôn ngữ vừa là công cụ, vừa là sản phẩm của lời nói” (tr. 45); không những vậy, thậm chí có những trường hợp “không có ranh giới dứt khoát giữa sự kiện ngôn ngữ... với sự kiện lời nói” (tr. 217). Đó chẳng phải là quan điểm biện chứng hay sao? Đúng là trong Giáo trình khẳng định: “ngôn ngữ chỉ là hình thức”, là hệ thống những quan hệ thuần tuý, phi vật chất; nhưng cũng chính trong Giáo trình lại có chỗ viết: “...điều cốt yếu là nếu phân tích đến cùng thì các thực thể trừu tượng bao giờ cũng dựa trên những thực thể cụ thể. Không thể có một sự trừu tượng hoá ngữ pháp nào nếu không có một loạt yếu tố vật chất làm nền tảng cho nó, và rốt cuộc bao giờ cũng phải trở về với những yếu tố cụ thể đó” (tr. 236 - 237); những chỗ nhấn mạnh là do tác giả). Đó chẳng phải là quan điểm duy vật hay sao? Về quan hệ giữa đồng đại và lịch đại, trong Giáo trình có đoạn viết: “Bao giờ nó [hoạt động ngôn ngữ] cũng bao hàm đồng thời một hệ thống đã được xác lập và một sự biến hoá; lúc nào nó cũng là một thiết chế hiện tại và một sản phẩm của quá khứ. Thoạt trông có thể tưởng rất dễ phân biệt giữa cái hệ thống này với lịch sử của nó, giữa hiện trạng với dĩ vãng của nó; thật ra, mối quan hệ giữa hai cái này chặt chẽ đến nỗi khó mà tách ra được” (tr. 29); vì vậy, “trên thực tiễn, mỗi ngôn ngữ là một đơn vị thống nhất về nghiên cứu, và sự thể buộc lòng người ta phải lần lượt khảo sát nó trên quan điểm tĩnh trạng và lịch sử” (tr. 173). Điều đáng chú ý là trong năm phần của Giáo trình, có đến ba phần dành cho những vấn đề về ngôn ngữ học lịch đại và ngôn ngữ học địa lí: đâu có phải F. de Saussure chỉ chú ý đến đồng đại mà bỏ qua lịch đại, coi thường lịch sử; cũng đâu có phải ông gạt bỏ một cách thô bạo những vấn đề thuộc về “ngôn ngữ học ngoại tại” như nhiều người vẫn thường nói? Chính một số người tự nhận là “theo F. de Saussure” đã giải thích ông theo cách hiểu duy tâm và siêu hình riêng của họ, và khi ra sức đề cao ông, họ đã làm cho ông bị oan.

*
*     *

F. de Saussure thuộc vào loại những nhà khoa học đã phát hiện những vấn đề quan trọng và gieo những tư tưởng mới. Những tư tưởng mới này có hạt nhân hợp lí, nhưng lại chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Nó ra hoa, kết quả hay là chỉ sinh ra cỏ dại, một phần quan trọng còn do ở đất gieo. Cho nên, không lấy làm lạ là cũng từ F. de Saussure mà ra, nhưng tuỳ theo quan điểm triết học khác nhau mà có những xu hướng, trường phái học thuật khác nhau và chống nhau kịch liệt. Trong khoa học, phát hiện vấn đề, có được ý kiến mới không phải là việc dễ; và cũng giống như trong đời sống hằng ngày vậy, những người có ý kiến thật sự mới, khi phải tự mình nghĩ những ý kiến của mình cho đến cùng thì thường không dễ gì nghĩ cho được toàn diện, và lúc nói ra, thường cũng khó lòng tránh được hoàn toàn những điều sơ hở hoặc nói quá đáng. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ đánh giá đúng hơn công lao và những đóng góp của F. de Saussure.

Khi đọc Hegen, Lê nin đã từng viết: “Chủ nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn”15. Lê nin chú thêm rằng: duy tâm thông minh tức là duy tâm biện chứng, còn ngu xuẩn ở đây tức là “siêu hình, không phát triển, chết cứng, thô bạo, bất động”. Ở F. de Saussure có lẫn lộn những yếu tố của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, của quan điểm biện chứng và quan điểm siêu hình, có khi rất khó phân biệt. Nhưng rõ ràng ông là người rất thông minh. Những người duy tâm và siêu hình tất nhiên là không thể đánh giá ông được đúng, họ chỉ biết phụ hoạ vào và, tệ hơn nữa, tô thêm cho thật đậm nét cái gì là duy tâm hoặc là siêu hình của ông. Nhưng nếu chỉ nhìn thấy cái duy tâm hoặc cái siêu hình của ông để phê phán mà thôi thì cũng chỉ là quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường và vô bổ. Phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng mới nhìn thấy hết được cái thông minh cũng như mặt hạn chế của F. de Saussure, để khi đọc Giáo trình ngôn ngữ học đại cương biết tiếp thu có phê phán, tiếp thu đầy đủ, phê phán đúng mức.

1973

Nguồn: HOÀNG PHÊ - Tuyển tập Ngôn ngữ học.
NXB Đã Nẵng – 2008.

Chú thích:

1 E. Benveniste, Problèmes de linguistique générale, Paris, 1966, tr. 32.

2 A. Meillet, Linguistique historique et linguistique générale, II. Paris, 1936, tr. 177.

3 Về sau, các bản thảo bài giảng về ngôn ngữ học đại cương của F. de Saussure được một người học trò khác của ông sưu tầm và công bố trong: Robert Godel, Les sources manuscrites du Cours de linguistique générale de F. Saussure, Genève - Paris, 1957.

4 L. Hjelmslev, Langue et parole (dẫn theo B. A. Звегинцев, история языкознания XIX и XX веков в очека и извлечения, Ч. М, 1960, tr. 57).

5 Р. A. Будагов, Ф. де Соссюр и современное языкознание, trong tạp chí Русский язык в школе, 1966, s. 3, tr. 17.

6 Dẫn theo E. Benveniste, Sđd., tr. 38.

7 Cũng trong một bức thư gửi cho A. Meillet (dẫn theo E. Benveniste, Sđd, tr. 38).

8 A. Meillet, Sđd., tr. 179.

9 Lê nin, Bệnh ấu trĩ (bệnh “tả khuynh”) trong phong trào cộng sản, trong: Lê nin, Tuyển tập, q. 2. ph. II, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1959, tr. 357-358.

10 R. Godel cho rằng câu kết luận trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương là của Ch. Bally và A. Sechehaye thêm vào, chứ bản thân F. de Saussure không hề nói như vậy bao giờ.

11 Xem V. Lê nin, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 415.

12 F. Engels, Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 35.

13 V. Lê nin, Bút ký triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 218.

14 Xem F. Engels, Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 33-37.

15 V. I. Lê nin, Bút ký triết học, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1963, tr. 309.

 

 

Bài đăng trước:

  • Về tính có lí do của các đơn vị từ vựng phái sinh trong tiếng Việt*
  • Tính võ đoán và tính hình hiệu của ngôn ngữ
  • Logic-ngôn ngữ học
  • Tiền giả định và hàm ý tiềm tàng trong ngữ nghĩa của từ
  • Những vấn đề lí luận trong thuật ngữ học ở Liên bang Nga