Ngôn ngữ học

Bất khả tri
     

LÊ HUY HOÀNG

Có một nhà ngôn ngữ học, mà những quan điểm thiên tài của ông bị người đương thời bỏ quên, mãi sau khi ông mất người ta mới lật giở lại, và thậm chí một trào lưu nghiên cứu tư tưởng của ông được hình thành, đó là nhà ngôn ngữ học người Phổ Wilheim von Humboldt (1767-1835).
 
Humboldt

W.Humboldt

Có một đoạn trong bài viết “Cương yếu ngôn ngữ học đại cương” của ông làm tôi nhớ đến một bài báo tôi đọc cách đây khoảng chục năm, xin trích lại đoạn của Humboldt như sau:

(Nghiên cứu ngôn ngữ) Còn có một khó khăn nữa, đó là con người luôn luôn bị bó buộc trong giới hạn của ngôn ngữ, không thể nào tìm thấy một điểm tựa bên ngoài ngôn ngữ. Nếu như anh muốn thoát khỏi một từ, trực tiếp đề cập đến khái niệm mà từ ngữ đó biểu thị, thì (trừ những đối tượng rất trực quan) chỉ có một con đường duy nhất, đó là dịch từ ngữ đó sang một thứ tiếng khác, nếu không thì anh vẫn phải sử dụng một định nghĩa được xây dựng bởi từ ngữ.

Có thể đoạn này hơi khó hiểu, và các bạn thắc mắc bài báo tôi đọc cách đây chục năm nói về vấn đề gì. Tôi sẽ nói ngay sau đây: bài báo tôi đọc nói về vấn đề hệ quy chiếu và khả năng nhận thức của loài người (đăng trên báo Văn Nghệ – hồi còn là học sinh cấp 2 thì tôi không thể nhớ được tên tác giả).

Bài báo trên đề cập ngay đến quan điểm này của Humboldt: bạn muốn giải thích một từ ngữ, bạn sử dụng những từ ngữ khác; muốn giải thích những từ ngữ đó, bạn lại sử dụng những từ ngữ khác nữa… Mãi mãi là một vòng luẩn quẩn như vậy, lí do là vì ngôn ngữ là một hệ “tự quy chiếu”. Nếu ta muốn nghiên cứu triệt để hệ tự quy chiếu đó, ta phải đứng ở bên ngoài nó.

Giả sử, tiếng Việt là hệ tự quy chiếu, từ điển tiếng Việt chính là cách thể hiện của nó: dùng tiếng Việt để giải thích từ tiếng Việt, sẽ mãi mãi không thể giải thích triệt để. Ví dụ: máu là gì? Máu là chất lỏng màu đỏ tuần hoàn trong cơ thể người, có tác dụng vận chuyển ô-xi, các-bo-nic và dinh dưỡng. Tiếp theo đó, để làm rõ khái niệm “máu”, bạn lại có thể hỏi: chất lỏng là gì? ô-xi là gì? Cơ thể người là gì?… Tóm lại, bạn mãi mãi không biết “máu” là gì!

Chúng ta cần một thứ “siêu ngôn ngữ” để giải thích nó, trong trường hợp này, “siêu ngôn ngữ” là một ngoại ngữ. Ví dụ ta giải thích rằng “máu is blood”, vậy là xong! Đối với ai biết tiếng Anh, họ sẽ hiểu ngay, từ ngữ “máu” trong tiếng Việt được giải thích triệt để (lưu ý: từ “máu” trong tiếng Việt chứ không phải từ “blood” trong tiếng Anh được giải thích ở đây).

Từ đó, bài báo nói rộng hơn, vũ trụ bản thân là một hệ tự quy chiếu, chúng ta đứng trong vũ trụ, là một phần của vũ trụ, vì vậy chúng ta sẽ mãi mãi không thể hiểu hết bản chất của vũ trụ. Nói đơn giản hơn, chúng ta có thể khám phá sao Hoả, nhưng không thể hiểu rõ bản thân mình. Thậm chí bài báo còn đưa ra một nhận xét rằng, vậy thì khoa học chưa chắc đã hơn gì tôn giáo. Tôi tạm gọi đó là một dạng của thuyết “bất khả tri”.

Nếu là chục năm về trước, tôi sẽ thấy nó rất có lý, rất kỳ diệu, rất thú vị – nhưng bây giờ thì tôi tạm gạt bỏ phần “có lý” ra một bên! Cái mà Humboldt nói bên trên, là vấn đề phương pháp nghiên cứu. Phương pháp của ngôn ngữ học miêu tả (ví dụ như L.Bloomfield) là phương pháp quy nạp; nghĩa là tập hợp ngữ liệu, tiến hành so sánh đối chiếu để nhằm tìm ra những nguyên tắc chung nhất cho ngôn ngữ loài người. Vấn đề lớn nhất ở đây mà Humboldt đã nhìn ra là: chúng ta không bao giờ có thể tập hợp đủ ngữ liệu, chỉ cần bỏ sót 1 trường hợp thôi, rất có thể nghiên cứu của chúng ta sẽ trở nên sai lầm. Đó là lí do vì sao không thể nghiên cứu một hệ “tự quy chiếu” khi đứng bên trong nó, dùng nó để miêu tả chính nó. Humboldt cho rằng phương pháp quy nạp kiểu chủ nghĩa kinh nghiệm là không đủ, ông cho rằng phải kết hợp với sự nhận thức lí tính:

Những nhận thức lí tính về chúng (cơ sở ngữ liệu) có thể vượt ra khỏi phạm vi của tài liệu, nhưng nhận thức lí tính luôn luôn phải được tiến hành dựa vào những tài liệu có sẵn.

Humboldt không đưa ra những phương hướng nghiên cứu thật chi tiết cụ thể, mà chỉ lờ mờ nói ra vấn đề. Những gì Humboldt lờ mờ nhận ra đó, hơn 150 năm sau được Noam Chomsky cụ thể hoá bằng cách đưa ra phương pháp diễn dịch cho nghiên cứu ngôn ngữ, và trường phái ngôn ngữ học mới đã ra đời: ngôn ngữ học tạo sinh.

Bài đăng đã được sự đồng ý của tác giả.
Nguồn: huyhoang.thuhoavn.com

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần cuối)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 5)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 4)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 3)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 2)