Ngôn ngữ học

Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 4)
     

GS, TSKH LÝ TOÀN THẮNG

SUMMARY
This is the fourth part of the paper “Systemic Lexicography: An Achivement of Russian and Soviet Linguistics”. Continuing the content of three previous parts, this part presents the concept of “Lexicographical Type”(LT) proposed by the Moscow Semantic School of Integrated Linguistic Descriptions and Systemic Lexicography. Particularly, it concerns common semantic and grammatical features of lexemes in every LT. An analysis of LT is based on linguistic evidence of the subclass of motion verbs in Russian.

Như chúng tôi đã giới thiệu trong bài báo đầu tiên (x.Từ điển học & Bách khoa thư, s. 1-2009), khi nói đến bộ khung lí thuyết của Từ điển học hệ thống, trước hết cần lưu ý một điều là, nó thường được hình dung như là bao gồm những bộ phận sau:

+ Những vấn đề chung:

- những nguyên lí và khái niệm cơ bản;

- phân loại cơ bản các vị từ (предикат);

- quy tắc tương tác giữa các ý nghĩa.

+ Những vấn đề chuyên sâu hơn:

- “kiểu nhóm từ điển học” (лексикографический тип - viết tắt: ЛТ);

- “chân dung từ điển học”(лексикографический портрет- viết tắt: ЛП) về các từ vị.

Trong ba số tạp chí trước (s. 1, 2-2009 & 1(3)-2010) chúng ta đã lần lượt xem xét vấn đề chung đầu tiên – đó là ba nguyên lí và khái niệm cơ bản của Từ điển học hệ thống (Nguyên lí về tính hệ thống của vốn từ vựng; Nguyên lí về tính tích hợp trong miêu tả ngôn ngữ; và Ý tưởng phục nguyên “Bức tranh ngôn ngữ về thế giới”).

Trong số này, chúng tôi sẽ chuyển sang một phần mới; chúng tôi sẽ giới thiệu về những vấn đề chuyên sâu hơn: Kiểu nhóm từ điển họcChân dung từ điển học.

4. Kiểu nhóm từ điển học

4.1. Ý tưởng

Bất cứ ai đã từng tham gia biên soạn từ điển (đơn ngữ cũng như song ngữ) dù chỉ một lần, cũng đề dễ dàng nhận thấy một điều: Trong ngôn ngữ có những lớp từ vị (классы лексем) nhất định, chúng có chung nhau nhiều thuộc tính, cùng phản ứng như nhau với các quy tắc ngôn ngữ.

Dựa trên nhận xét này, các nhà ngôn ngữ học thuộc Trường phái nghĩa học Moskva “Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và Từ điển học hệ thống” đã đề nghị sử dụng thuật ngữ “лексикографический тип - ЛТ” để gọi những lớp từ vị như thế, và trong bài viết này chúng tôi tạm dịch là: kiểu nhóm từ điển học (để quý bạn đọc tiện theo dõi, trong khi chờ đợi có một thuật ngữ hay hơn).

Chúng ta hãy xem xét một thí dụ minh hoạ cụ thể của Апресян về cái gọi là лексикографический тип này.

Trong tiếng Nga, có một lớp các động từ vận động/chuyển động nhiều hướng (моторно-кратный) kiểu như: ходить(đi), бегать (chạy), летать (bay), плавать (bơi), ездить(đi bằng xe), ползать (bò), водить (đưa, dắt), возить(chở, đèo), носить (mang), v.v. Những động từ này trong các từ điển tường giải tiếng Nga thường được định nghĩa theo một cách nhất định, thí dụ động từ ходить (đi) được giải thích như sau: ‘cũng giống như động từ идти (đi), nhưng khác ở chỗ là ходить (đi) biểu thị sự di chuyển được lặp lại, theo những hướng khác nhau hay là trong những thời gian khác nhau’.

Quả nhiên, một cách giải thích về ngữ nghĩa của nhóm các động từ chuyển động như thế, có những lí do sâu xa của nó. Chẳng hạn, là vì chúng đều có chung một ngữ trị (валеность) về “mục đích” (được biểu thị về mặt hình thức ngữ pháp rất khác nhau); thí dụ:

- ходить/бегатьпо делам/по магазинам(đi/chạy các công việc/cửa hàng); chú ý: trường hợp này danh từ phải ở Tặng cách;

- ходить/бегать на охоту/на танцы (đi/chạy (đến chỗ)săn/ nhảy); chú ý: trường hợp này danh từ phải ở Đối cách;

- ходить/бегать за хлебом, за газетой (đi/chạy (để mua) bánh mì/ báo); chú ý: trường hợp này danh từ phải ở Công cụ cách;

-ходить/бегать купаться (đi/chạy tắm); chú ý: trường hợp này động từ đi sau phải nguyên thể.

Tuy nhiên, theo Апресян, nếu xem xét thật kĩ thì có thể thấy thực ra trong mỗi lời định nghĩa về nhóm động từ này có chứa hai ý nghĩa khác nhau:

(i) ý nghĩa “mắc bận”(занятие), chẳng hạn như trong câu sau:

- Детиходили по двору‘Lũ trẻ đi (loanh quanh) khắp sân’.

(ii) ý nghĩa “hành động”(действие), chẳng hạn như trong thí dụ sau:

- Дети каждый день ходили на уроки‘Lũ trẻ ngày ngày đi học’.

Dựa theo hai ý nghĩa này ta có thể quy nhóm các động từ chuyển động nhiều hướng nói trên về hai kiểu nhóm từ điển học khác nhau (viết tắt: ЛТ1ЛТ2 ). Mỗi ЛТ này bao gồm một số thuộc tính/đặc trưng riêng về ngữ nghĩa, ngữ pháp, khả năng kết hợp, v.v và nó có những quy tắc tương tác riêng với các ý nghĩa ngữ pháp của thể không hoàn thành (несов) tiếng Nga.

Dưới đây ta sẽ đi sâu vào xem xét các thuộc tính/đặc trưng của các “kiểu nhóm từ điển học” qua hai kiểu nhóm ЛТ1ЛТ2 của nhóm các động từ chuyển động nhiều hướng nói trên.             

4. 2. Các đặc trưng của hai kiểu nhóm ЛТ1 và ЛТ2

Có thể nêu ra một số đặc trưng nổi bật làm nên sự khác biệt chủ yếu giữa hai kiểu nhóm này như sau:

4. 2. 1. Các đặc trưng ngữ nghĩa

Về phương diện này, có một sự khác nhau nổi bật giữa hai kiểu nhóm ЛТ1ЛТ2 của nhóm các động từ vận động đang xét, cụ thể là:

(i) Kiểu nhóm ЛТ1. Khi biểu đạt một sự mắc bận công việc (занятие), thì động từ miêu tả sự di chuyển theo các hướng khác nhau trong một không gian - nghĩa là sự di chuyển “đa hướng” (разнонаправленное). Những sự di chuyển kiểu này được tri nhận là diễn ra đồng thời với thời điểm quan sát. Hãy xem lại thí dụ đã dẫn trên:

- Д етиходили по двору‘Lũ trẻ đi (loanh quanh) khắp sân’.

(ii) Kiểu nhóm ЛТ2. Khi biểu đạt một hành động (деиствие), thì động từ miêu tả sự di chuyển từ một không gian này sang một không gian khác và ngược lại - nghĩa là sự di chuyển “nhị hướng” (двухнаправленное). Những sự di chuyển kiểu này được tri nhận là không đồng thời và không trực tiếp liên quan đến thời điểm quan sát. Hãy xem lại thí dụ đã dẫn trên:

- Дети каждый день ходили на уроки‘Lũ trẻ ngày ngày đi học’.

Những câu biểu thị sự di chuyển “nhị hướng” này luôn luôn có ý nghĩa điển hình là “thực - chung” (обше-фактическое) và đòi hỏi động từ của chúng phải ở thời quá khứ không hoàn thành (несов прош), đối lập với các câu có ý nghĩa “thực - cụ thể” (конкретно-фактическое) hoàn thành (сов); chẳng hạn:

+ Không hoàn thành thể (несов):

- Кто открывал окно?‘Ai mở cửa sổ ?’ (vào lúc nào đó thì mở, sau đó thì đóng lại, vào thời điểm quan sát thì cửa sổ đang đóng).

+ Hoàn thành thể (сов):

- Кто открыл окно?‘Ai mở cửa sổ ?’(vào thời điểm quan sát thì cửa sổ đang mở).

Có thể nói đến ở đây một sự khác nhau về ngữ nghĩa nổi bật khác mà truyền thống Nga học hay gọi là “sự chi phối”(управление)của động từ , tức là khả năng các động từ có được về thành phần và số lượng của các tham tố ngữ nghĩa (актант).

Kiểu nhóm ЛТ1 (với ý nghĩa “mắc bận” hay sự di chuyển “đa hướng”) có ba tham tố ngữ nghĩa, thí dụ:

- Он (А1)нервно ходил по комнате (А2)из угла в углу (А3).

- Nó(A1) căng thẳng đi khắp phòng (A2) từ góc này sang góc khác (A3).

Kiểu nhóm ЛТ2 (với ý nghĩa “hành động” hay sự di chuyển “nhị hướng”) có tới bốn tham tố ngữ nghĩa, thí dụ:

 - Вечером он (А1) ходил из института (А2) в библиотеку (А3)позаниматься (А4).

- Buổi chiều nó(A1) đi từ Viện (A2) đến thư viện (A3) làm việc (A4).

4.2.2. Các đặc trưng ngữ pháp

4.2.2.1. Về hình thái ngữ pháp

Về phương diện này, có một sự khác nhau nổi bật giữa hai kiểu nhóm ЛТ1ЛТ2 của nhóm các động từ chuyển động đang xét ở chỗ: chỉ có ЛТ2(với ý nghĩa “hành động” hay sự di chuyển “nhị hướng”) mới có khả năng cấu tạo các động từ có hình thái ngữ pháp hoàn thành thể (сов), lệ như: схoдил, сбегал, слетал,…Trong tất cả các ý nghĩa khác, các động từ chuyển động không có khả năng như vậy.

4.2.2.2. Về khả năng kết hợp

Về phương diện này, có một sự khác nhau nổi bật giữa hai kiểu nhóm ЛТ1ЛТ2của nhóm các động từ chuyển động đang xét ở chỗ: chỉ có ЛТ1 (với ý nghĩa “mắc bận” hay sự di chuyển “đa hướng”) mới có khả năng kết hợp với các trạng ngữ chỉ địa điểm với nét nghĩa “tồn tại” - đặc biệt khi các trạng ngữ này đứng trước vị ngữ; thí dụ:

- Повсюдуползали муравьи ‘Kiến bò khắp nơi’.

 khắp nơi bò kiến

- По перронубегали пассажиры‘Hành khách chạy khắp sân ga’.

 khắp sân ga chạy hành khách

Kiểu nhóm LT2 không có khả năng kết hợp với các trạng ngữ như vậy, không thể nói:

- *Он бегал по двору за хлебом.

Nó chạy khắp sân kiếm bánh mì.

Có thể nói đến ở đây một sự khác nhau về ngữ nghĩa nổi bật khác giữa ЛТ1ЛТ2 bộc lộ trong sự kết hợp với trạng ngữ thời gian быстро‘nhanh’. Hãy so sánh:

+ với ЛТ1, быстро chủ yếu là có nghĩa “tốc độ nhanh”, thí dụ:

- Дети быстро бегали по двору ( Lũ trẻ chạy khắp sân rất nhanh).

+ với ЛТ2, быстро chủ yếu là có nghĩa “trong khoảng thời gian ngắn”, thí dụ:

- Утром он быстро ходил за газетой, завтракал и отравлялся на работу (Buổi sáng nó rất nhanh đi mua báo, ăn sáng rồi đi làm).

 Nói tóm lại, qua những sự trình bày trên về một trường hợp cụ thể là lớp các động từ chuyển động nhiều hướng trong tiếng Nga, chúng ta có thể hình dung được rằng:

+ toàn bộ lớp động từ này có thể được chia ra làm hai kiểu nhóm từ điển học (ЛТ) khác nhau, mỗi kiểu nhóm có những đặc trưng riêng của nó về ngữ nghĩa và ngữ pháp;

+ mỗi động từ thuộc lớp động từ này, đến lượt nó, lại có thể được chia ra thành hai từ vị khác nhau.

Những sự khác nhau như thế, theo nguyên lí của Từ điển học hệ thống, nhất thiết phải được phản ánh trong từ điển. Thậm chí một số sự đi chệch về ngữ nghĩa ra khỏi cái ý nghĩa điển hình của từ vị cũng cần được phản ánh trong từ điển, thí dụ như trường hợp động từ бродить(lang thang). Tuy đây là một động từ chuyển động nhiều hướng nhưng do tính đặc thù về ý nghĩa của nó mà trong sử dụng thường không nổi lên cái ý nghĩa điển hình của nó về sự vận động “nhị hướng”, mà lại là cái nét nghĩa về “mục đích”: “lang thang” tức là ‘đi mà không có mục đích gì nhất định’.

 Cuối cùng, cần thấy rằng: trở về trên, ta đang nói đền các ЛТđược hình thành theo “trục ngang” bao gồm trong nó những từ vị giống nhau của những từ khác nhau. Còn có thể nói đến những ЛТđược tổ chức theo “trục dọc” bao gồm trong nó những từ vị khác nhau của cùng một từ - tức là sự đa nghĩa; thí dụ như từ cái ý nghĩa điển hình về sự chuyển động “đa hướng” của các động từ ходить (đi), бегать (chạy), летать (bay),v.v. sẽ phái sinh ra những ý nghĩa như:

+ sự vận động của các phương tiện giao thông ;

+ sự di chuyển của các đối tượng tự nhiên ;

+ ý nghĩa về tiềm năng;

+ ý nghĩa về thuộc tính;

 + v.v.

 Nguyên lí hệ thống của Từ điển học đòi hỏi rằng: Tất cả những ý nghĩa kiểu này phải có được một vị trí như nhau trong các cấu trúc ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa thuộc ЛТ đang xét khi chúng dược đưa vào trong từ điển…

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Апресян Ю. Д. (1967), эспрериментальное исследование семантики русского глагола, Москва.

[2] Апресян Ю. Д. (1995), Избранные труды, том 2, Интегральное описание языка и системная лексикография, Москва.

[3] Apresjan Ju. D. (2000), Systematic Lexicography, Oxford.

[4] Апресян Ю. Д. (2006) (Отв. ред.),Языковая картина мира и системная лексикография, Москва.

[Còn tiếp; kì sau: CHÂN DUNG TỪ ĐIỂN HỌC]

Theo: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 2(4)/2010.
Bài đăng đã được sự đồng ý của Ban biên tập Tạp chí và Tác giả.

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 3)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 2)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 1)
  • Về nghĩa của từ VÕNG GIÁ trong tiếng Việt
  • ĐỂU, ĐỂU CÁNG, ĐỂU GIẢ