Ngôn ngữ học

Logic-ngôn ngữ học
     

GS HOÀNG PHÊ

1.1. Con người sử dụng ngôn ngữ để tự nói với mình và nói với người khác. Tự nói với mình khi suy nghĩ, khi hoạt động nhận thức, nghĩa là để tư duy; và nói với người khác khi cần trao đổi nhận thức với nhau, tác động đến nhận thức (và qua đó đến hành động) của nhau, nghĩa là để giao tiếp. Dùng làm công cụ để suy nghĩ cũng như để nói năng, ngôn ngữ gắn liền với nhận thức của con người, và vì gắn liền với nhận thức, ngôn ngữ không chỉ có quan hệ cấu trúc như mọi sự vật tồn tại khác, mà còn có quan hệ logic, nếu hiểu quan hệ logic là những quan hệ quy định từ nhận thức này có thể suy ra một nhận thức khác, từ (những) điều đã biết có thể suy ra điều chưa biết.

1.2. Ngôn ngữ học hiện đại, từ sau F. de Saussure (Cours de linguistique générale, 1916) coi đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình là ngôn ngữ (hiểu theo nghĩa hẹp là một hệ thống kí hiệu, đối lập với lời nói) đã chú ý nhiều miêu tả cấu trúc của ngôn ngữ. Cả N. Chomsky (Syntactic Structures, 1957) thực chất cũng là một nhà cấu trúc luận: học thuyết ngữ pháp học biến đổi - tạo sinh thật ra cũng nhằm miêu tả cấu trúc của ngôn ngữ, có khác là miêu tả nó như một cái gì năng động, có tạo sinh, có biến đổi. Ngôn ngữ học hiện đại đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc miêu tả tỉ mỉ cấu trúc của ngôn ngữ.

Nhưng phải chăng nếu chú ý đến chức năng của ngôn ngữ, đến lí do tồn tại của bản thân hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ và những động lực làm cho nó biến đổi phát triển, đến yếu tố con người trong ngôn ngữ, thì còn phải chú ý đến những vấn đề logic của ngôn ngữ?

2.1. Vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ tư duy, ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu không chỉ của ngôn ngữ học, mà còn của triết học, logic học. Nhưng logic học nghiên cứu ngôn ngữ là để qua ngôn ngữ nghiên cứu về tư duy. Vì vậy, khi nghiên cứu những dữ kiện của ngôn ngữ tự nhiên, logic học trừu tượng hoá những yếu tố giao tiếp, yếu tố tình huống để nhằm đạt tới cái ngôn ngữ “hiện thực trực tiếp của tư duy”. Logic học phi ngữ huống hoá các lời của ngôn ngữ tự nhiên để có được những câu chỉ đơn giản có giá trị chân lí, những mệnh đề.

Trong lịch sử logic học, không hiếm trường hợp chính qua nghiên cứu những hiện tượng của ngôn ngữ tự nhiên mà các nhà triết học đã phát triển logic học, đã phát hiện những khiếm khuyết của các hệ thống logic hiện có và xây dựng những hệ thống logic mới.

Trong triết học hiện đại, trào lưu triết học phân tích quan niệm nhiệm vụ của triết học là phân tích ngôn ngữ để làm sáng tỏ nội dung của những vấn đề xưa nay vẫn được quan niệm là vấn đề triết học. Quan điểm triết học này rõ ràng là sai lầm, nhưng những nghiên cứu, phân tích ngôn ngữ của những nhà triết học phân tích lại có những đóng góp đáng kể về mặt ngôn ngữ học và logic học. Trào lưu triết học phân tích logic (B. Russel, W. V. Quine, J. Lukasiewics, v.v.) áp dụng logic toán phân tích ngôn ngữ. Trào lưu triết học phân tích ngôn ngữ (cũng gọi là triết học ngôn ngữ, triết học của ngôn ngữ thường ngày) (G. Ryle, J. R. Austin, P. Strawson, J. R. Searle, H. P. Grice, v.v.) chú ý phân tích một cách chi tiết sự sử dụng thực tế ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp hằng ngày, sự sử dụng ngôn ngữ hội thoại. Học thuyết hành động nói năng, khái niệm tiền giả định, khái niệm hàm ý hội thoại (conversational implicature) của các nhà triết học phân tích ngôn ngữ là những đóng góp cụ thể không nhỏ, trực tiếp hoặc gián tiếp, vào nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung, vào nghiên cứu ngữ nghĩa học và những vấn đề logic - ngữ nghĩa nói riêng.

2.2. Những nghiên cứu phân tích ngôn ngữ tự nhiên từ phía một số nhà triết học và logic học đã có tiếng vang trong ngôn ngữ học hiện đại. Từ những năm 50 - 60 của thế kỉ này, với ngữ pháp học biến đổi - tạo sinh, người ta thấy xuất hiện khuynh hướng vận dụng logic phân tích ngôn ngữ, mới đầu là phân tích cấu trúc cú pháp và dần dần về sau (bắt đầu với học thuyết ngữ nghĩa học tạo sinh: J. D. McCawley, G. Lakoff, J. Ross, v.v.) là phân tích cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa và cấu trúc logic - ngữ nghĩa của câu, của lời.

Trong mấy thập kỉ gần đây, nếu như logic học ngày càng quan tâm đến ngôn ngữ tự nhiên, thì ngôn ngữ học, về phía mình, cũng ngày càng tỏ ra quan tâm đến logic1. Ở nước ta, trong ngôn ngữ học cũng thấy có tình hình như vậy, tuy rằng nó diễn ra chậm hơn so với trên thế giới2.

2.3. Tuy nhiên, những nghiên cứu về những vấn đề logic của ngôn ngữ tự nhiên, về phía các nhà ngôn ngữ học cũng như về phía một số nhà triết học, cho đến nay nói chung vẫn còn là những nghiên cứu lẻ tẻ, không thành hệ thống. Và trong nhiều trường hợp, thường vẫn ít nhiều là trên quan điểm đơn giản vận dụng logic vào nghiên cứu ngôn ngữ, vận dụng những khái niệm, quy tắc, phương pháp logic để phân tích và giải thích những hiện tượng của ngôn ngữ tự nhiên.

Sự phân tích logic đối với ngôn ngữ tự nhiên thực tế đã soi sáng nhiều hiện tượng cú pháp - ngữ nghĩa. Tuy nhiên, vẫn là hạn chế trong một phạm vi nhất định, có không ít hiện tượng không thể phân tích, giải thích được. Gặp những trường hợp này, người nghiên cứu có thể gác qua một bên một cách có ý thức, nhưng cũng có khi vẫn tìm cách giải thích một cách khó tránh khỏi ít nhiều khiên cưỡng, hoặc trái lại chỉ đơn giản cho rằng đây là những cái “phi logic” của ngôn ngữ tự nhiên. Sự thật là không có cái gọi là “phi logic”, mà chỉ có cái logic mà chúng ta chưa phát hiện ra.

Trước tình hình này, có người nghĩ phải chăng nên xây dựng “một khoa học thống nhất về ngôn ngữ và logic”, một học thuyết “có tính chất đôi, vừa là học thuyết về ngôn ngữ, vừa là học thuyết về logic” (W. S. Cooper)3. Như vậy, hoặc là phải xây dựng một hệ thống logic gọi là đủ mạnh để có thể vận dụng cả vào việc phân tích ngôn ngữ tự nhiên dùng trong giao tiếp, với tất cả những mâu thuẫn và phức tạp của nó; nhưng một hệ thống logic như vậy có lẽ lại sẽ không đủ chặt chẽ để thoả mãn những yêu cầu của bản thân logic học, khoa học về tư duy, về nhận thức chân lí. Hoặc, như W. S. Cooper chủ trương, phải đối xử với ngôn ngữ tự nhiên như với các ngôn ngữ nhân tạo, quan niệm khái niệm ngôn ngữ là “bao gồm mọi mã và hệ thống tín hiệu, tự nhiên cũng như nhân tạo”4. Thực chất tức là tước bỏ đi những gì là “tự nhiên” của ngôn ngữ tự nhiên, để có thể hoàn toàn hình thức hoá nó, logic hoá nó. Những cố gắng logic hoá ngôn ngữ tự nhiên không phải là mới, chẳng hạn, các nhà triết học phân tích cũng đã từng làm, tuy với yêu cầu có khác, nhưng cho đến nay mọi cố gắng theo hướng này đều không thành công. Bởi vì, như O. Ducrot đã nhận định, “sự miêu tả các ngôn ngữ (tự nhiên - H. P) như là những hệ thống hình thức tự bản thân nó chưa đủ, mà phải được bổ sung bằng sự miêu tả (...) “logic của ngôn ngữ”5. G. Lakoff dùng thuật ngữ “logic tự nhiên”6. Tức là ngôn ngữ tự nhiên, dùng làm công cụ giao tiếp, có cái logic riêng của nó. Một khía cạnh quan trọng của cái logic này gần đây được một số nhà nghiên cứu, logic học cũng như ngôn ngữ học, đặc biệt chú ý, đó là cấu trúc logic của những lời của ngôn ngữ tự nhiên thực hiện những hành động nói năng khác nhau và quan hệ logic giữa các loại hành động nói năng. Một logic mới được xây dựng gọi là logic dĩ ngôn (illocutionary logic)7. Nó được quan niệm là “ngành logic triết học nghiên cứu các hành động dĩ ngôn (khẳng định đơn giản (assertion), hỏi, yêu cầu, ra lệnh, tuyên bố...) được thực hiện bằng sự phát ngôn những câu của các ngôn ngữ, tự nhiên hoặc hình thức” (D. Vanderveken)8. Logic dĩ ngôn là một sự mở rộng logic mệnh đề, kết hợp vận dụng logic tình thái cổ điển, để nghiên cứu những lời của ngôn ngữ tự nhiên, nhưng với quan niệm không cần phân biệt các ngôn ngữ tự nhiên với các ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ tự nhiên cũng có thể hoàn toàn hình thức hoá.

3.1. Nhưng quan niệm thế nào là ngôn ngữ tự nhiên? ở đây có vấn đề cần được làm sáng tỏ, bởi vì ngôn ngữ tự nhiên dùng làm công cụ tư duy và ngôn ngữ tự nhiên dùng làm công cụ giao tiếp, tuy là một, nhưng không phải là đồng nhất. Mỗi hình thức có những yêu cầu riêng và một số đặc điểm riêng. Ngôn ngữ - công cụ tư duy dùng ở hình thức độc thoại, ngôn ngữ - công cụ giao tiếp dùng ở hình thức đối thoại, hiểu theo nghĩa rộng, tức là nói nhằm cho có người nghe, viết nhằm cho có người đọc. Những dữ kiện chúng ta có được của ngôn ngữ tự nhiên đều là của ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ - công cụ giao tiếp. Ngay nhiều trường hợp tưởng là độc thoại (chẳng hạn như viết nhật kí mà hoàn toàn chỉ để cho mình, không nhằm cho ai xem) thực chất cũng là đối thoại giữa hai cái tôi: cái tôi - người nói và cái tôi - người nghe, cái tôi - người viết và cái tôi - người đọc. Tự mình ghi lại cho bản thân mình thì cũng phải viết sao cho gọn, rõ ràng, minh bạch, để khi nào đọc lại cũng sẽ hiểu được dễ dàng, đầy đủ, không hiểu nhầm, không hiểu sai; tức là cũng phải dùng hình thức ngôn ngữ đối thoại. Còn ngôn ngữ độc thoại, ngôn ngữ - công cụ tư duy thuần tuý có lẽ thực chất chỉ tồn tại ở dạng ngôn ngữ bên trong, nó không phải là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học.

Ngôn ngữ học chỉ nghiên cứu ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tiếp, thực chất là ngôn ngữ đối thoại.

3.2. Giao tiếp là để tác động đến nhận thức của người đối thoại (trao đổi nhận thức thực chất cũng là tác động đến nhận thức, nhằm làm thay đổi nhận thức). Trong nội dung của lời nói có hai thành phần: thành phần nhận thức có giá trị chân lí (giá trị đúng - sai), thường được gọi là nội dung mệnh đề (propositional content), cũng có thể gọi là nội dung (thuần tuý) logic; và thành phần “ngữ vi” (performative), mượn thuật ngữ của Ư. L. Austin, không có giá trị chân lí, mà có giá trị có thể gọi là giá trị dĩ ngôn (illocutionary value)9, tức là giá trị thực hiện một hành động nói năng nhất định, nhằm có một tác động nhất định đến nhận thức của người đối thoại; thành phần sau cũng có thể gọi là nội dung tình thái10. Thí dụ, cùng một nội dung “trời mưa” có thể là cơ sở cho những lời khác nhau sau đây, khác nhau về giá trị chân lí, về nội dung thuần tuý logic (trời mưa là đúng sự thật, hay là sai sự thật, là có khả năng, là tất yếu, v.v.) và về giá trị dĩ ngôn, về nội dung tình thái (khẳng định đơn giản, hay là khẳng định - xác nhận, khẳng định - thuyết phục, khẳng định - bác bỏ, khuyến cáo, nghi vấn, phủ định, phủ định - đồng ý, phủ định - bác bỏ, phủ định - thuyết phục, v.v.), và như vậy có thể nhằm đến những tác động dụng ngôn (perlocutionary effect) khác nhau, (tức là những tác động khác nhau đến nhận thức, và qua đó, hành động của người đối thoại):

(1) Trời mưa.
(2) Trời mưa thật.
(3) Trời mưa thật rồi.
(4) Ờ nhỉ, trời mưa thật.
(5) Trời mưa đấy.
(6) Trời mưa đấy chứ!
(7) Trời mưa thật đấy chứ!
(8) Trời có mưa.
(9) Trời mưa đấy nhé!
(10) Coi chừng trời mưa.
(11) Coi chừng trời mưa đấy.
(12) Không khéo trời mưa.
(13) Trời có thể mưa.
(14) Trời có thể mưa lắm.
(15) Trời có thể mưa lắm chứ!
16) Biết đâu trời mưa.
(17) Ai ngờ trời mưa.
(18) Nhất định trời mưa.
(19) Thế nào trời cũng mưa.
(20) Trời mưa à?
(21) Trời mưa thật à?
(22) Trời mưa ư?
(23) Trời mưa thật ư?
(24) Trời có mưa không?
(25) Trời có mưa không đấy?
(26) Chắc gì trời mưa.
(27) Mưa gì trời này!
(28) Mưa gì trời này mà mưa.
(29) Trời không mưa.
(30) Trời không mưa thật.
(31) Tưởng là trời mưa.
(32) Tưởng là trời mưa chứ!
(33) Thế mà cứ tưởng là trời mưa.
(34) Tưởng đâu trời mưa.
(35) Trời không mưa đâu.
(36) Trời có mưa đâu.
(37) Trời không mưa đâu mà!
(38) Trời đâu có mưa!
(39) Trời mưa đâu mà mưa?
(40) Mưa gì mà mưa trời này!
v.v.

Giá trị dĩ ngôn của lời rất đa dạng, phụ thuộc vào ngữ huống, và thường chỉ có thể xác định một cách đại khái, vì không có ranh giới rạch ròi. Thêm nữa, trong cùng một lời có thể có nhiều giá trị dĩ ngôn khác nhau, chẳng hạn: khẳng định - bác bỏ - thuyết phục, như trường hợp (6) Trời mưa đấy chứ! Và cùng một lời, thực hiện một hành động dĩ ngôn nhất định, có thể, trong những ngữ huống khác nhau, nhằm những tác động dụng ngôn khác nhau. Chẳng hạn, (5) Trời mưa đấy, là một lời khẳng định - thuyết phục, có thể, tuỳ ngữ huống, có những hàm ý như: “nên ở nhà thôi”, hoặc “phải mang áo mưa”, v.v. Ngay giá trị chân lí thường cũng không có ranh giới rạch ròi. Đúng và sai ở đây thường không làm thành một cặp khái niệm phản nghĩa, chỉ có hai giá trị, hoặc đúng hoặc sai, như trong logic cổ điển, mà làm thành một cặp khái niệm trái nghĩa, giữa đúng hoàn toàn và sai hoàn toàn thường còn có: có phần đúng có phần sai, đúng nhiều hơn là sai, sai nhiều hơn là đúng, v.v, với một tập hợp vô hạn các giá trị. Cho nên logic của ngôn ngữ tự nhiên là một logic đa trị đặc biệt, những lời trong ngôn ngữ tự nhiên thường không những có giá trị chân lí mà còn có giá trị dĩ ngôn, giá trị dĩ ngôn này rất đa dạng, mà ngay bản thân các giá trị chân lí và giá trị dĩ ngôn cũng đều làm thành một thang độ với vô hạn giá trị, giữa các giá trị không có ranh giới dứt khoát. Logic của ngôn ngữ tự nhiên là một loại logic mờ (fuzzy logic) điển hình11.

4.1. Dùng ngôn ngữ để giao tiếp tức là để nói những ý nghĩa của mình cho người đối thoại hiểu. Nhưng trong thực tế cũng như trên nguyên tắc, lắm khi không thể nói ý nghĩ của mình một cách hoàn toàn đầy đủ và chính xác. Ý nghĩ là trừu tượng, thường không định hình, luôn luôn biến động, có khi cực kì phong phú, sâu sắc, lại có thể cùng một lúc có những ý nghĩ rất khác nhau, có khi trái ngược nhau. Trong khi đó ngôn ngữ là một chuỗi những kí hiệu cụ thể, nối tiếp nhau thành hình tuyến và có giới hạn nhất định. Nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự giao tiếp giữa hai đối tượng có khả năng tư duy cơ bản giống nhau, một nền những nhận thức chung, những điều hai bên đều đã biết và những kinh nghiệm chung sử dụng một ngôn ngữ để giao tiếp. Người nói tận dụng những điều kiện thuận lợi đó, thường chọn cách nói tiết kiệm nhất và hữu hiệu nhất, chỉ nói trực tiếp, bằng hiển ngôn, cái tối thiểu cần phải nói, đủ để gợi ý cho người đối thoại từ điều đã trực tiếp nói ra đó và (những) điều quan yếu (relevant) nhưng đã biết hoặc có thể coi như đã biết rồi nên không nói ra (tiền giả định), suy ra mà tự hiểu lấy ý người nói muốn nói, suy ra hàm ngôn. Tức là người nói gợi ra ở người đối thoại một suy lí để đi đến có được một nhận thức, những ý nghĩ như người nói yêu cầu. Hình thức suy lí này chúng tôi đã đề nghị gọi là suy ý: từ một điều nói ra trực tiếp A suy ra cái điều nói gián tiếp, cái ý muốn nói B12. Đây là một hình thức suy lí đặc biệt: từ những tiền đề (hiển ngôn và tiền giả định) có những nội dung logic (giá trị chân lí) và/hoặc những nội dung tình thái (giá trị dĩ ngôn) nhất định, rút ra kết luận (hàm ngôn) có một nội dung logic-tình thái có khác, có khi khác nhiều, thậm chí trái ngược lại, vì có khi người nói nói ra một điều này, nhưng thật ra là nhằm để nói một điều khác. Thí dụ, câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo nói với vua khi đứng trước nạn xâm lăng của quân Nguyên:

(41) Xin bệ hạ hãy chém đầu thần trước rồi sẽ hàng!

đâu có phải là một lời yêu cầu, mà là một lời đanh thép nói lên cái ý: “kiên quyết không hàng!”, và có thể hiểu đây là một lời khuyên: “Xin bệ hạ quyết chiến!”, mà cũng có thể hiểu là một lời thề, nhưng khuyên hay thề đều là nhằm cổ vũ lòng quyết tâm chống giặc đến cùng.

4.2. Hàm ngôn, kết luận của suy ý, thường có thể không hoàn toàn xác định, và là một nội dung mở. Cùng một lời, nhưng tuỳ người, tuỳ hoàn cảnh phát ngôn, có thể hiểu ít nhiều khác nhau về cái ý muốn nói. Thí dụ:

(42) Thử hỏi có người con nào như anh hay không?

Đây là một câu hỏi nhưng nêu ra là để gợi ý cho người đối thoại tự trả lời và tự kết luận. Hàm ngôn có giá trị chân lí là một sự phủ định: “không có người con nào (chẳng hạn đối xử với cha mẹ tệ bạc) như anh cả” và có giá trị dĩ ngôn của một lời phê phán, chê trách, lên án, v.v. Người đối thoại tự rút ra kết luận, tự suy nghĩ về cái ý phê phán, chê trách, lên án này của người nói, và mức độ nhận thức sâu sắc đến đâu là tuỳ ở người đối thoại. Như vậy, với suy ý chúng ta có một hình thức suy lí không phải chỉ diễn ra ở trí óc một người như trong trường hợp ngôn ngữ là công cụ tư duy, mà là diễn ra ở trí óc ở cả người nói và (những) người đối thoại, sự suy lí này căn bản phải giống nhau, dẫn đến những kết luận phù hợp với nhau. Nhưng phù hợp với nhau không có nghĩa là đồng nhất, là nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn, và thực tế là nhiều khi có khác nhau. Không có một sự chính xác tuyệt đối, và suy ý là một hình thức suy lí gần đúng (approximate raisonning) điển hình, theo quan niệm của J. L. Zadeh.

4.3. Suy ý là hình thức suy lí, những quy tắc suy ý dựa trên quy tắc suy lí logic, nhưng suy ý cũng có những quy tắc riêng. Thí dụ, từ:

(43) Chiều nay nếu trời đẹp tôi sẽ đi chơi.

thường có thể hiểu rằng: “nếu trời mưa (không đẹp) thì tôi ở nhà, có phần chắc như vậy”. Đây là kết luận của một suy ý, theo quy tắc:

- Nói: Nếu P thì Q. Vậy có thể hiểu là: Nếu không P thì có phần chắc là không Q.

Hoặc từ:

(44) Trong đoàn khách du lịch này có hai người nói tiếng Pháp.

thường có thể hiểu là: “những người khác trong đoàn không nói tiếng Pháp”. Đây là kết luận của một suy ý, theo quy tắc:

- Nói: Những phần tử X1, X2,... Xi trong tập hợp S {X1, X2,... Xi, Xj..., Xn} là a (mà không nói về những phần tử khác). Vậy có thể hiểu là: Những phần tử còn lại: Xj..., Xn trong tập hợp S là không a.

Có một thí dụ “đã làm đau đầu các nhà logic học” (R. Posner)13. Có một thuyền trưởng trên một chiếc tàu là người thuộc phái ủng hộ luật cấm rượu (ở Mĩ, những năm 1920 - 1933), nhưng thuyền phó lại là người thường say rượu, thuyền trưởng không ưa. Một hôm, trong phiên trực của mình, nhận thấy thuyền phó lại say rượu, thuyền trưởng bực mình, ghi vào sổ nhật kí hàng hải nhận xét: “Hôm nay, 23 tháng ba, thuyền phó say rượu”. ít hôm sau, đến phiên trực của mình, thuyền phó thấy lời nhận xét đó, tức mình, suy nghĩ rồi cũng ghi vào sổ nhật kí: “Hôm nay, 26 tháng ba, thuyền trưởng không say rượu”. Về lí thì đây là một nhận xét đúng sự thật, nhưng về ý thì từ nhận xét ấy có thể hiểu là: “Thuyền trưởng là người thường uống rượu, thường say rượu”, mà đó lại là điều không đúng sự thật. Thuyền phó đã lợi dụng quy tắc suy ý (ở đây là một hàm ý hội thoại, theo H.P. Grice): Nếu thông báo một điều không có gì đáng thông báo cả, thì thường phải hiểu là điều đó thật ra có gì đó là không bình thường. Vì suy ý là một hình thức suy lí, nên những quy tắc suy ý có tính phổ quát, phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ tự nhiên. Nhưng suy ý là một hình thức suy lí gần đúng, lại phụ thuộc nhiều vào ngữ huống, nên quy tắc suy ý thường không chặt chẽ như những quy tắc suy lí logic.

5.1. Tương ứng với các toán tử trong logic, ngôn ngữ tự nhiên dùng trong giao tiếp sử dụng hàng loạt toán tử mà chúng tôi đã đề nghị gọi là toán tử logic-tình thái14. Có những toán tử logic-tình thái có tác dụng đơn giản tạo ra giá trị chân lí và/hoặc giá trị dĩ ngôn của lời. Thí dụ, với các toán tử logic-tình thái đâu, đấy, có... đâu, đâu... có:

(45) Tôi không biết đâu.

là một lời phủ định - thuyết phục: “tôi không biết, và anh hãy tin như vậy đừng có nghĩ là tôi biết”. (So sánh: Tôi không biết).

(46) Tôi có biết đấy.

là một lời khẳng định - thuyết phục: “tôi có biết, và anh hãy tin như vậy, đừng có nghĩ là tôi không biết”. (So sánh: Tôi có biết).

(47) Tôi có biết đâu.

là một lời phủ định - bác bỏ: “tôi không biết, không phải là tôi biết, như anh nói, hoặc như anh nghĩ”. (So sánh: Tôi biết).

(48) Tôi đâu có biết.

cũng là một lời phủ định - bác bỏ như (47), nhưng với ý bác bỏ càng mạnh hơn, dứt khoát hơn. (So sánh: Tôi biết). Có những toán tử logic-tình thái có tác dụng thực tại hoá một tiền giả định và trên cơ sở đó tạo ra hàm ngôn, và như vậy làm cho lời trở thành có một cấu trúc logic - ngữ nghĩa nhiều tầng (tiền giả định - hiển ngôn - hàm ngôn). Những toán tử logic-tình thái này gợi ra một suy ý mà kết luận là hàm ngôn. Thí dụ, với toán tử cũng còn... nữa là:

(49) (- Hôm nay đi có kịp không?) - Mai đi cũng còn kịp nữa là.

“Mai đi kịp” (hiển ngôn), mà “mai là muộn hơn hôm nay” (một loại tiên đề, có giá trị một tiền giả định); vậy “hôm nay đi nhất định là kịp” (kết luận, hàm ngôn).

5.2. Nếu trong logic chỉ có một số lượng hạn chế rất ít toán tử (các kết tố mệnh đề ∧, ∨, −, ∽; các lượng từ phổ biến ∀, lượng từ tồn tại ∃, v.v.), thì trong ngôn ngữ tự nhiên số lượng toán tử logic-tình thái là rất nhiều, phải đến con số hàng mấy trăm. Tương ứng với kết tố mệnh đề kéo theo - (P - Q) chẳng hạn, trong tiếng Việt không phải chỉ có nếu (P) thì (Q), mà còn có nếu như (P) thì (Q), nếu quả (P) thì (Q), giá như (P) thì (Q), nhược bằng (P) thì (Q), hễ (P) thì (Q), hễ cứ (P) thì (Q), nếu mà (P) thì (Q), (P) thì (Q), hễ (P) (Q), đã (P) (Q), (P) (Q), (P) nếu (Q), (P) nếu như (Q), (P) nếu quả (Q), (P) trừ phi (Q), v.v. Những toán tử logic-tình thái trên đây không phải là đồng nghĩa hoặc hoàn toàn đồng nghĩa, vì ngoài nội dung thuần tuý logic của phép kéo theo còn có nội dung hàm ngôn rất phong phú. Một thí dụ điển hình trong tiếng Việt là toán tử trừ phi.

P trừ phi Q khẳng định P trừ trường hợp Q, nói cách khác, khẳng định khả năng P với điều kiện nếu như không Q (không Q là điều kiện đủ để có khả năng P), với hàm ý nếu như Q thì trái lại có khả năng không P (không Q là điều kiện cần để có khả năng P), tức là P, trừ phi Q có nội dung logic:

(50) P - ∽ Q. (P, nếu không Q). Q - ∽ P. (nếu Q thì không P).

Nhưng tuỳ theo tiền giả định được thực tại hoá khác nhau, về khả năng Q (hay không Q) và về P (hay không P), mà cấu trúc P, trừ phi Q có thể dùng để tạo ra những lời với nội dung logic-tình thái rất khác nhau. Thí dụ:

(51) Năm nay sẽ được mùa, trừ phi có thiên tai (“mà thiên tai thì ít có khả năng, vậy có nhiều khả năng là được mùa”). (52) Bệnh này không thể qua khỏi, trừ phi có thuốc tiên (“mà thuốc tiên thì làm gì có, vậy bệnh chắc chắn là không qua khỏi”). (53) Bệnh này vào loại khó qua khỏi, trừ phi phát hiện được rất sớm (“mà cụ thể trong trường hợp này là bệnh đã được phát hiện tương đối sớm, vậy may ra bệnh cũng có thể qua khỏi”). (54) Nó không bao giờ xem tivi, trừ phi có bóng đá.

Có sáu trường hợp:

1. (“mà nó lại đang xem tivi, vậy đang có truyền hình về bóng đá”).
2. (“mà hôm nay nó không xem tivi, vậy không có truyền hình về bóng đá”).
3. (“mà chương trình tivi hôm nay có truyền hình về bóng đá, vậy thế nào nó cũng xem tivi”).
4. (“mà chương trình hôm nay không có truyền hình về bóng đá, vậy chắc chắn là nó không xem ti vi”).
5. (“mà hôm nay nó lại xem tivi, tuy rằng không có truyền hình về bóng đá; vậy tất phải có điều gì đó không bình thường”).
6. (“mà hôm nay nó lại không xem tivi, tuy rằng có truyền hình về bóng đá; vậy tất phải có điều gì đó không bình thường”).

Không kể còn có thêm hai trường hợp nữa, chỉ nói về một nhận xét chung:

1. (“vậy nó là người ít thích xem tivi”). 2. (“vậy nó là người mê bóng đá”)15.

Trên đây chỉ là những trường hợp điển hình, còn có những trường hợp khác nữa. Cùng một kiểu câu P, trừ phi Q, nhưng khi thành lời cụ thể thì tuỳ hoàn cảnh phát ngôn, có thể có những kiểu hàm ngôn rất khác nhau. Tuỳ hoàn cảnh phát ngôn cụ thể, nội dung logic-tình thái còn có thể được cụ thể hoá thêm nữa, có thêm nội dung tác động dụng ngôn, để trở thành nội dung logic-tình thái của từng lời cụ thể. Thí dụ:

(55) Nó không chịu thú nhận, trừ phi anh có đủ chứng cớ.

Đây có thể là một lời đoan chắc (“...mà anh thì tôi biết là không có chứng cớ, vậy nó không chịu thú nhận đâu”), hoặc một lời khuyên “(...mà anh thì không có chứng cớ, vậy đừng hỏi nó làm gì vô ích, tốt hơn là anh hãy tìm đủ chứng cớ”), hoặc một nhận xét để góp ý (“...nó là một đứa ngoan cố, anh phải biết như vậy để có cách đối phó”), v.v... Và có thể có những trường hợp nội dung hàm ngôn khá tế nhị, rất khó phân tích để xác định chính xác, mà có lẽ chỉ bản thân những người đối thoại (người trong cuộc) mới có thể hiểu được đầy đủ. Thí dụ, lời của một thanh niên nói với người yêu:

(56) Mai anh sẽ đến nhà em, trừ phi em không muốn.

Người nói muốn nói gì? Cũng phải qua suy ý mới hiểu được, mà suy ý thì nhiều khi phải dựa phần lớn vào những tiền đề do ngữ huống cung cấp. Ngữ huống là một loại bối cảnh. Logic của ngôn ngữ tự nhiên, như vậy, là một loại logic phụ thuộc bối cảnh điển hình.

5.3. Phần lớn các toán tử logic-tình thái có hình thức tương đương trong các ngôn ngữ. Một trường hợp thú vị là hiện tượng dùng cấu trúc kiểu Tôi nghĩ rằng (P), trong đó có một động từ biểu thị tâm lí - tình cảm dùng như động từ trong ngoặc (parenthetical verbs)16, làm toán tử logic-tình thái là phổ biến trong nhiều ngôn ngữ. So sánh những toán tử logic-tình thái Tôi nghĩ rằng, Tôi cho rằng, (Tôi) tiếc rằng trong tiếng Việt với I think (that), I suppose (that), I believe (that), I regret (that) trong tiếng Anh; Je pense (que), Je trouve que, Je suppose (que), Je regrette que trong tiếng Pháp; (ja) dumaju chto, Jaschitaju chto, (ja) sozhaleju chto trong tiếng Nga. Thường có hình thức tương đương, nhưng không hoàn toàn. Tôi cho rằng (P), (P) nhưng (Q), (P) vả lại (Q) trong tiếng Việt có những tương đương trong tiếng Pháp Je trouve que, mais d'ailleurs, thoạt mới nhìn tưởng là tương đương hoàn toàn. O. Ducrot và những cộng sự của ông đã miêu tả tỉ mỉ chức năng logic - ngữ nghĩa của những toán tử logic-tình thái này trong tiếng Pháp (tuy vẫn quan niệm là từ, không quan niệm là toán tử), đặt chúng trong các cấu trúc Je trouve que P, P mais Q, P d'ailleus Q17. Đối chiếu với tiếng Việt thấy có khá nhiều trường hợp mais không tương đương với nhưng, d'ailleurs không tương đương với vả lại, và cả je trouve que cũng không phải là tương đương hoàn toàn với tôi cho rằng.

Mỗi ngôn ngữ tự nhiên có hệ thống toán tử logic-tình thái của mình, với một số đặc trưng riêng, trong đó có một số toán tử không có tương đương trong các ngôn ngữ khác. Toán tử logic-tình thái (A) với (B) (AB là một từ song tiết) trong tiếng Việt (Nhà với cửa! Chồng với con!) có lẽ khó có tương đương trong nhiều ngôn ngữ. Có khi nội dung được diễn đạt bằng hàm ngôn trong một ngôn ngữ này nhờ sử dụng toán tử logic-tình thái, lại chỉ có thể diễn đạt bằng hiển ngôn trong một ngôn ngữ khác. Mà nói bằng hàm ngôn khác nói bằng hiển ngôn, thường nói bằng hàm ngôn thì có thể nói được nhiều hơn, sâu sắc hơn. Cho nên có những trường hợp không thể dịch gọi là tuyệt đối trung thành từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Hệ thống toán tử logic-tình thái biểu hiện cái phong phú của một ngôn ngữ, khả năng diễn đạt những gì tinh tế, tế nhị trong cảm nghĩ để có thể trao đổi với người khác hoặc tác động đến cảm nghĩ của người khác. Có thể nói rằng nó là cái đặc trưng riêng của logic của mỗi ngôn ngữ tự nhiên.

6.1. Như vậy, ngôn ngữ tự nhiên, dùng trong giao tiếp, có logic riêng của nó. Logic này có hệ thống giá trị chân lí và giá trị dĩ ngôn của câu lời, phát ngôn; có hệ thống những toán tử logic-tình thái, cho phép từ một số lượng câu hữu hạn tạo ra câu - lời với số lượng vô hạn; và có những quy tắc suy lí riêng (quy tắc suy ý) để từ những điều nói ra suy ra những điều muốn nói. Có thể gọi đây là logic giao tiếp, có một số đặc trưng khác với logic có thể gọi là logic tư duy, đối tượng của logic học. Logic giao tiếp dựa trên logic tư duy, lấy logic tư duy làm cơ sở, nhưng nó phong phú hơn và cũng phức tạp hơn. Nó là một loại logic mờ, logic xác suất, logic phụ thuộc bối cảnh. Và vì phụ thuộc bối cảnh nên khó có thể có một sự hình thức hoá triệt để. Nó có tính phổ quát, chung cho các ngôn ngữ tự nhiên, tuy rằng mỗi ngôn ngữ tự nhiên có một số đặc trưng của hệ thống toán tử của mình (toán tử logic-tình thái). Mặt khác, logic tư duy cũng có thể có những đặc điểm khác với logic giao tiếp. Hai logic có một cái lõi chung, và phải chăng đây thật ra là hai hình thức của cùng một logic, của “logic nhận thức”?

6.2. Nếu có một logic của ngôn ngữ tự nhiên, thì vấn đề đặt ra là cần vận dụng một cách tổng hợp các phương pháp logic học, phát hiện và miêu tả nó. Công việc sẽ có một ý nghĩa không nhỏ về lí thuyết cũng như thực tiễn, góp phần giải quyết một nhiệm vụ cơ bản của ngôn ngữ học, đồng thời cũng góp phần soi sáng một số vấn đề logic học. Nhưng đây là một công việc cực kì khó khăn và lâu dài, đòi hỏi một sự cộng tác giữa hai ngành khoa học, ngôn ngữ học và logic học. Phải chăng đó chính là nhiệm vụ của một bộ môn ngôn ngữ học có tính chất liên ngành đang cần xây dựng, logic-ngôn ngữ học18, bên cạnh các bộ môn có tính chất liên ngành khác, tâm lí-ngôn ngữ học, dân tộc-ngôn ngữ học, xã hội-ngôn ngữ học, thần kinh-ngôn ngữ học, ngôn ngữ học toán học, v.v...?

1988

Nguồn: HOÀNG PHÊ - Tuyển tập Ngôn ngữ học.
NXB Đã Nẵng 2008.

Chú thích:

1 Tất cả những gì mà các nhà ngôn ngữ học luôn luôn muốn biết về logic, nhưng đã ngượng không dám hỏi” (vế sau ghi ở dạng chú thêm) Tham khảo J. D. McCawley, Everything that Linguists have Always Wanted to Know about Logic, but were ashamed to ask. Chicago, 1981.

2 Ngôn ngữ trong khoảng mười năm lại đây; hoặc: Nguyễn Đức Dân Lôgich. Ngữ nghĩa. Cú pháp. H., 1987.

3 Foundations of Logico-linguistics. Dordrecht, Boston, 1979, tr. 1, tr. 12.

4 nt, tr. 1.

5 O. Ducrot. Logique et linguistique. - Tạp chí Nomanh, Juin 1966, tr. 27.

6 Tham khảo G. Lakoff. Linguistique et logique naturelle. (Nguyên văn tiếng Anh: Linguistics and Natural Logic. 1970). Paris, 1976.

7 Tham khảo J. Searle, D. Vanderveken. The Foundations of illocutionary Logic. Cambridge, 1984. (Chúng tôi chỉ có điều kiện tham khảo chương 2. Basic notions of calculus of speech acts, qua bản dịch tiếng Nga trong Novoe v zarubezhnoj lingvistike, tập XVIII. Moskva, 1986, tr. 242-262).

8 D. Vanderveken. Illocutionary logic and self-defeating speech acts. Trong J. R. Searle, F. Kiefer and M. Bierwisch (eds.). Speech Act Theory and Pragmatics Dordrecht - Boston - London, 1980, tr. 247.

9 Tôi dùng thuật ngữ dĩ ngôn (illocutionary) ở đây với nội dung khái niệm có rộng hơn so với bình thường; nó bao hàm cả khái niệm dụng ngôn (perlocutionary).

10 Nội dung logic và nội dung tình thái tương ứng, nhưng không hoàn toàn, với khái niệm dictum và modalité của Ch. Bally.

11 Tham khảo bài Thử vận dụng logic mờ nghiên cứu một số vấn đề ngữ nghĩa, tr. 120.

12 Tham khảo bài Ngữ nghĩa của lời, tr. 34. Khái niệm suy ý rộng hơn khái niệm hàm ý hội thoại (conversational implicature) của H. P. Grice (tham khảo H. P. Grice conversational implicature. - trong: P. Coleand, J. L. Morgan (eds). Syntax and Semantics. vol. 3. New York, San Francisco London, 1975, tr. 41-58. D. Gordon và G. Lakoff có nêu khái niệm tiên đề hội thoại (tham khảo D. Gordon and G. Lakoff. Conversational postulates. - trong: Syntax and Semantics. vol. 3, 1975, tr. 83-106). Đây là một loại tiên đề sử dụng như tiền đề trong suy ý.

13 R. Posner. Semantics and pragmatics of sentence connectives in natural language. Trong: J. R. Searie, F. Kiefer and M. Bierwisch (eds). Speech Act Theory and Pragmatics. Dordrecht - Boston - London, 1980, tr. 179.

14 Tham khảo bài Toán tử logic-tình thái, tr. 90.

15 Trong những bài viết trước đây (1984, 1985), về toán tử logic-tình thái trừ phi chúng tôi chỉ nêu ra được có năm trường hợp sử dụng điển hình.

16 Về khái niệm động từ trong ngoặc, tham khảo J. O. Urmson Parenthetical verbs. - Trong Ch. E. Cole (ed). Philosophy and Ordinary Language. Urbana 1963, tr. 220-240.

17 Tham khảo O. Ducrot et al. Les mots du discours. Paris, 1980. Các bài: Je trouve que (O. Ducrot), tr. 57-92. Mats (S. Bruxelles, O. Ducrot, E. Fouquier, J. Gouazé, G. Dos Reis Nunes, A. Rémis), tr. 93-130. D' ailleurs (N. Bourcier, O. Ducrot, E. Fouquier, J. Gouazé, L. Maury, T. B. Nguyên, L. Ragunet de Saint Alban), tr. 193-232.

18 Dĩ nhiên, logic-ngôn ngữ học, như quan niệm ở đây, khác với logic-ngôn ngữ học theo quan niệm của W. S. Cooper (x. chú thích 3 ở trên). Khác về đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu.

 

 

Bài đăng trước:

  • Tiền giả định và hàm ý tiềm tàng trong ngữ nghĩa của từ
  • Những vấn đề lí luận trong thuật ngữ học ở Liên bang Nga
  • CHÂU hay CHU?
  • Bất khả tri
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần cuối)