Ngôn ngữ học

Những vấn đề lí luận trong thuật ngữ học ở Liên bang Nga
     

GS. TS. NGUYỄN VĂN LỢI

SUMMARY
As an inter-disciplinary science (linguistics, logic, etc.), terminology in Russia made basic achievements in theory and practice as early as in the past years of 20th century. From the achievements of Russian terminology, this article presents a number of basic questions that terminology should take care of, i.e. essential conceptions, nature of terminology, structure of terminology, systematicness of terminology, system of terminology and scientific knowledge, terminology as a science, rules of terminology, etc.

Trên phạm vi toàn thế giới, thế kỉ XX là thế kỉ của sự phát triển khoa học, công nghệ dẫn đến sự phát triển hệ thống khái niệm của nhiều chuyên ngành khoa học và sự xuất hiện nhiều lĩnh vực tri thức mới. Sự xuất hiện các khái niệm mới đòi hỏi được “định danh” dẫn đến cuộc “bùng nổ thuật ngữ” - tức là sự xuất hiện ồ ạt các thuật ngữ mới, các trường thuật ngữ mới và các hệ thống thuật ngữ mới.

Trong phạm vi nước Nga, thế kỉ XX chứng kiến những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội và những tiến bộ vượt bậc trong khoa học, công nghệ, kèm theo những cuộc “bùng nổ thuật ngữ” .

Ở Nga, thuật ngữ học với tư cách là bộ môn khoa học liên ngành (ngôn ngữ học, logic học, khoa học luận và các chuyên ngành chủ thể cận kề như toán học, vật lí học, kinh tế học, luật học) đã có những thành tựu to lớn về nghiên cứu lí luận và hoạt động thực tiễn. Về thuật ngữ học ở Nga, trong vòng một thế kỉ, đã xuất bản, công bố hàng chục sách chuyên khảo, giáo trình, giáo khoa, gần 1.600 bài báo, hàng nghìn từ điển thuật ngữ các loại (từ 1950 đến 1979 đã xuất bản 1.650 từ điển thuật ngữ). Nhiều hội nghị, hội thảo về những vấn đề lí luận, phương pháp nghiên cứu và những hoạt động thực tiễn trong khoa học về thuật ngữ được tổ chức; hàng năm, có nhiều luận án tiến sĩ (TS), phó tiến sĩ (PTS) được bảo vệ ở các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học trong cả nước. Nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ học của các tác giả người Nga được dịch và xuất bản ở nước ngoài.

Những vấn đề lí luận và thực tiễn trong nghiên cứu thuật ngữ học trong thế kỉ XX ở Nga được V. M. Leichik tổng kết trong công trình “Thuật ngữ học: đối tượng, phương pháp, cấu trúc1.

Ngoài ra, việc tổng kết những thành tựu trong nghiên cứu lí luận và hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học ở Liên bang Nga trong thế kỉ XX cũng được V. M. Leichik và S. D. Shelovtrình bày trong bài báo “Terminology: Where is Russian Science Today” trên tạp chí quốc tế về thuật ngữ học “LSP & professional communication” năm 20032.

Dưới đây, chúng tôi cố gắng giới thiệu một số những thành tựu về lí luận của trường phái thuật ngữ học Nga trong thế kỉ XX. Những ý kiến, nhận xét được chúng tôi rút ra từ cuốn sách của Leichik, bài báo của Leichik và Shelov, cũng như một vài tài liệu khác.

1. Các thời kì phát triển của thuật ngữ học ở LB Nga trong thế kỉ XX

Theo các tác giả V. M. Leichik và S. D. Shelov ở Nga sự phát triển khoa học về thuật ngữ trải qua 4thời kì.

1. Thời kì chuẩn bị.Bắt đầu từ năm 1780 và kéo dài đến cuối thập niên 20 thế kỉ XX. Đây là thời kì lựa chọn và xử lí sơ bộ các thuật ngữ và xác định các khái niệm chuyên biệt liên quan. Sự bắt đầu thời kì này được đánh dấu bằng việc dịch các thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ học đầu tiên vào năm 1780.

2. Thời kì thứ nhất,từ năm 1930 đến năm 1960. Đặc điểm cơ bản của thời kì này là sự ra đời các lí thuyết và những hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học trên cơ sở đào tạo kĩ thuật của hai chuyên gia là D. S. Lotte và E.K.Drezen. Hai người này đã đưa cách tiếp cận kĩ nghệ vào thuật ngữ học và chính cách tiếp cận này đã mang đến những đóng góp to lớn vào hoạt động thực tiễn quy chuẩn hoá và quốc tế hoá thuật ngữ trong những năm tiếp theo. Ngoài ra, ở thời kì này cần kể đến những đóng góp lớn lao cuả A. A. Reformatskijvà G. O.Vinokur. Các công trình của hai nhà bác học này đã đưa các quan điểm ngôn ngữ học vào sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga.

3. Thời kì thứ hai,kéo dài từ năm 1970 đến 1990. Thời kì này đánh dấu bằng việc thuật ngữ học trở thành một ngành khoa học độc lập. Cách nhìn nhận khác nhau về từ vựng chuyên biệt, những hiệu ứng của các lí thuyết và thực tiễn trong khoa học về thuật ngữ đã hội tụ với những thành tựu trong ngôn ngữ học, logic học và tiến bộ trong công nghệ thông tin đã dẫn đến việc xác định rõ chủ thể và khách thể của thuật ngữ học, đưa ra những cải tiến về phương pháp và góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản của chuyên ngành này.

Thời kì này cũng đặc trưng bằng sự phát triển và hoạt động của các Ủy ban về thuật ngữ trong phạm vi nghiên cứu mang tính hàn lâm cuả các nước cộng hoà thuộcLiên bang Xô viết. Hoạt động thuật ngữ học tại các nước cộng hoà và sự sự phát triển các ngành kĩ thuật đã tạo sự chú ý đến kĩ thuật của công tác quy chuẩn hoá thuật ngữ. Thời kì này, ở Cộng hoà Liên bang Nga đã tổ chức một số hội nghị, hội thảo về thuật ngữ học, hàng chục chuyên khảo đã được viết, gần 20 tuyển tập các bài báo đã được xuất bản, và hơn 100 luận án PTSvà TSđã được bảo vệ. Ngoài ra, hàng nghìn các từ điển bách khoa và từ điển thuật ngữ học, từ từ điển thuật ngữ kĩ thuật tổng hợp, từ điển thuật ngữ khoa học công nghệ chung đến các từ điển chuyên ngành sâu… đã được biên soạn, Thời kì này có sự đóng góp của các nhà khoa học như L.N.Beljaeva, L. I. Borisova, L.Ju. Bujanova, A.S.Gerd, B.N.Golovin, S.V.Grinev, V.P. Danilenko, G.A. Dianova, A. D. Hajutin, T.L. Kandenlaki, R.Ju. Kobrin, Z.I. Komarova, T.B. Kryuchkova,O. D. Mitrofanova,V.I. Mikhailova, S. E. Nikitina, A. V. Superanskaja, V.D. Tabanakova, V.A. Tatarinov, L.B. Tkacheva, N.I.Tolstoj, O.N. Trubachev, N.V. Vasilieva, M.N. Volodina,…

4. Thời kì thứ ba, thập niên cuối cùng của thế kỉ XX. Đặc điểm của thời kì này là việc nghiên cứu thuật ngữ được thực hiện trong bối cảnh sau khi Liên Xô sụp đổ, với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội, khoa học và đánh dấu bằng sự khủng hoảng ở nửa đầu thập niên và những đổi mới ở nửa sau thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, trong thuật ngữ học.

2. Một số khái niệm cơ bản

a. Thuật ngữ

Cho đến nay vẫn không có một định nghĩa được mọi người thừa nhận về khái niệm thuật ngữ (Golovin đưa ra 6 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ). Cách định nghĩa khái niệm thuật ngữ khác nhau ở cách nhìn: “thuật ngữ xác định khái niệm”hay“thuật ngữ xác định và biểu hiện khái niệm. Thật ra, sự khác biệt trong cách trình bày: thuật ngữ gọi tên, xác định, biểu hiện khái niệm phản ánh sự khác biệt về nguyên tắc giữa cách tiếp cận khác nhau với thuật ngữ: từ ngôn ngữ học, kí hiệu học và logic học.

V.M. Leichik quan niệm thuật ngữ là một phức thể đa tầng, gồm tầng nền ngôn ngữ tự nhiên và tầng thượng thuộc về logic. Theo đó, thuật ngữ có cấu tạo: trên - tầng thượng (superstratum) và dưới - tầng nền (substratum), bao bọc hạt nhân thuật ngữ ở giữa, gồm cấu trúc hình thức, cấu trúc chức năng và cấu trúc khái niệm chuyên ngành. Ba cấu trúc này lại tương tác với tầng nền ngôn ngữ và tầng thượng logic.

b. Tập hợp các thuật ngữ tự nhiên và hệ thống thuật ngữ

Từ trước đến nay, trong các giáo trình về từ vựng hay về thuật ngữ học, người ta coi 2 khái niệm hệ thuật ngữ (terminology) hệ thống thuật ngữ (terminological system) là đồng nghĩa. Chẳng hạn, Từ điển Bách khoa Ngôn ngữ học (Nga) định nghĩa hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học (tiếng Nga: лингвистическая терминология) như sau: лингвистическая терминология là toàn bộ từ và tổ hợp từ được dùng trong ngôn ngữ học, để biểu hiện các khái niệm chuyên ngành và gọi tên các đối tượng chính yếu của lĩnh vực khoa học này (tr. 509). Tuy nhiên, V.M. Leichik cho rằng cần phân biệt 2 khái niệm terminology (tập hợp các thuật ngữ) và terminological system (hệ thống thuật ngữ). Cơ sở để phân biệt 2 khái niệm này là mức độ của “tính tự phát”và đối lập với nó -tính có ý thức” trong quá trình hình thành thuật ngữ. Trong thực tế, thuật ngữ được hình thành hoặc bằng cách tự phát, tự nhiên, hoặc được tạo ra một cách có ý thức, theo chủ đích nhất định. Thuật ngữ được hình thành tự phát có thể phản ánh không hoàn toàn đầy đủ, chi tiết và hệ thống các khái niệm chuyên ngành(Ví dụ tên gọi được hình thành tự phát trong ngôn ngữ tự nhiên chỉ các hoá chất như: vàng, đồng, sắt, kiềm, toan…). V. M. Leichik đề nghị gọi toàn bộ các thuật ngữ được hình thành một cách tự phát là terminology- tập hợp thuật ngữ tự nhiên. Toàn bộ thuật ngữ được tạo ra một cách có ý thức, theo chủ đích nhất định được gọi là terminological system - hệ thống thuật ngữ. Khái niệm tập hợp thuật ngữ nằm ở ranh giới giữa ngôn ngữ học và thuật ngữ học, còn hệ thống thuật ngữ là khái niệm riêng của thuật ngữ học.

c. Thuật ngữ học

Trên cơ sở quan niệm về thuật ngữ và sự phân biệt tập hợp thuật ngữ tự nhiênhệ thống thuật ngữ, V.M. Leichik đưa ra quan niệm về thuật ngữ học (tiếng Nga: терминоведение).Theo tác giả, thuật ngữ học là chuyên ngành độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ học trong thế kỉ XX, gồm 2 lĩnh vực chính: thuật ngữ học lí thuyếtthuật ngữ học ứng dụng3. Đối tượng của thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng.

 3. Bản chất của thuật ngữ

Chủ đề Bản chất của thuật ngữđược thảo luận ngay từ khi các công trình của D. S.Lotte và E.K. Drezen lần đầu tiên được công bố. Sau này, chủ đề trên tiếp tục được soi sáng bằng những cơ sở líthuyết của các chuyên gia về ngôn ngữ học (V.V. Vinogradov, A.A. Reformatskij,G.O.Vinokur…) về thuật ngữ học (R. G. Piotrovskij, V.P. Daninenko, S.D. Shelov…), và về logic học (V.V. Ptrov, S.V. Grinjov…). Vấn đề đặt ra là thuật ngữ có được coi là từ hay kết hợp từ của ngôn ngữ tự nhiên hay không? Nói cách khác, thuật ngữ có mang bản chất ngôn ngữ hay không? Sự khác nhau giữa các ý kiến tập trung ở việc xem xét các thuộc tính đặc thù về mặt thực thể, về cấu trúc hình thức và cấu trúc chức năng của thuật ngữ như thế nào (lớn hay nhỏ)? Lotte giữ quan điểm thuật ngữ là từ đặc biệt. Còn Vinokur cho rằng thuật ngữ không phải là từ đặc biệt, mà chỉ là từ với chức năng đặc biệt, và tuyên bố rằng, bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ. Sự bất đồng này có thể được giải quyết, nếu như chúng ta trở lại quan điểm cho rằng thuật ngữ vay mượn từ đơn vị từ vựng chỉ cái được gọi là nền tảng ngôn ngữ của nó, và thuộc tính chính yếu nhất của thuật ngữ vẫn được giữ lại trong bản chất thuật ngữ của nó; tức là, thuật ngữ có khả năng biểu đạt khái niệm chung đặc thù trong hệ thống tất cả khái niệm trong nội bộ lĩnh vực chuyên môn riêng của tri thức hay hoạt động thực tiễn.

Cũng có một số ý kiến cho rằng thuật ngữ không chỉ là từ hay kết hợp từ của ngôn ngữ tự nhiên. Bởi vì, trong một số trường hợp, thuật ngữ có thể là kí hiệu phi ngôn ngữ, như một yếu tố của hệ thống tín hiệu chuyên biệt, mặc dù nội dung khái niệm của tín hiệu này đòi hỏi sự giải thích hay định nghĩa bằng ngôn ngữ tự nhiên. Các tác giả cũng cho rằng phẩm chất là thuật ngữ được tự nó biểu hiện và có tính chất mức độ, xác định bằng thang bậc: có tín hiệu mang tính thuật ngữ nhiều hơn, có tín hiệu mang tính thuật ngữ ít hơn. Và như vậy có thể nói đến “tính thuật ngữ” cuả từ hay tổ hợp từ nào đó.

Do vậy, chỉ khi đã thừa nhận sự tồn tại tầng nền ngôn ngữ trong thuật ngữ, thì mới giải thích được hàng loạt các tiêu chí xác định thuật ngữ có tư cách là từ hay tổ hợp từ.

Về mối quan hệ giữa thuật ngữ và khái niệm, chúng ta thường gặp cách diễn đạt: thuật ngữ xác định khái niệm, thuật ngữ biểu đạt khái niệm, hay thuật ngữ gọi tên khái niệm. Theo Leichik, cách diễn đạt này không chính xác, bởi vì nó không phân biệt khái niệm logic và khái niệm chuyên ngành về khoa học, kĩ thuật, kinh tế v.v., được miêu tả trong các lí thuyết về các lĩnh vực đó. Các tiêu chí của khái niệm logic nằm bên trên, thuộc tầng thượng trong cấu trúc nội dung của thuật ngữ, ngoài cấu trúc ngữ nghĩa thuộc tầng nền ngôn ngữ của nó.

 Do vậy, Leichik đi đến kết luận rằng thuật ngữ là một sản phẩm kết hợp đa tầng, gồm tầng nền ngôn ngữ tự nhiên và tầng thượng thuộc về logic. Tầng thượng (superstratum) ở trên và tầng nền (substratum) ở dưới, bao bọc hạt nhân thuật ngữ, gồm cấu trúc hình thức, chức năng, khái niệm chuyên ngành; ngoài ra, các cấu trúc trên tác động qua lại với tầng nền ngôn ngữ và tầng thượng logic.

4. Thuật ngữ và định nghĩa khái niệm

Mãi đến gần đây vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi: Liệu việc định nghĩa khái niệm có phải là thuộc tính không thể tách rời của thuật ngữ hay không? Nói cách khác, cụ thể hơn, cái gì được xác định trong các tài liệu thuật ngữ (như các từ điển, các văn bản quy chuẩn thuật ngữ) - đó là khái niệm, đối tượng, thuật ngữ, hay làsự định nghĩa thuật ngữ?

Thực tế chứng minh rằng có thể có những thuật ngữ không có xác định khái niệm nói chung, đặc biệt ở các lĩnh vực chuyên môn đang trong quá trình hình thành hoặc đang được cải tổ. Đồng thời, lại có những cách xác định khái niệm “phi ngôn từ” (tức là thuật ngữ được xác định không phải bằng từ hay kết hợp từ của ngôn ngữ tự nhiên, ví dụ, (độ)pH, (chất)CO2). Cuối cùng, lại có những thuật ngữ gồm nhiều sự xác định, tức là, một thuật ngữ ứng với một số định nghĩa xác định nội dung của nó.

 Như vậy, ba đỉnh của tam giác “Thuật ngữ – Khái niệm – Định nghĩa” không phải lúc nào cũng nằm trong quan hệ “một đối một: một thuật ngữ - một khái niệm - một định nghĩa, mà tồn tại trong mối quan hệ tương đối độc lập và khá linh hoạt; ở mỗi đỉnh của tam giác, có thể xuất hiện một, hai yếu tố, hay đôi khi, không có yếu tố nào.

5. Cấu trúc hình thức của thuật ngữ và việc phân tích ngôn ngữ học thuật ngữ

Như đã nói về tầng nền ngôn ngữ của thuật ngữ, theo Leitchik, xét về mặt ngôn ngữ học, thuật ngữ là từ hay tổ hợp từ của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó. Việc phân tích từ góc độ ngôn ngữ học các thuật ngữ - lớp từ vựng chuyên ngành, là nhiệm vụ đầu tiên, thiết yếu nhất của thuật ngữ học và hệ thống thuật ngữ. Phân tích ngôn ngữ học thuật ngữ chính là việc miêu tả cấu trúc ngôn ngữ của thuật ngữ: về đặc điểm cấu tạo từ, đặc trưng cú pháp và ngữ nghĩa của thuật ngữ.. Tuy nhiên, trong việc phân tích cấu trúc của thuật ngữ, nếu chỉ dừng lại ở đó thì vẫn chưa đủ, mà còn phải đi sâu vào phương diện thuật ngữ học của việc phân tích, nhằm đánh giá và lựa chọn thuật ngữ. Về vấn đề này, nên chú ý đến khái niệm yếu tố thuật ngữ, vốn rất hữu ích trong nghiên cứu thuật ngữ, do D.S. Lotte đưa ra và sau đó được V. P. Daninenko, T. L. Kandeljakijhoàn thiện. Thuật ngữ có thể là hình vị trong từ đơn, là từ (thậm chí là kết hợp từ) trong thuật ngữ là từ ghép hay từ tổ; như vậy, thuật ngữ có thể gồm một hay hơn một yếu tố thuật ngữ. Mỗi yếu tố thuật ngữ tương ứng với khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn nào đó. Quan niệm về yếu tố thuật ngữ như trên dẫn đến khái niệm độ dài tối ưu và cấu trúc tối ưu của thuật ngữ, được trình bày theo công thức: n +1 , ở đó n là số lượng các tiêu chí khu biệt của khái niệm chuyên ngành tương ứng do thuật ngữ phản ánh(Ví dụ: цветная фототехника(kĩ thuật ảnh màu), гидроэлектростанция(nhà máy thuỷ điện)). Nếu điều này được chấp nhận, thì khó mà đồng tình với quan niệm của nhiều người cho rằng “thuật ngữ phải ngắn gọn. Trong thực tế những năm gần đây, người ta nhận thấy xu hướng hình thành các thuật ngữ có cấu tạo phức (multi-word: nhiều từ) và các thuật ngữ là tổ hợp từ (term collocation). Ngoài ra, trong thực tế, thuật ngữ là từ đơn xuất hiện với tần số thấp hơn thuật ngữ là từ phức và tổ hợp từ.

Như vậy, việc phân tích từ góc độ ngôn ngữ học cấu trúc hình thức các thuật ngữ là từ phức, từ tổ dẫn đến khái niệm yếu tố thuật ngữ. Khái niệm này cho phép phân biệt về mặt ngữ nghĩa giữa thuật ngữ là từ phức, từ ghép và thuật ngữ là tổ hợp từ. Sự phân biệt này là quan trọng, bởi vì trong từ điển thuật ngữ chỉ bao gồm các thuật ngữ là từ phức, từ ghép; còn thuật ngữ là tổ hợp từ thì không đưa vào từ điển.

6. Tính biến thể và giới hạn của nó trong phạm vi thuật ngữ

Vấn đề về các thuật ngữ là biến thể và giới hạn của các biến thể thuật ngữ là vấn đề quan trọng bậc nhất, xét từ góc độ xác định các quy luật cơ bản trong nghiên cứu thuật ngữ. Chủ đề này được thảo luận ngay từ thời kì hình thành thuật ngữ học ở Nga. Một thời gian dài người ta coi thuật ngữ là từ chuyên môn mà thoả mãn những yêu cầu chuyên biệt, mọi biến thể thuật ngữ(bao gồm biến thể đồng nghĩa và hình thái học) bị gạt bỏ trong quá trình sắp xếp và chuẩn hoá thuật ngữ(trừ biến thể ngắn – dạng thức rút gọn của thuật ngữ). Ngày nay, một quan niệm được nhiều người chấp nhận, rằng khái niệm do thuật ngữ phản ánh được nhận diện như sự giới hạn tự nhiên của các biến thể của thuật ngữ trong nội bộ của cùng một lí thuyết và tương ứng với nó – trong cùng một hệ thống thuật ngữ.

Chấp nhận tính biến thể như thuộc tính không tránh khỏi của thuật ngữ buộc các nhà thuật ngữ học phải đưa vào các tài liệu quy chuẩn hoá những quy chuẩn thuật ngữ và xác định những biến thể của nó. Trong các tài liệu quy chuẩn hoá, người ta đưa ra các khuyến dụng mềm mỏng: “Mỗi một khái niệm được xác định bằng một thuật ngữ được quy chuẩn hoá.

7. Bản chất của hệ thống thuật ngữ

D.S. Lotte đã thảo luận và đưa ra quan niệm về hệ thống thuật ngữ khoa học. Theo ông, hệ thống thuật ngữ khoa học được hiểu là một tập hợp các thuật ngữ đã được sàng lọc, và đối lập với tập hợp các thuật ngữ chưa được sàng lọc. Ngày nay, người ta nói đến hệ thống thuật ngữ đang phát triển mang tính chất chưa hoàn thiện, chưa chặt chẽ về logic và phân biệt với hệ thống thuật ngữ đã được sắp xếp và quy chuẩn một cách hoàn thiện.

Các nhà thuật ngữ học Nga tiếp tục phân biệt hai khái niệm: terminology và terminological system. Terminology bao gồm các thuật ngữ và các mô thức (patern) như các đơn vị của nó; còn terminological systemchỉ gồm các thuật ngữ.

8. Sự phát triển hệ thống thuật ngữ

Từ những năm 40 đến những năm 90 thế kỉ XX, các nhà ngôn ngữ học, thuật ngữ học Nga đã nghiên cứu các bình diện khác nhau của sự hình thành và phát triển hệ thống thuật ngữ. Các nghiên cứu đã miêu tả sự phát triển ngôn ngữ của hệ thống thuật ngữ thuộc các thời kì khác nhau ở Nga. Ngữ nghĩa hoá là phương cách phổ biến để hình thành hệ thống thuật ngữ ở Nga vào thế kỉ XVIII; phái sinh từ là là phương thức chủ yếu để hình thành thuật ngữ thế kỉ XIX; và vay mượn và tích hợp các phương thức là con đường chính để tạo thuật ngữ ở thế kỉ XX.

Phân tích các đặc điểm về logic học và ngôn ngữ học các hệ thống thuật ngữ cho phép đi đến nhận định về hai xu hướng phát triển thuật ngữ. Xu hướng thứ nhất là sự gia tăng số lượng hay việc làm phong phú hệ thống thuật ngữ. Xu hướng thứ hai là sự tăng cường về chất lượng, hay sự chia tách nhánh các hệ thuật ngữ. Sự phát triển thực tại khách quan cũng như tư duy khoa học mà cả hai được biểu hiện trong thực tế ngôn ngữ, là nguyên nhân đẫn đến hai xu hướng trên. Hai xu hướng phát triển thuật ngữ trên được nghiên cứu bằng phương pháp thuật ngữ học lịch đại (diachronic terminology).

9. Vấn đề xây dựng thuật ngữ mới

Việc nghiên cứu quá trình tạo sản thuật ngữ mới cần được giải quyết trên cơ sở các khái niệm và quan điểm cơ bản của lí thuyết định danh từ mới (neology) - bộ môn chuyên nghiên cứu lí luận và thực tế tạo sản từ mới. Từ đó cần làm sáng tỏ những đặc thù của việc hình thành thuật ngữ mới (terminological neologism). Nhà ngôn ngữ Nga V. G. Gak, V.V.Lopatin, nhà ngôn ngữ học Pháp L.Wilbert và nhà ngôn ngữ học Canada G. Rondeau lần đầu tiên đã miêu tả một cách hệ thống các thuật ngữ mới xuất hiện, đặc trưng ngữ nghĩa của chúng là gì, tiêu chí nào để chúng được coi là thuật ngữ mới, vì sao chúng được lựa chọn để biểu đạt các khái niệm mới. Các tác giả đã áp dụng líthuyết định danh vào nghiên cứu thuật ngữ mới và xây dựng một nhánh mới củathuật ngữ học - đó là lí thuyết về thuật ngữ mới: neonym.

10. Yếu tố tự phát/có chủ đích, tự nhiên/nhân tạo trong hệ thống thuật ngữ

Một số nhà khoa học cho rằng, khác với từ nói chung, tính “có chủ đích”, “có ý thức” là tiêu chí khu biệt của thuật ngữ. Thật ra, trái với tính “tự phát, tính“có chủ đích” là đặc thù của sự lựa chọn (cách nào đó) để tạo ra thuật ngữ. Do vậy, không nên nói đến tính “có chủ đích” như đặc tính cố hữu của thuật ngữ (đối lập tính “tính tự phát”cuả từ vựng nói chung), mà đúng hơn có thể nói về tính “có chủ đích” trong hoạt động thực tiễn thuật ngữ học (tạo sản, điển chế, quy chuẩn hoá).

11. Hệ thống thuật ngữ học và tri thức khoa học

Vấn đề này được các nhà logic học và triết học thảo luận từ góc nhìn phương pháp luận. Những nghiên cứu chỉ ra rằng không có mối liên hệ phụ thuộc trực tiếp giữa sự lớn mạnh của tri thức khoa học và sự phát triển của hệ thống thuật ngữ. Bởi lẽ, một mặt cấu trúc của hệ thống thuật ngữ và việc lựa chọn chúng có thể nằm ngoài tri thức của chuyên ngành khoa học. Mặt khác, có những thuật ngữ ra đời, khi mà đối tượng chưa được phát hiện, các thuật ngữ đó mang tính dự báo hay giả định. Cuối cùng,hệ thống thuật ngữ có thể được phát triển hoàn toàn mang tính có chủ đích và không phụ thuộc vào tri thức lí thuyết khoa học .

12. Thuật ngữ và văn bản

Các nhà khoa học chỉ ra rằng thuật ngữ không chỉ xuất hiện trong các văn bản khoa học, kĩ thuật mà còn có ở cả các văn bản thông thường, thậm chí trong các tác phẩm nghệ thuật. Về quan hệ thuật ngữ và văn bản có 2 cách tiếp cận: 1. Phân tích văn bản học các thuật ngữ (từ thuật ngữ đến văn bản)và2. Phân tích thuật ngữ học văn bản (từ văn bản đến thuật ngữ).

13. Thuật ngữ học với tư cách là một khoa học

Hiện nay, vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi: Thuật ngữ học có phải là bộ môn khoa học độc lập hay không?Người ta cũng thảo luận về sự đóng góp của các khoa học khác đối với thuật ngữ học. Nhà khoa học Áo E.Wuster cho rằng thuật ngữ học nằm giữa ngôn ngữ học, logic học, bản thể học, lí thuyết thông tin, các khoa học chuyên ngành chủ thể liên quan. Các nhà khoa học Nga lại cho rằng ngôn ngữ học, logic học, tâm lí học, điều khiển học, lí thuyết thông tin, lí thuyết về các hệ thống và các ngành khoa học khác là các ngành khoa học cận kề và góp phần phát triển thuật ngữ học.

Thuật ngữ học liên quan đến khoa học xã hội, đặc biệt các ngành khoa học được gọi là khoa học về các phương pháp (bao gồm logic học, tâm lí học, lí thuyết thông tin, lí thuyết về hệ thống).

Một vấn đề khác cần giải quyết là thuật ngữ học nằm ở đâu trong ngôn ngữ học. Các nhà ngôn ngữ học và thuật ngữ học cho rằng thuật ngữ học thuộc về ngôn ngữ học hiện đại, bởi vì hệ thống thuật ngữ học được tạo nên bởi các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ tự nhiên và đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học là đơn vị ngôn ngữ. Tuy nhiên, xem xét mối quan hệ giữa thuật ngữ học và ngôn ngữ học cần chú ý đến một số thực tế sau đây:

Thứ nhất, đối tượng của thuật ngữ học không chỉ là thuật ngữ như là đơn vị từ vựng có mục đích chuyên biệt, mà là hệ thống thuật ngữ, vốn không hoàn toàn là một phạm trù ngôn ngữ học;

Thứ hai, hệ vấn đề của thuật ngữ học lí luận có liên quan đến ngôn ngữ học, nhưng không hoàn toàn thuộc về ngôn ngữ học, chúng có thể thuộc về triết học, logic học. Ngoài ra, phần lớn những vấn đề chính của thuật ngữ học ứng dụng lại không thuộc ngôn ngữ học;

Thứ ba,các phương pháp được áp dụng trong hoạt động thuật ngữ học cũng không đồng nhất với các phương pháp cơ bản của ngôn ngữ học. Các phương pháp chính được áp dụng trong nghiên cứu thuật ngữ là: các phương pháp ngôn ngữ học, triết học, khoa học tri nhận (cognitive science), các phương pháp hình thức, logic biện chứng và logic toán, lí thuyết về phân loại học và kí hiệu học. Một số phương pháp riêng của các khoa học cận kề cũng được áp dụng trong thuật ngữ học, đó là: khoa học máy tính, lí thuyết mã hoá, triết học của các khoa học, lí thuyết về chuẩn hoá. Nhiều bộ môn khoa học khác cũng bổ trợ cho thuật ngữ học: các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn, khoa học kĩ thuật. Từ đó có cơ sở để kết luận rằng, thuật ngữ học là lĩnh vực liên ngành. Nhà khoa học Áo E.Wuster cho rằng, thuật ngữ học nằm trong khu vực đường bao giữa ngôn ngữ học, logic học, bản thể học, khoa học máy tính, và các khoa học chủ thể liên quan (ví như: toán học, vật lí học, hoá học, sinh vật học, khoa học chế tạo máy, luật học, xã hội học, tâm lí học,...). Lí luận và phương pháp của các khoa học chủ thể liên quan có ảnh hưởng rõ rệt đến thuật ngữ học. Wuster cũng cho rằng phần thứ nhất của thuật ngữ học là phần mang tính miêu thuật - tức là miêu tả và phân tích; còn phần thứ hai mang tính chuẩn dụng - tức là đưa ra các quy chuẩn và quy tắc khác nhau.

Như vậy, thuật ngữ học là chuyên ngành được phát triển từ ngôn ngữ học và kết hợp với các lĩnh vực cơ bản và kế cận của các tri thức. Thuật ngữ học lại gồm 2 bộ môn liên quan chặt chẽ với nhau: đó là thuật ngữ học lí thuyết thuật ngữ học ứng dụng.

14. Cấu trúc của thuật ngữ học lí luận

Mối liên hệ cội nguồn và bản thể của thuật ngữ học và ngôn ngữ học biểu hiện ở chỗ các định hướng hoạt động khoa học của hai lĩnh vực giống nhau (nghiên cứu các vấn đề từ vựng, ngữ nghĩa, cấu tạo từ…). Tuy nhiên, nội dung công việc của từng lĩnh vực lại khác nhau. Các khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ học lí luận (loại hình học thuật ngữ học) được các nhà khoa học Nga thảo luận trong nhiều công trình.

15. Vấn đề thuật ngữ học đối chiếu

Khái niệm phân tích đối chiếu trong thuật ngữ học rộng hơn và có một số phương pháp khác với cách hiểu đối chiếu trong ngôn ngữ học. Bởi vì thuật ngữ là từ, từ tổ, cho nên thuật ngữ học cũng giữ lại các phương pháp đối chiếu trong ngôn ngữ học, ví dụ đối chiếu các đơn vị từ vựng của các ngôn ngữ khác nhau về mặt hình thái học, cấu tạo từ, từ vựng, ngữ nghĩa,...

Ngoài ra trong thuật ngữ học đối chiếu còn áp dụng các phương pháp khác:

● Đối chiếu trên cấp độ khái niệm các thuật ngữ, thuộc các hệ thống thuật ngữ khác nhau của cùng một lĩnh vực tri thức;

● Đối chiếu trên cấp độ ngữ nghĩa - phong cách, cấu tạo từ các thuật ngữ với từ không phải là thuật ngữ (ngữ nghĩa, cấu trúc hình thức, chức năng);

● Đối chiếu trên cấp độ logic thuật ngữ với đơn vị thuộc lớp từ vựng khác của ngôn ngữ chuyên môn.

16. Vấn đề thuật ngữ học lịch sử

Cần phân biệt thuật ngữ học lịch sử với lịch sử thuật ngữ học. Thuật ngữ học lịch sử nghiên cứu sự hình thành và phát triển các thuật ngữ, hệ thống thuật ngữ (Ví dụ các nghiên cứu về lịch sử thuật ngữ y học, hoá học, vật lí học, toán học, luật học...). Còn lịch sử thuật ngữ học nghiên cứu sự hình thành và phát triển chuyên ngành thuật ngữ học, các trường phái, quan điểm, phương pháp. Thuật ngữ học lịch sử gần với ngôn ngữ học lịch sử.

17. Các quy luật của thuật ngữ học

Nếu đã coi thuật ngữ học là chuyên ngành khoa học, thì cần phải nghiên cứu các các quan điểm cơ bản, những quy luật, và các xu hướng phát triển của chuyên ngành này.

Người ta cho rằng đối với thuật ngữ học có một số quy luật cơ bản, trong số đó có các quy luật cơ bản của ngôn ngữ học. Quy luật ngôn ngữ học trong khoa học về thuật ngữ xác định xu hướng hoạt động thuật ngữ học ứng dụng như là cách thức đưa cấu trúc ngôn ngữ của thuật ngữ sao cho phù hợp với chức năng thuật ngữ (trong việc điển chế, chuẩn hoá hệ thống thuật ngữ và biên tập các thuật ngữ).

Ngoài ra, trong thuật ngữ học còn có các quy luật khác, như quy luật của logic học, quy luật về tính độc lập tương đối của thuật ngữ đối với các khái niệm chuyên ngành, quy luật về tính bền vững tương đối của thuật ngữ trong phạm vị hệ thống thuật ngữ. Đồng thời, cần nói đến các quy luật riêng của thuật ngữ học liên quan đến bản chất của thuật ngữ làkí hiệu của khái niệm chuyên ngành. Tuy nhiên, vấn đề này còn ít được nghiên cứu.

Những vấn đề cơ bản của thuật ngữ học lí thuyết và ứng dụng gồm:

1. Xác định thuật ngữ;

 2. Vị thế của thuật ngữ với tư cách đơn vị từ vựng;

 3. Ngữ nghĩa thuật ngữ;

 4. “Ngữ pháp” của thuật ngữ;

 5. Lịch sử phát triển thuật ngữ;

 6. Tính chất không đồng loại của thuật ngữ;

 7. Thuật ngữ trong văn bản;

 8. Tính quy ước và tính bị chế định của hệ thống thuật ngữ;

 9. Những cơ sở của chính sách về thuật ngữ;

10. Các bình diện ứng dụng của khoa học về thuật ngữ;

11. Sự thuật ngữ hoá ngôn ngữ;

12. Sự tích hợp các trường phái thuật ngữ học khác nhau;

13. Sự xích gần cách tiếp cận thuật ngữ học với ngôn ngữ học, khoa học luận trong nghiên cứu thuật ngữ.

Trong nghiên cứu thuật ngữ học ở Nga một số vấn đề sau đây đã được thảo luận:

1. Vấn đề độ dài của thuật ngữ (thuật ngữ là từ ghép, từ tổ...);

 2. Vấn đề xác định trường thuật ngữ;

3. Vấn đề xác định tính thuật ngữ (hiểu tính thuật ngữ như là tiêu chí của thuật ngữ hay của hệ thống thuật ngữ);

4. Vấn đề xác định vị trí của thuật ngữ trong từ vựng của ngôn ngữ chuyên ngành.

 Trong thuật ngữ học ở Nga, còn có một số vấn đề thuật ngữ học lí luận chưa được giải quyết, chẳng hạn như:

1. Sự cần thiết và hữu ích của sự phản ánh trong thuật ngữ chỉ các tiêu chí chính yếu, khu biệt của khái niệm, và liên quan đến vấn đề này là việc lựa chọn biến thể tối ưu của thuật ngữ để thống nhất;

2. Sự tồn tại cái gọi là các thuật ngữ mang tính xác định;

3. Sự tồn tại “thuật ngữ ngôn ngữ” và “thuật ngữ lời nói”;

4. Quan hệ của các quy luật ngôn ngữ học, logic học, lí thuyết thông tin, và các quy luật riêng của thuật ngữ học.

Kết luận

Một số năm sau khi Liên Xô tan rã, cùng với sự giảm phát trong kinh tế, khoa học, công nghệ, cũng nhận thấy “sự tụt hậu” trong nghiên cứu thuật ngữ học ở Liên bang Nga. Tình hình này được phản ánh qua số lượng luận án về thuật ngữ học được hoàn thành trong đầu thập niên 1990. Nếu năm 1990 có 90 luận án về thuật ngữ học được hoàn thành, thì năm 1991 chỉ có 37, 1992: 41, 1993: 16, 1994: 9, 1995: 27.

Tình trạng khủng hoảng trong thuật ngữ học được khắc phục vào giữa thập niên cuối của thế kỉ XX. Từ năm 1992 đến năm 2002 ở Nga đã xuất bản 50 chuyên khảo, còn từ 2002 đến 2004, đã công bố 16 đầu sách về thuật ngữ học. Trong nghiên cứu lí luận thuật ngữ học ở Nga những năm gần đây, một số vấn đề mới được đặt ra và một số xu hướng mới được hình thành4. Trong số đó, có xu hướng tăng cường việc áp dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận, trước hết là ngữ nghĩa học tri nhận vào thuật ngữ học.

Các nhà thuật ngữ học Nga cho rằng trong tương lai, thuật ngữ học với tư cách là một lĩnh vực khoa học, cần phải chuyển từ việc miêu tả sang việc thuyết giải và đưa ra những hướng dẫn, khuyến dụng phục vụ nhu cầu xã hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Danilenko V. P. 1977,Thuật ngữ học Nga: Thử miêu tả ngôn ngữ học, Moskva (tiếng Nga).

[2] Gerd A. S. 1986, Những cơ sở của từ điển học khoa học - kĩ thuật (Cách biên soạn từ điển thuật ngữ), NXB Đại học Tổng hợp Leningrad.

[3] Grinev-Grinevitch, S. V. 2009,Dẫn luận vào từ điển học thuật ngữ: Làm thế nào biên soạn từ điển nhẹ nhàng và đơn giản? (in lần thứ 3). NXB LIBROKOM, Moskva (tiếng Nga).

[4] Essay on Lexicon, Lexicography, Terminography in Russian, American and Other Cultures, Ed. by Olga Karpova & Faina Kartashkova, Cambridge Scholars Publishing, 2007.

[5] First International Workshop on Terminology and Lexical Semantics (TLS’09). Universite de Montreal (Quebec) Canada, June 19, 2009. Procedings, Ed. by Amparo Alcina, and Marie-Claude L’Homme.

[6] Hartmann R R. K. and Gregory James 2001,Dictionary of Lexicography, London & New York.

]7] Jackson Howard 2002,Lexicography. An Introduction, Roudledge, London & New York.

[8] Kapuller E. L., Leitchik V. M., ChernavinaL. I. , Selov S. D., Jakimovich Ju. K. 1988,Hướng dẫn biên soạn từ điển thuật ngữ (tiếng Nga).

[9] Leichik V. M. 1986,Về tầng nền ngôn ngữ của thuật ngữ: Những vấn đề ngôn ngữ học, No 5 (tiếng Nga).

[10] Leichik V. M., Shelov S. D., “Terminology: Where is Russian Science Today” trên tạp chí “LSP & professional communication” Vol 3, No 1, April 2003-ISN 1601-1929, DSFF/LSP Centre.

[11] Leichik V. M. 2009, Thuật ngữ học: Đối tượng, phương pháp, cấu trúc (in lần thứ tư), NXB LIBROKOM, Moskva (tiếng Nga).

[12] Lotte D. S.,Những cơ sở của vệc xây dựng hệ thuật ngữ khoa học và kĩ thuật. Những vấn đề lí luận và phương pháp, NXB Viện Hàn lâm Khoa học, 1961 (tiếng Nga).

[13] Selov S. D. 1998,Định nghĩa thuật ngữ và cấu trúc khái niệm của hệ thống thuật ngữ, (tiếng Nga).

[14] Wily Martin and Hennie van der Vliet 2003,Design and production of terminological dictionaries. Practical Guide to Lexicography, Ed. by Piet van der Sterkenburg, Amsterdam & Philadelphia.

Theo: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 6(8)/2010.
Bài đăng đã được sự đồng ý của Ban biên tập Tạp chí.

___________________________________________________

1 Sách do NXB LIBROKOM ấn hành (lần thứ tư), 2009, 256 tr. (tiếng Nga).

2 Bài báo được in trong “LSP & Professional Communication” Vol 3, Number 1, April 2003-ISN 1601-1929. DSFF/LSP Centre.

3 Xin lưu ý: Cách hiểu терминоведение(thuật ngữ học) của Leichik gần với cách hiểu terninology (thuật ngữ học) trong Từ điển về từ điển học: Terminology - Lĩnh vực liên quan đến lí luận và các hoạt động thực tiễn, tư liệu hoá và giải thích các thuật ngữ nói chung, và việc sử dụng thuật ngữ trong các lĩnh vực chuyên môn. Như vậy, Leichik dùngтерминологияđể chỉthuật ngữ học, còn terninology chỉ tập hợp các thuật ngữ được hình thành tự phát.

4 Theo các nhà thuật ngữ học Nga, ở các nước phương Tây những năm gần đây, lại có xu hướng giảm việc nghiên cứu lí luận, mà tăng cường các hoạt động thực tiễn trong thuật ngữ học.

Theo: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 6(8)/2010. Bài đăng đã được sự đồng ý của Ban biên tập Tạp chí.

 

 

Bài đăng trước:

  • CHÂU hay CHU?
  • Bất khả tri
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần cuối)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 5)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 4)