Ngôn ngữ học

Tiếng
     

VŨ XUÂN LƯƠNG

Khi người Việt phát âm các âm tiết để tạo nên chuỗi lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, đơn vị được dùng trong chuỗi lời nói là " tiếng " . Tiếng trong tiếng Việt thường được hiểu là âm tiết, về mặt là đơn vị có nghĩa, dùng trong chuỗi lời nói. Khi phát âm, mỗi tiếng bao giờ cũng phát ra một hơi, có mang một thanh điệu nhất định. Tuy nhiên, trong lời nói hàng ngày, thường người ta nói đến tiếng nhiều hơn là âm tiết. Ví dụ trong phát ngôn Cháu nó mới nói được hai tiếng " bà " và " mẹ " , thì chúng ta có thể nói phát ngôn đó gồm 10 âm tiết hoặc 10 tiếng, nhưng không ai nói Cháu nó mới nói được hai âm tiết " bà " và " mẹ " , mặc dù " bà " và " mẹ " khi phân tích về mặt phát âm là 2 âm tiết.

Trên chữ viết, mỗi tiếng được ghi thành một chữ. Tiếng có thể trực tiếp hay gián tiếp gắn liền với một ý nghĩa nhất định và không thể chia ra thành những đơn vị có nghĩa nhỏ hơn nữa. Vì vậy có thể hiểu tiếng trùng với hình vị và từ: ăn, nói, đi, đứng, và, sẽ... là những tiếng trong tiếng Việt.

Cần chú ý: Trong phát ngôn “tiếng trong tiếng Việt” thì “tiếng” được hiểu như ở trên, còn “tiếng” trong các phát ngôn “học tiếng Anh, biết tiếng Nga, biết nhiều thứ tiếng...” được hiểu với nghĩa là chỉ một ngôn ngữ cụ thể nào đó.
 

 

Bài đăng trước:

  • Chữ viết
  • Chính tả
  • Hệ thống âm vị tiếng Việt