Ngôn ngữ học

Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 5)
     

GS, TSKH LÝ TOÀN THẮNG

SUMMARY
This is the fourth part of the paper “Systemic Lexicography: An Achivement of Russian and Soviet Linguistics”. Continuing the content of four previous parts, this part presents the concept of “Lexicographical Portret”(LP) proposed by the Moscow Semantic School of Integrated Linguistic Descriptions and Systemic Lexicography. Particularly, every LP concerns all linguistic features (as prosodic, semantic, grammatical, pragmatic and so on) of a lexeme. It is noted about the changes of meaning description of a lexeme in entries ( in comparison with traditional dictionaries).

Như đã có dịp đề cập đến trong những bài trước (x. Từ điển học & Bách khoa thư, s. 1&2-2009, 1&2-2010), lần này chúng tôi sẽ chuyển sang giới thiệu phần cuối cùng về “từ điển học hệ thống” theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thuộc Trường phái nghĩa học Moskva “Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và Từ điển học hệ thống” - đó là vấn đề “chân dung từ điển học” (Лесикографический портрет).

Về cơ bản, đây là ý tưởng của Ю. Апресян, được công bố trong hai bài báo: lần đầu năm 1990 trong một bài đăng ở vựng tập “Вопросы кибернетики. Язык логики и логика языка” (Những vấn đề điều khiển học. Ngôn ngữ của logic và logic của ngôn ngữ) và lần thứ hai năm 1992 trong bài đăng ở tạp chí “Научно-технитическая информация” (Thông tin khoa học - kĩ thuật).

5. Chân dung từ điển học

5.1. Ý tưởng

Như đã trình bày trong các bài viết trước, theo quan điểm các nhà ngôn ngữ học thuộc Trường phái nghĩa học Moskva “Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và Từ điển học hệ thống”, nguyên lí về sự tích hợp (интегральность) đòi hỏi rằng: Đối với mọi sự miêu tả ngôn ngữ học có hai thành tố quan trọng nhất là từ điển và ngữ pháp (ngữ pháp ở đây được hiểu rộng hơn bình thường, là một tập hợp gồm nhiều loại quy tắc của ngôn ngữ). Thông tin chứa trong sự miêu tả này, do vậy, sẽ phải được phân bố tối ưu giữa ngữ pháp và từ điển và điều này đòi hỏi có sự hiệp đồng ăn ý giữa các nhà ngữ pháp học và các nhà từ điển học. Khi biên soạn một từ vị nào đó, nhà từ điển học cần phải nắm được tất cả các quy tắc ngữ pháp liên quan đến từ vị đó; điều này nhiều khi dẫn tới việc là phải đưa một quy tắc ngữ pháp nào đó vào ngay trong mục từ, nếu quy tắc đó chỉ liên quan đến một mình từ vị đó hay một nhóm nhỏ các từ vị. Còn các nhà ngữ pháp học, khi đưa ra một quy tắc nào đó, cần phải bao quát toàn bộ các từ vị chịu sự chi phối của quy tắc đó; và điều này có thể dẫn tới việc phải đưa vào trong quy tắc ngữ pháp đó thông tin về một số từ vị cụ thể, cần thiết nào đó.

Ta hãy đi sâu thêm, tìm hiểu kĩ hơn ý tưởng này của Апресян.

Việc chúng ta đòi hỏi từ điển và ngữ pháp phải ăn nhập, đồng thuận với nhau về các thông tin được đưa vào và về các cách thức thể hiện chúng, có lí do sâu xa ở chỗ: chỉ có làm như vậy thì từ điển và ngữ pháp mới có khả năng tương tác được với nhau trong một mô hình ngôn ngữ học thống nhất. Điều này trên thực tế biên soạn từ điển có nghĩa là:

(i) Với mỗi từ vị, ta phải cung cấp rõ ràng, đầy đủ tất cả các thuộc tính của từ vị đó - mà nhờ các thuộc tính này để biết cách dùng các quy tắc “ngữ pháp” vốn được hiểu rộng là bao gồm cả các quy tắc ngôn ngữ về: ngôn điệu, ngữ nghĩa, ngữ dụng, thông báo (коммуникативный), v.v.;

(ii) Mỗi quy tắc ngữ pháp phải được đưa ra trong sự tính toán đến cái điều rằng: thông tin gì nên được cấp về các từ vị (vốn là những cái tạo nên khu vực tác động của quy tắc đó).

5.2. Lược sử

Về mặt lịch sử, khái niệm “chân dung từ điển học” lần đầu được nhắc đến một cách gián tiếp trong Lời tựa sách của А. Жолковский năm 1964, khi ông sử dụng thuật ngữ “портретирование” (phác hoạ/vẽ chân dung) để nói về việc cần phải miểu tả thật đầy đủ các đặc trưng ngữ nghĩa của từ vị và sự đầy đủ này ta có thể đạt tới nếu có được một phạm vi rộng lớn của các ngữ cảnh (контекст) và nếu thử nghiệm áp dụng nó để miêu tả một phạm vi rộng lớn của các tình huống (ситуация). Về sau này, khi nói đến các đặc trưng quan yếu của từ vị xét về mặt từ điển học, người ta mở rộng ra nhiều phạm vi của chúng: không chỉ về các thuộc tính ngữ nghĩa, mà còn về cả khả năng tổ hợp (сочетаемость) của từ vị, thí dụ như trong “Толково-комбинаторный словарь современного русского языка” (Từ điển tường giải - tổ hợp tiếng Nga hiện đại) của Мельчук và Жолковский in năm 1984.

Với sự phát triển của bản thân từ điển học và ngôn ngữ học lí thuyết, có thể nói rằng dần dà đã hình thành một địa hạt nghiên cứu mà tạm thời có thể gọi tên là “лингвистическое портретирование” (tạm dịch: Phác hoạ chân dung ngôn ngữ học) với những tên tuổi như: Апресян, Мельчук, Жолковский, Йорданская, Богулавский, Wierzbicka,… Điều này không có gì lạ, vì kể từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã thức nhận ra một sự thật là: không thể tiếp tục làm việc với một số khái niệm “truyền thống” của ngôn ngữ học như “классы слов” (các lớp từ), và chính là nhờ “ngộ” ra được điều đó mà giới ngôn ngữ học đã sải những bước dài theo hai phương hướng nghiên cứu mới: một là lĩnh vực “đại thế giới” tức “Ngôn ngữ học văn bản”, và hai là lĩnh vực “tiểu thế giới” tức cái mà ta vừa nói đến ở trên về “Phác hoạ chân dung ngôn ngữ học”. Đối tượng được phác hoạ chân dung này có thể là những từ riêng lẻ hay thậm chí là những ý nghĩa riêng lẻ, và chúng được miêu tả với mức độ chi tiết và sự đầy dủ chưa từng thấy trước đây...

5.3. Khái niệm

Có thể xác định như sau về khái niệm “chân dung từ điển học”: đó là “yếu tố” (елемент) của từ điển (theo cách quan niệm của Từ điển học hệ thống về từ điển). Nhưng nó khác cơ bản với cách miêu tả thông thường ở chỗ: nhà từ điển học hệ thống cố gắng đưa ra toàn bộ các thuộc tính ngôn ngữ cơ bản của mỗi một từ vị, theo tinh thần miêu tả tích hợp ngôn ngữ vốn hình dung mỗi từ vị như là một “микромир” (tiểu thế giới) và trong từ điển cái thế giới nhỏ bé vi mô ấy phải được hiển hiện ra nhờ tất cả các mối liên hệ và tương tác vốn xác định cuộc sống của nó trong ngôn ngữ và hành vi ứng xử của nó trong các phát ngôn/câu.

Có thể nêu ra một số đặc trưng nổi bật làm nên sự khác biệt chủ yếu giữa quan niệm “chân dung từ điển học” và các cách cách miêu tả thông thường một từ vị như sau:

(i) Trong chân dung này sẽ có những kiểu thông tin mới về từ vị mà trước đây chưa từng được đưa vào từ điển; thí dụ những thông tin về các thuộc tính như ngôn điệu, ngữ nghĩa, ngữ dụng, thông báo… của từ vị;

(ii) Các thông tin vốn được đưa vào từ điển theo truyền thống trước đây nay được mở rộng ra rất nhiều; thí dụ thông tin về khả năng tổ hợp của từ vị: nếu trước đây chủ yếu là về phương diện từ vựng, thì nay là khả năng tổ hợp về cả ngôn điệu, từ pháp, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, thông báo;

(iii) Cách thức tổ chức thông tin rất khác so với trong các từ điển truyền thống: trước đây người ta thường để riêng các dạng thức cơ bản (ипостась) của từ vị; nhưng nay theo nguyên lí về “chân dung từ điển học” thì trong mục từ phải thấy được sự tương tác qua lại giữa các dạng thức cơ bản này của từ vị;

(iv) Sự khác nhau giữa “chân dung từ điển học” với cách miêu tả trong từ điển truyền thống còn ở cách thức giải thích ý nghĩa từ vựng của từ. Trước đây chúng ta thường hình dung về cấu trúc ngữ nghĩa của từ vị như là chỉ có một “lớp” duy nhất (mà các yếu tố của nó là ngang bằng nhau); trong khi thực ra ý nghĩa là gồm một số lớp khác nhau: khẳng định (ассерция), tiền giả định, khung tình thái, khung quan sát, duyên do (мотивировка). Bản thân cái lớp ngữ nghĩa “khẳng định” trong mỗi lời giải thích này lại được phân ra làm đôi: các thành tố “mạnh” (hiện tồn trong bất kì điều kiện sử dụng nào của từ vị) và các thành tố “yếu” (có thể bị lược bỏ bởi những yếu tố mạnh của ngữ cảnh);

(v) Chân dung từ điển học của từ vị được phác hoạ ra trên cái nền của một “kiểu nhóm từ điển học” (mà ta đã xem xét ở bài viết trước) - tức là một nhóm từ vị có chung các thuộc tính (ngôn điệu, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng,…) và do đó nó đòi hỏi việc miêu tả các từ vị trong nhóm phải rất thống nhất. Điều này cũng có nghiã rằng: trong mỗi mục từ của từ điển cần phải phản ánh những thuộc tính mà từ vị đó, một mặt, “chia sẻ” với những từ vị khác (đây là vấn đề về sự nhất thể hoá, hay về các kiểu nhóm từ điển học); và mặt khác, phản ánh những thuộc tính làm cho từ vị đó “li biệt” với các từ vị khác (đây là vấn đề về sự cá thể hoá, hay về các chân dung từ điển học). Nhóm từ vị càng thú vị bao nhiêu thì số lượng các thuộc tính và các quy tắc ngôn ngữ học liên quan đến nó càng phong phú bấy nhiêu;

(vi) Tất cả mọi thông tin trong từ điển đều được “ghi” bằng cùng một thứ ngôn ngữ hình thức giống như trong ngữ pháp. Cái siêu ngôn ngữ này trong các chân dung từ điển học có khác hơn ở từ điển tường giải thông thường, và thậm chí có phần “xa lạ” nữa (như chúng ta sẽ thấy trong phần minh hoạ cụ thể ở dưới về hai từ выйти ‘ra’ và быть ‘là’ của tiếng Nga).

Trong quan niệm “chân dung từ điển học” về miêu tả từ vị, đáng chú ý nhất là sự đổi mới trong quan niệm về thông tin ngữ nghĩa – cái cốt lõi của mọi từ điển tường giải. Về phương diện này, chẳng hạn, các nhà từ điển học hệ thống cho rằng: không thể có những quy tắc hoàn hảo giải thích ý nghĩa của từ vị nếu trong mục từ không đưa ra được các chức năng từ vựng - tức là những cái như: đồng nghĩa, trái nghĩa, chuyển loại, thượng danh, các phái sinh (дериваты) cú pháp và ngữ nghĩa và các từ hư phục vụ chúng. Mặt khác, trong các “chân dung từ điển học”, người ta cố gắng chỉ ra được những mối liên hệ có lí do giữa các thuộc tính khác nhau của từ vị, như là mối liên hệ giữa ý nghĩa của từ vị về một phía, với các đặc trưng ngôn điệu và mô hình chi phối cú pháp về một phía khác. Ta hãy xem xét một hai thí dụ tiếng Nga.

Trạng từ действительно ‘quả thực, thực vậy’ có ý nghĩa “hàm thực” (фактивный) - trong hai cách dùng điển hình của nó: làm trạng ngữ và làm thành phần chêm xen - đều mang trọng âm chính của ngữ đoạn:

+ trạng ngữ:

- Он подошел к невестке, которая действительно была нездорова ‘Chàng lại gần cô dâu, quả thực là nàng không được khoẻ’

+ chêm xen:

- Она подняла голову. Действительно, загадочные птицы оказались винно-огненными листьями клена. ‘Nàng ngẩng đầu lên. Thực vậy, những con chim bí ẩn đó hoá ra là những chiếc lá phong màu rượu đỏ’.

Trong khi đó các trạng từ có ý nghĩa khác là “ức đoán” (путативный) kiểu như: вероятно ‘có lẽ, chắc là’, вожможно ‘có thể’, thì không bao giờ có khả năng mang trọng âm như vậy.

Hay trường hợp rất thú vị của tính từ настоящий ‘thực thụ, đích thực, chân chính, chính cống’. Tính từ này mang trong nó cả hai ý nghĩa:

+ Ý nghĩa “hàm thực”: “X - настоящий Y”, mà ta có thể giải thích là: ‘X có tất cả các thuộc tính chủng loại của các đối tượng thuộc lớp các Y, và không có bất kỳ thuộc tính chung nào của các đối tượng thuộc các lớp khác’; thí dụ: Я кикогда не видел настоящего носорога ‘Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một con tê giác chính cống’.

+ Ý nghĩa “ức đoán”: “X - настоящий Y”, mà ta có thể giải thích là: ‘X có rất nhiều thuộc tính của các đối tượng thuộc lớp Y cho nên được xem như là hoàn toàn giống với một đối tượng như thế, nhưng vì X không có các thuộc tính chủng loại của các đối tượng thuộc lớp đó cho nên nó không thuộc vào lớp đang xét’; thí dụ: На крыше стояла девушка... настоящая русалка ‘Trên mái nhà có một cô gái… một nàng tiên cá đích thực’.

Để thấy đầy đủ, cụ thể sự khác biệt giữa quan niệm “chân dung từ điển học” và các cách miêu tả thông thường một từ vị trong các từ điển truyền thống, trong bài tới chúng ta sẽ tiếp tục xem xét một “chân dung” như thế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Апресян Ю. Д. (1992), Лесикографический портрет глагола ВЫЙТИ // Вопросы кибернетики. Язык логики и логика языка, Москва.

[2] Апресян Ю. Д. (1992), Лесикографический портрет (на примере глагола БЫТь) // Научно-техническая информация, серия 2, Nо. 3.

[3] Йорданская Л. Н. (1970), Попытка лесикографического толкования групы русских слов со значением чувства // Перевод и прикладная лингвистика, вып. 13, стр. 3-26.

[4] Богулавский И. М. (1985), Исследования по синтаксической семантике. Сферы действия логических слов, Москва.

[5] Жолковский А. К. (1964), Предисловие // Машинный перевод и прикладная лингвистика, вып. 8, стр. 3-16.

[6] Мельчук И. А., Жолковский А. К. (1984), Толково-комбинаторный словарь соврeмeнного русского языка, Виенна.

[7] Wierzbicka A. (1985). Lexicography and Conceptual Analysis. Ann Arbor.

[Còn tiếp; kì sau: 6. Chân dung từ điển học của động từ выйти ‘đi ra’]

Theo: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 3(5)/2010.
Bài đăng đã được sự đồng ý của Ban biên tập Tạp chí và Tác giả.

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 4)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 3)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 2)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 1)
  • Về nghĩa của từ VÕNG GIÁ trong tiếng Việt