Ngôn ngữ học

Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 3)
     

GS, TSKH LÝ TOÀN THẮNG

SUMMARY
This is the second part of the paper “Systemic Lexicography: An Achivement of Russian and Soviet Linguistics”. Continuing the content of two first parts, this part presents the basic principles of the Moscow Semantic School of Integrated Linguistic Descriptions and Systemic Lexicography. It concerns the idea of reconstructing the ‘world-picture” reflected in the semantics of natural languages.

4. Ý tưởng phục nguyên “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”

4.1. Dẫn nhập

Trong ngôn ngữ học hiện đại, bình diện nội dung của ngôn ngữ được chú trọng nghiên cứu một cách đặc biệt và đến nay trên cơ sở của những nghiên cứu này, chỳng ta đã có thể đúc kết được thành những luận điểm chung, đáng chú ý nhất là:

a) Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc hỡnh thành cỏc cấu trỳc ngữ nghĩa;

b) Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều phản ánh một hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hoá - bản ngữ đó, thường được gọi là “mô hình thế giới”, “hình ảnh thế giới”, “biểu tượng về thế giới” hay “bức tranh thế giới” (tiếng Nga: model' mira, obraz mira, predstavlenie mira, kartina mira). “Bức tranh thế giới” là hạt nhân hay thành tố cơ sở của thế giới quan con người. Trong các ngôn ngữ, “bức tranh” này có thể biến đổi, không hoàn toàn giống nhau;

c) Mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một “logic” của tư duy nhìn nhận thế giới, hay nói đúng hơn, với một cách thức tri giác và suy nghĩ về thế giới của người bản ngữ (không giống với các dân tộc khác) thường được gọi bằng thuật ngữ cách nhìn thế giới (tiếng Nga: mirovidenie). “Cách nhìn” này, ngoài cái chung, cái phổ quát, thì còn có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ. Do đó thông qua việc nghiên cứu bức tranh ngôn ngữ về thế giới chúng ta có thể phát hiện những con đường khác nhau trong cách nhìn thế giới của các dân tộc, các cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ.

d) Cần phân biệt bức tranh ý niệm (conceptual) và bức tranh ngôn ngữ về thế giới (hoặcbức tranh thế giới bằng ngôn ngữ). Bức tranh ý niệm (toàn bộ hay một phần) về thế giới là hình ảnh (hay biểu tượng) về thế giới hay một bộ phận của nó, tồn tại trong ý thức của con người. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới là hiện thân của bức tranh ý niệm về thế giới trong ngữ nghĩa của ngôn ngữ (từ vựngngữ pháp). Do đó cần chú ý phân biệt ba khái niệm khác nhau:

+ Thế giới vật lí khách quan, bên ngoài con người;

+ Thế giới chủ quan, tồn tại bên trong tâm trí con người, là kết quả của sự tri nhận thế giới khách quan, thường được gọi là “thế giới (được) tri giác” (perceptual) hoặc (được) “đồ chiếu” (projected);

+ Thế giới được biểu đạt trong ngữ nghĩa của các từ ngữ, được gọi là “thế giới (trong) ngôn ngữ”.

Trong truyền thống ngôn ngữ học Nga và Xô viết, khái niệm “bức tranh thế giới” đã được nghiên cứu khá kĩlưỡng trong nhiều công trình của các tác giả như: Gurevich 1972; Brutjan 1973; Karaulov, 1976; Leont'ev 1979, 1997; Apresjan 1974, 1986, 1995; Kolshanskii 1990; Tsyvjan 1990; Pocheptsov 1990...; và đặc biệt trong bộ ba công trình tập thể về “Vai trò của nhân tố con người trong ngôn ngữ” (1988).

Trong số những định nghĩa về “bức tranh thế giới” đáng chú ý nhất là định nghiã của nhà tâm lí - ngôn ngữ học A. A. Leont¢ev (1997: 268-269): “Hình ảnh thế giới, như các nhà tâm lí học hôm nay hiểu nó, đó là sự ánh xạ của thế giới sự vật trong tâm lí con người, được môi giới bởi các ý nghĩa sự vật và các sơ đồ tri nhận tương ứng và chịu sự chi phối của phản xạ có ý thức. Thế giới được trình ra cho mỗi con người riêng biệt thông qua các ý nghĩa sự vật vốn dường như được đặt chồng lên trên sự tri giác về thế giới ấy”.

Trong ngôn ngữ học hiện đại, những ý tưởng vừa nêu trên không phải là mới xuất hiện gần đây. Thực ra, chúng đã được đề xuất từ lâu - nửa cuối thế kỉ XI và nửa đầu thế kỉXX - trước hết ở châu Âu, trong những quan niệm của Humboldt về “hình thái bên trong” và “linh hồn dân tộc”; và muộn hơn, ở châu Mĩ, với học thuyết về “tính tương đối ngôn ngữ” của Sapir và Whorf. Tuy nhiên, điều thú vị ở đây là: sự hình thành và nhất là sự phát triển của Trường phái nghĩa học Moskva “Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và Từ điển học hệ thống” đã tạo ra một bước nhảy vọt quan trọng trong việc áp dụng một khái niệm lí thuyết là “bức tranh thế giới” vào một địa hạt ứng dụng là Từ điển học.

4.2. Apresjan với ý tưởng phục nguyên “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”

Như đã nói trong những bài báo trước của chúng tôi, nhà lí thuyết gia hàng đầu của Trường phái nghĩa học Moskva “Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và Từ điển học hệ thống” là Ju. D. Apresjan. Khi bàn đén việc xây dựng những nguyên lí nền tảng cho Từ điển học nói chung và Từ điển học hệ thống nói riêng, theo ông về phương diện lí thuyết đầu tiên chúng ta cần làm rõ câu hỏi: Ngôn ngữ được tổ chức, được cơ cấu nên như thế nào?

Câu hỏi này, theo Apresjan, trong phạm vi Ngữ nghĩa học và Từ điển học liên quan trước hết đến vấn đề “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”(hay còn gọi là: bức tranh ngây thơ về thế giới); và đề tài này đã được ông trình bày chuyên sâu trong những công trình sau:

+1969, trong bài báo: “Tường giải các ý nghĩa từ vựng như một vấn đề ngữ nghĩa học lí thuyết”;

+1974, trong cuốn sách nổi tiếng: “Ngữ nghĩa học từ vựng. Các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ”;

+1986, trong bài báo: “Sự trực chỉ (deiksis) trong từ vựng và ngữ pháp và mô hình ngây thơ về thế giới”;

+1995, trong Tuyển tập: “Miêu tả tích hợp ngôn ngữ và từ điển học hệ thống” (tập 2);

+2006, trong cuốn sách: “Bức tranh ngôn ngữ về thế giới và Từ điển học hệ thống”.

Qua các công trình này, ta có thể thấy những ý tưởng cơ bản của ông là:

a) Trong các ngôn ngữ tự nhiên, có phản ánh một cách thức tri giác thế giới, một cách thức suy nghĩ về thế giới - tức là một “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, nó là cái ràng buộc thiết yếu mọi thành viên của một cộng đồng bản ngữ. Bức tranh thế giới được phản ánh trong ngôn ngữ có sự khác biệt trong nhiều chi tiết và nhiều phương diện so với bức tranh khoa học, logic về thế giới; điều này thấy khá rõ trong những nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại gần đây, chẳng hạn như về: quan niệm vật lí học ngây thơ về không gian và thời gian trong ngôn ngữ, hình ảnh con người (hiện ra trong ngôn ngữ), quan niệm ngây thơ về giải phẫu sinh lí người, sự hình dung ngây thơ về các quan hệ nhân quả, quan niệm ngây thơ về đạo đức học và phép xử thế trong ngôn ngữ, v.v. Một thí dụ đơn giản là trong tiếng Nga có hàng trăm từ ngữ nói lên một thứ “tâm lí học ngây thơ” trong đó trái tim và tâm hồn được coi là hai cơ quan chứa đựng các tình cảm của con người, và điều này khó mà nghĩ rằng nó tương tự với những gì mà khoa học tâm lí thường khẳng định. Điều thú vị ở đây là: tuy cái mô hình về thế giới ấy được gọi là “ngây thơ” nhưng nó không hề “nguyên sơ” (primitivnaja), bởi lẽ trong khá nhiều chi tiết nó phức tạp không kém gì bức tranh khoa học về thế giới - thậm chí có chỗ còn phức tạp hơn.

b)Bức tranh thế giới này có tính đặc thù ngôn ngữ và đặc thù dân tộc, nghĩa là nó phản ánh một cách “nhìn thế giới” đặc biệt tồn tại cho ngôn ngữ đó, có giá trị văn hoá đối với ngôn ngữ đó và làm cho ngôn ngữ đó khác biệt với các ngôn ngữ khác. Một thí dụ đơn giản như ghế “đi văng”: theo cái “hình học ngây thơ” suy ra được trong tiếng Nga thì nó được hình dung là có “chiều dài’ và “chiều rộng”, nhưng trong tiếng Anh thì (theo Fillmore) nó lại có “chiều dài” và “chiều sâu”.

“Cách nhìn thế giới” này được thể hiện ra trong một tập hợp các tư tưởng cốt lõi, “chìa khoá” (kljuchevaja ideja) mang tính đặc thù dân tộc - một dạng đặc biệt của các “chủ điểm” (leitmotiv) ngữ nghĩa vốn được biểu thị trong ngôn ngữ bằng nhiều phương tiện có bản chất khác nhau như: hình thái, cấu tạo từ, cú pháp, từ vựng và thậm chí cả ngôn điệu.

c) Việc phục nguyên (rekonstruktsja) mô hình ngây thơ về thế giới trên cơ sở mô tả toàn diện các ý nghĩa từ vựng và ngữ pháp được xem là một siêu nhiệm vụ (sverkhzadacha) của ngữ nghĩa học và từ điển học. Việc phục nguyên này làm thay đổi chiến lược miêu tả các ý nghĩa ngôn ngữ, làm cho sự miêu tả trở nên đầy đủ hơn, sâu sắc hơn.

Điểm cuối cùng này rất quan trọng, chúng tôi muốn dừng lại nói kĩ thêm.

Truyền thống ngôn ngữ học thường xem xét các ý nghĩa ngôn ngữ như là sự phản ánh một cách trực tiếp ít hay nhiều các sự kiện của thực tại khách quan. Quan niệm này dẫn đến một chiến lược miêu tả các ý nghĩa ngôn ngữ theo cái cách là một ý nghĩa (từ vựng hay ngữ pháp) nào đó sẽ được giải thích thông qua các nghĩa đơn giản hơn và cứ như thế đi đến tận những nghĩa cơ sở, tối giản - khi đó ta sẽ có cái được gọi là “siêu ngôn ngữ ngữ nghĩa phổ quát”(universal’nyi semanticheskii metajazyk).

Điều này hiển nhiên là đúng đắn vì đa phần các ý nghĩa ngôn ngữ có thể được miêu tả theo cách như vậy.

Tuy nhiên, nếu ta nhìn từ một góc độ khác - từ việc phục nguyên mô hình ngây thơ về thế giới nói ở trên, thì ta sẽ thấy còn có một chiến lược khác nữa trong cách miêu tả các ý nghĩa ngôn ngữ. Ý tưởng cơ bản ở đây là như sau: Các ý nghĩa ngôn ngữ sẽ không được xem xét như là sự phản ánh trực tiếp các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, mà là gián tiếp, tức làthông qua sự liên hệ chúng với các bộ phận, khía cạnh hay các chi tiết nhất định của bức tranh/mô hình ngây thơ về thế giới được biểu đạt trong ngôn ngữ đó. Làm theo cách này ta sẽ có được cái cơ sở để phát hiện ra những thuộc tính phổ quát và những nét đặc thù dân tộc trong cấu trúc ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ, cũng như một số nguyên lí cơ bản trong việc thành tạo các ý nghĩa ngôn ngữ.

Để minh hoạ cho điều vừa nêu trên, ta hãy xem trường hợp các từ ngữ biểu thị tình cảm trong tiếng Nga. Giả sử chúng ta muốn giải thích ý nghĩa của một từ tsenets’ (lịm đi) thì chúng ta phải “vẽ” ra được cái “bức tranh” phức tạp về tâm lí con người vốn liên quan đến ý nghĩa của hàng loạt từ khác. Chẳng hạn, ý nghĩa của tsenets’ (lịm đi) này là có liên quan đến ý nghĩa của từ zamirat’ (lặng đi) cũng gần giống như isstuplenie (điên cuồng) liên quan đến vozbuzhdenie (kích động), ekstaz (phấn chấn cao độ) liên quan đến vostorg (khoái trá), panika (kinh hoảng) liên quan đến strakh (sợ hãi). Thêm nữa, cần chú ý rằng trong cái “bức tranh” về tâm lí ấy có bao hàm một sự hình dung về hai kiểu các “thiết bị” (ustroistvo) khác hẳn nhau:

a) Các “thiết bị” mà nhờ chúng, ta có thể xúc cảm được (nhờ tim hay tâm hồn), nhận thức được thế giới (nhờ trí tuệ) và có được hành vi (nhờ cơ thể);

b) Các “thiết bị” theo dõi hành vi của chúng ta và kiểm soát chúng (nhờ ý chí).

Trên cơ sở “mô hình ngây thơ về tâm lí” này, ta có thể hiểu rõ hơn rằng, thí dụ: nếu ý nghĩa của động từ zamirat’ (lặng người đi) là ‘trở nên hoàn toàn bất động’, thì với động từ tsenets’ (lịm người đi) ngoài cái ý ‘trở nên hoàn toàn bất động’ đó còn thêm cái ý là ‘hành vi đó vượt ra ngoài sự kiểm soát của cái “thiết bị ý chí’ nói trên.

Trong các công trình cuả mình, trên cơ sở những tư tưởng lí thuyết về bức tranh ngôn ngữ ngây thơ về thế giới, Apresjan đi vào khảo sát cụ thể về một số chi tiết, khía cạnh thú vị của “bức tranh” nàytrong các ý nghĩa từ vựng và ngữ pháp. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một hai thí dụ thú vị về cái được ông gọi là “tính đặc thù dân tộc” (ethnospetsifichnost’) của bức tranh thế giới trong ngôn ngữ.

Theo Apresjan có hai trường hợp xảy ra về tính đặc thù này, rất dễ nhận ra khi ta đối chiếu các ngôn ngữ:

a) Trường hợp “mạnh”

Trong ngôn ngữ L đang xét có các đơn vị ngôn ngữ đơn giản về cấu trúc như các từ mang một ý nghĩa mà trong các ngôn ngữ khác có thể phải diễn đạt bằng con đường miêu tả - tức là bằng những đơn vị phức tạp như kiểu cụm từ hay câu. Nói cách khác đây là những ý nghĩa thuộc loại có một không hai (unikal’noe).

Trường hợp này dễ thấy nhất là trong vốn từ vựng và ngữ nghĩa của một ngôn ngữ: Bao giờ cũng có thể tìm ra những “ý nghĩa đặc thù dân tộc” (ethnospetsificheskoe znachenie) được chứa đựng ở một số từ “chìa khoá” (kljuchevoe slovo). Thí dụ, nếu so sánh với các thứ tiếng khác thì trong tiếng Nga, theo nhiều nhà nghiên cứu, phản ánh rõ nhất “tâm hồn Nga” là những từ như: avos’ (hoạ may, may ra), volja (ý chí), dusha (tâm hồn), sud’ba (số phận), toska (buồn chán); giữa chúng có những mối liên hệ ngữ nghĩa rất thú vị như giữa các từ avos’ (hoạ may, may ra), povezlo (may mắn) và sud’ba (số phận). Ngoài ra đáng chú ý là những từ khác như: dal’ (xa xăm), zhrebii (vận mạng), rok (số kiếp), khochetsja (mong muốn), suzhdeno (phán xử), majat’sja (bị giày vò), tomit’sja (đau buồn), và v.v.

b) Trường hợp “yếu”

Trong ngôn ngữ L đang xét có một ý nghĩa nào đó (mà về nguyên tắc cũng được diễn đạt bằng các phương tiện đơn giản cả trong các ngôn ngữ khác) và ý nghĩa này có một cương vị đặc biệt - ngữ pháp hoá hoàn toàn hay bán ngữ pháp hoá. Nói cách khác đây là những ý nghĩa không thuộc loại độc nhất (neunikal'noe) nhưng có cương vị đặc biệt trong ngôn ngữ.

Trong tiếng Nga, ý nghĩa ngữ pháp “thường xảy ra, nhiều lần, hay lặp lại” (mnogokratnost') là thuộc loại này. Cũng như trong các ngôn ngữ khác, tiếng Nga có thể dùng các trạng từ để diễn đạt ý nghĩa này; thí dụ: mnogokratno, neodnokratno, neskol'ko raz, mnogo raz, kazhdyi raz, v.v.

Nhưng trong tiếng Nga cái làm nên đặc thù dân tộc của ý nghĩa ngữ pháp này là ở chỗ: Nó được biểu hiện ngay bằng động từ hoặc trong bản thân động từ (bằng căn tố, phụ tố hay biến tố của nó), hoặc là bằng một kết cấu ngữ pháp; cụ thể là:

+ bằng các động từ; thí dụ tiếng Nga có các động từ biểu thị sự di chuyển theo nhiều hướng, như ta có thể nói: khodit’po dvoru (đi khắp sân) nhưng không nói được: * idti po dvoru; hay các động từ biểu thị một chuỗi hành động của bộ phận cơ thể với danh từ phải ở tạo cách (tvor) như: kivat’ (golovoi) ‘gật (đầu)’, boltat' (nogami) ‘đu đưa (chân)’, viljat' (khvostom) ‘ngoe nguẩy (đuôi)’, v.v.

+ bằng các hình thái “không hoàn thành thể” (nesov) của động từ, thí dụ: Ja reshal i ne takie zadachi (Tôi thường quyết định cả những nhiệm vụ không phải như thế), khác với hình thái “hoàn thành thể” (sov): Ja reshil i ne takie zadachi (Tôi có lần quyết định cả những nhiệm vụ không phải như thế).

+ bằng các tiếp tố (pristavka) của động từ, thí dụ: vynjukhivat' ‘đánh hơi’, zabrosat' (kamnjami) ‘ném đá’, pogljadyvat' ‘đưa mắt nhìn’, perebrasyvat'sja ‘nhảy qua’, pazbezhat'sja ‘chạy tán loạn’, v.v.

+ bằng một kết cấu ngữ pháp đặc thù có danh từ ở tạo cách, số nhiều (tvor mn) hoặc danh từ ở tặng cách, số nhiều (dat mn) đi sau giới từ po; thí dụ:

- Nochami (po nocham) ona sidela nad dissertatsiej Đêm đêm cô ấy ngồi viết luận án’, với hàm ý là “đêm nào cũng thế, nhiều lần và mỗi lần đều lâu”.

Kết cấu này khác với kết cấu bình thường có ý nghĩa về sự kéo dài đòi hỏi danh từ phải ở đối cách, số ít (vin ed):

- Vsju noch’ona sidela nad dissertatsiej Suốt đêm cô ấy ngồi viết luận án’.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Apresjan Ju. D. 1969. Tolkovanie leksicheskikh znachenii kak problema teoreticheskoj semantiki. // Izv. AN SSSP, ser. lit. i jaz., no. 1, str. 49-61, Moskva.

[2] Apresjan Ju. D. 1974. Leksicheskaja semantika. Sinonimicheskie sredstva jazyka, Moskva.

[3] Apresjan Ju. D. 1986. Deiksis v leksike i grammatike i naivnaja model’ mira // Semiotika i informatika, vyp. 28, str. 5-33, Moskva.

[4] Apresjan Ju. D. 1995. Izbrannye trudy. T. 2. Integral’noe opisanie jazyka i systemnaja leksikografija, Moskva.

[5] Apresjan Ju.D. 2006 (chủ biên). Jazykovaja kartina mira i systemnaja leksikografija, Moskva.

[6] Brutian G. A. 1973. Jazyk i kartina mira // NDVSH. Filosofskie nauki, no. 1, Moskva.

[7] Gurevich A. Ja. 1972. Kategorii srednevekovoi kul’tury, Moskva.

[8] Karaulov Ju. N. 1976. Obshaja i russkaja ideografija, Moskva.

[9] Kolshanskii G. V. 1990. Ob’ektinaja kartina mira v poznanii i v jazyke,Moskva.

[10] Leont’ev A. A. 1997. Osnovy psikholingvistiki, Moskva.

[11] Pocheptsov O. G. 1990. Jazykovaja mental'nost': sposob predstavlenija mira // Vja, no. 6., Moskva.

[12] Serebrenikov B. A. (chủ biên). 1988. Rol' chelovecheskogo faktora v jazyke, Moskva.

[13] Tsyvjan T. V. 1990. Lingvisticheskie osnovy balkanskoj modeli mira, Moskva.

[Còn tiếp, kì sau: Kiểu loại từ điển học và chân dung từ điển học]

Theo: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 1(3)/2010.
Bài đăng đã được sự đồng ý của Ban biên tập Tạp chí và Tác giả.

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 2)
  • Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết (Phần 1)
  • Về nghĩa của từ VÕNG GIÁ trong tiếng Việt
  • ĐỂU, ĐỂU CÁNG, ĐỂU GIẢ
  • Để lâu câu sai hoá… đúng