Ngôn ngữ học

Những vấn đề của từ điển hai thứ tiếng Nga - Việt
     

VŨ LỘC

Thực chất của từ điển hai thứ tiếng là từ điển đối dịch. Đối dịch chứ không phải là đối chiếu. Việc lựa chọn những từ ngữ tương đương trong từ điển liên quan đến hai ngôn ngữ, ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ dịch. Đôi khi người ta gọi ngôn ngữ gốc là ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ bên trái và ngôn ngữ dịch là ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ bên phải. Trong từ điển Nga - Việt thì tiếng Nga là ngôn ngữ gốc, tiếng Việt là ngôn ngữ dịch và ngược lại, trong từ điển Việt - Nga ngôn ngữ gốc là tiếng Việt, ngôn ngữ dịch là tiếng Nga. Từ điển đối dịch có thể có nhiều loại. Tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng từ điển và các hoạt động phiên dịch (dịch xuôi – dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ và dịch ngược – dịch từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng nước ngoài), có thể có các loại từ điển thuật ngữ và từ điển phổ thông.

Từ điển đối dịch phổ thông có thể có từ điển cỡ nhỏ, từ điển bỏ túi, từ điển cỡ trung bình, từ điển cỡ lớn.(1) Tuỳ thuộc vào tiếng mẹ đẻ của người sử dụng là ngôn ngữ gốc hay là ngôn ngữ dịch cũng như việc cung cấp kiến thức để phục vụ việc dịch ngược hay hoạt động đọc hiểu và dịch xuôi, có thể có, chẳng hạn, hai từ điển Nga - Việt khác nhau.(2) Những điều này liên quan đến việc biên soạn từ điển.

Khi sử dụng từ điển để dịch từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng nước ngoài (dịch ngược), ngoài sự tương đương về nghĩa của từ ngữ nước ngoài, người sử dụng cần biết nhiều thông tin bổ sung của từ ngữ được cung cấp trong từ điển, khác với khi dùng từ điển để đọc hiểu văn bản tiếng nước ngoài hoặc dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng mẹ đẻ (dịch xuôi). Những thông tin bổ sung của từ ngữ tiếng mẹ đẻ đã có trong vốn tri thức của người sử dụng, nên không nhất thiết phải đưa vào từ điển. Ví dụ trong từ điển Nga - Việt cho người Nga từ книга ngoài từ sách tương ứng trong tiếng Việt, cần phải đưa thêm quyển sách, cuốn sách và có thí dụ minh hoạ để giúp người sử dụng tạo ra những cách nói đúng chuẩn mực: đọc sách chứ không phải là *đọc quyển sách; một cuốn sách chứ không phải là *một sách; mua được quyển sách hay chứ không phải là *mua được sách hay; v.v. Nhưng điều này lại không nhất thiết phải có trong từ điển Nga - Việt cho người Việt vì người Việt tự biết khi nào dùng từ sách, khi nào phải dùng quyển sách, v.v. Ngược lại trong từ điển Việt - Nga cho người Việt trong mục từ sách ngoài từ книга tương ứng trong tiếng Nga, cần đưa thêm những từ книги, литература; книжный, v.v. vì tổ hợp xuất bản sách của tiếng Việt phải dịch sang tiếng Nga là издавать книги, sách phổ thông phải dịch là популярная литература; tủ sách, hiệu sách phải dịch là книжный шкаф, книжный магазин. Nhưng trong từ điển Việt - Nga cho người Nga thì không cần thiết vì gặp những tổ hợp nói trên họ tự tìm được cách nói đúng.

Cùng là từ điển Nga - Việt phổ thông, nhưng từ điển Nga - Việt cho người Nga và Nga - Việt cho người Việt có những điểm khác biệt về bảng từ, về nội dung các mục từ v.v. Cách xử lí các mục từ như chú giải sau từ đầu mục, phân chia nghĩa từ và các thí dụ minh hoạ, tuy chủ yếu phải dựa vào ngôn ngữ gốc nhưng ở một mức độ nhất định cũng phải chú ý đến đối tượng sử dụng là người của ngôn ngữ dịch hay ngôn ngữ gốc.

Về bảng từ

Trong tiếng Nga có những từ biến đổi đặc biệt: пить (uống) biến ngôi là пью, пьёшь, пьёт, v.v.; петь (hát) biến ngôi là пою, поёшь, поёт, v.v.; Thời quá khứ của động từ идтишёл, шла, шло, шли; Đại từ Я (tôi) ở các cách gián tiếp có dạng меня, мне, мной; v.v. Danh từ, tính từ tiếng Nga có những dạng khuyếch đại (увеличительная форма) và giảm nhỏ, trìu mến (уменьшительная форма, ласкательная форма): домише (toà nhà lớn); домик, домишко (ngôi nhà nhỏ); мамочка (mẹ [yêu quý]); большуший (to tướng, to đùng); малюсенький (bé tí ti), v.v. Đó là những dạng từ khó đoán đối với người chưa thành thạo tiếng Nga, vì vậy trong từ điển Nga - Việt cho người Việt, nhất là từ điển học sinh, nên có những mục từ:

пь (пью, пьёшь, пьют) см. пить

по (пою, поешь, поют) см. петь

шёл прош. от идти

шл (шла, шло, шли) прош. от идти

меня р.п. и в.п. от Я

мне д.п. и пр.п. от Я

домищеувел., см. дом

домик уменьш., см. дом

мамочка ласк., см. мама

большущий увел., см. большой

малюсенькийуменьш., ласк., см. маленький, v.v.

Trong từ điển Nga - Việt cho người Nga, những mục từ này có thể không cần thiết.

Về các chú giải sau từ đầu mục

Đối với người Nga thì những chú giải về từ đầu mục của từ điển Nga - Việt không cần chi tiết như trong từ điển Nga - Việt cho người Việt.(3) Trong từ điển Nga - Việt cho người Việt, nhất là từ điển cho học sinh, cần có những chú giải chi tiết. Tuy nhiên cách chú giải cần rõ ràng, cô đọng, tránh dùng quá nhiều từ viết tắt (vừa rối rắm vừa không tiết kiệm).

Về ngữ âm. Cần chỉ dẫn cách phát âm của những từ không theo quy tắc ngữ âm. Ví dụ: кафé [фэ] (quán cà phê), кашнé [нэ] khăn quàng cổ), компьютер [тэ] (com-pu-tơ), конденсатор [дэн] (cái tụ điện), купе [пэ] (buồng trên xe lửa) конечно [шн] (tất nhiên), тенденция [тэндэн] (khuynh hướng). Cho đến nay các từ điển Nga - Việt không thực hiện điều này.

Tiếng Nga là ngôn ngữ có trọng âm từ nên cần cung cấp trọng âm không những cho các từ đầu mục, mà cả trong các tổ hợp từ và thí dụ minh hoạ vì từ một âm tiết và hư từ trong tiếng Nga thường không có trọng âm, nhưng trong câu cụ thể chúng có thể mang trọng âm. So sánh: дойти̾ до дома (đi đến ngôi nhà) và дойти до̾ дому (về đến nhà [mình]); вы̾йти из дома (ra khỏi ngôi nhà) và выйти из дому (ra khỏi nhà mình); Она придёт через час (một giờ nữa bà ấy sẽ đến – phát ngôn bình thường) và Она придёт через час (phát ngôn nhấn mạnh vào thời gian). Rất tiếc là Từ điển giáo khoa Nga - Việt không cung cấp trọng âm cho các cụm từ và câu.

Về ngữ pháp. Người sử dụng từ điển phải có những kiến thức ngữ pháp nhất định đã tiếp thu qua sách và tài liệu giáo khoa. Thiếu những kiến thức đó thì không sử dụng từ điển được. Ví dụ muốn dùng từ điển Nga - Việt, người Việt ít nhất phải biết rằng trong tiếng Nga danh từ có giống đực, giống cái, giống trung, có số ít, số nhiều và biến đổi theo cách. Phải biết là động từ biến đổi theo ngôi, có số ít, số nhiều, có quá khứ, hiện tại, tương lai v.v. Vì vậy khi gặp trong văn bản từ читаешь, người mới học ít nhất cũng phải biết đó là động từ ngôi thứ hai, số ít, phải biết bỏ biến tố -ешь, thay nó bằng -ть để tra từ читать; gặp từ карту phải biết bỏ -у, thay nó bằng -а để tra từ карта; gặp từ новую, phải biết bỏ -ую và thay nó bằng -ая, rồi lại thay bằng -ый để tra từ новый, v.v. Do đó nhiều chú giải về ngữ pháp có thể được giản lược. Tuy nhiên điều đó cần được giải thích và nêu rõ trình tự trước sau của các chú giải trong quy tắc trình bày (hoặc cấu trúc của từ điển).(4) Một điều cũng đáng chú ý là những chú giải bằng từ viết tắt phải được quy định chặt chẽ, dễ nhận và dễ nhớ.(5)

Về phân chia nghĩa từ

Từ điển hai thứ tiếng chủ yếu là đối dịch những từ ngữ riêng lẻ. Nhưng từ thường là có nhiều nghĩa. Việc tách nghĩa của từ dựa vào sự kết hợp của các từ thành cụm từ và trong khi tạo câu. Thống kê các tổ hợp từ để tách nghĩa của từ tuỳ thuộc vào khả năng của từng cá nhân và mang tính chất chủ quan, nên sự tách nghĩa của từ trong các từ điển (kể cả từ điển một thứ tiếng) thường không giống nhau.

Việc tách nghĩa của từ trong từ điển Nga - Việt, chủ yếu là tìm những yếu tố tương đương trong tiếng Việt, dựa vào việc tách nghĩa trong từ điển giải thích tiếng Nga, nhưng tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng, việc tách nghĩa và minh hoạ nghĩa cũng khác nhau. Ví dụ, cùng là động từ читать trong từ điển Nga - Việt cho người Nga có thể tách nghĩa giống như trong từ điển tường giải tiếng Nga của С.И. Ожегов:

1) đọc; читать письмо (đọc thư); читать бегло (đọc lướt qua); читать про себя (đọc thầm) 2) đọc được, hiểu được; читать по-русски (đọc được tiếng Nga); читать на трёх языках (hiểu được ba thứ tiếng) 3) đọc tác phẩm; читать Пушкина (đọc Puskin, đọc tác phẩm của Puskin) 4) ngâm; читать стихи (ngâm thơ, đọc thơ) 5) dạy, giảng dạy; читать в Педагогическом институте (dạy ở Trường đại học Sư phạm); читать лекции по литературе (giảng dạy văn học), читать доклад ([đọc] báo cáo) 6) đoán được; читать настроения по лицам (đoán (đọc) được tâm trạng qua nét mặt); читать в чьих-л. сердцах (đoán được ý ai đó). Đối với người Nga sự khác biệt giữa các nghĩa của từ читать thể hiện ở khả năng kết hợp về mặt ngữ pháp của cụm từ. Ví du có thể nói читать письмо (đọc thư), сũng có thể nói прочитать письмо (đọc [xong] bức thư), nhưng không thể nói *прочитать Пушкина, cũng như không thể nói *прочитать в Педогогическом институте, v.v.

Nhưng trong từ điển Nga - Việt cho người Việt có thể chỉ cần tách thành ba nghĩa: 1) đọc 2) dạy, giảng dạy 3) đoán được, đọc được vì gặp những tổ hợp читать письмо, читать по-русски, читать Пушкина, читать стихи người Việt tìm ngay được cách nói tương ứng: đọc thư, đọc được tiếng Nga, đọc [tác phẩm] Puskin, đọc (ngâm) thơ và sự khác biệt của các từ “đọc” trong những tổ hợp này không quan yếu đối với người Việt.(6)

Nhiệm vụ chủ yếu của từ điển hai thứ tiếng là cung cấp cách dịch tương đương trong ngôn ngữ dịch đối với từ ngữ của ngôn ngữ gốc chứ không phải là giải thích ý nghĩa của chúng. Vì vậy, nếu trong ngôn ngữ dịch có một từ đã bao quát được nghĩa của từ tương ứng trong ngôn ngữ gốc thì việc lặp đi lặp lại một cách dịch trong ngôn ngữ dịch là không cần thiết. Ví dụ: từ mới trong tiếng Việt có thể dùng để dịch tất cả các cụm từ новый друг (người bạn mới); новый костюм (bộ âu phục mới); новый метод (phương pháp mới); новый начальник (thủ trưởng mới); новая работа (công việc mới)... do đó không nên tách từ новый thành 5 nghĩa khác nhau vì đều chỉ dịch là mới.(7)

Việc cung cấp những từ đồng nghĩa của từ đầu mục trong ngôn ngữ gốc chỉ có tác dụng giải thích nghĩa của từ trong ngôn ngữ gốc, chúng không giúp ích cho việc dịch sang ngôn ngữ dịch. Ví dụ đối với từ читать mà chú thêm đồng nghĩa là глотать, проглатывать và пробегать(8) không những là không cần thiết mà còn làm sai lệch nghĩa của từ читать vì nghĩa của chúng là đọc ngấu nghiến, đọc lướt qua (nghĩa bóng của động từ глотать, проглатывать (nuốt) và пробегать (chạy qua). Chúng bổ sung sắc thái nghĩa cho từ читать (ngấu nghiến, lướt qua) và cả hai đều thuộc phong cách hội thoại trong khi đó читать trung hoà về phong cách. Việc cung cấp nhiều từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ dịch có thể giúp người dịch văn bản biết được nhiều từ tương đương và khả năng lựa chọn một từ thích hợp. Tuy nhiên đối với người học, nhất là người mới học, thì lại không có lợi vì không phải các từ đồng nghĩa là thay thế được cho nhau. Chúng có những sắc thái nghĩa khác nhau, có sắc thái tu từ khác nhau, có sự đánh giá chủ quan khác nhau, và hoạt động trong các cụm từ khác nhau. Những điều này không dễ được chỉ dẫn trong từ điển vì không thể cho quá nhiều thí dụ minh hoạ.

Trong Từ điển Nga - Việt mới của К. М. Аликанов và И. А. Мальханова từ умирать ở nghĩa 1) cho những từ đồng nghĩa sau đây: chết, thác; (об уважаемом лице về người đáng kính) mất, quá cố, qua đời, từ trần, tạ thế, mệnh chung, thọ chung, thệ thế, ra đi, nằm xuống, về, nhắm mắt, quy tiên, quy thiên, tịch, băng hà; (о презираемом лице về người đáng khinh) ngoẻo, bỏ mạng, bỏ thây, củ; (погибать, остаивая что-л. chết để bảo vệ cái gì đó) hi sinh, liều thân, liều mình, xả thân, bỏ mình. Để minh hoạ các tác giả đưa một ví dụ sau đây: он умер ông ấy đã qua đời (chết, từ trần, tạ thế), cụ ấy đã quá cố (mệnh chung, nằm xuống, quy tiên, thọ chung), v.v.(9) Rõ ràng những chú thích trước dãy từ đồng nghĩa (về người đáng kính, về người đáng khinh, v.v.) không đủ để hướng dẫn cách sử dụng chúng. Thí dụ minh hoạ cũng không làm sáng tỏ sự khác biệt giữa các từ đồng nghĩa. Người học muốn biết cách sử dụng chúng lại phải tìm hiểu trong từ điển giải thích một thứ tiếng (trong trường hợp này là từ điển tiếng Việt).

Về thí dụ minh hoạ

Trong từ điển hai thứ tiếng, khác với trong từ điển tường giải một thứ tiếng, thí dụ minh hoạ nên chỉ là các cụm từ, tránh những câu trích dẫn dài lấy trong các tác phẩm văn học. Mỗi nghĩa сần có những thí dụ điển hình, tiêu biểu, tránh trùng lặp. Ví dụ với động từ читать không nên đưa quá nhiều cụm từ đồng dạng như: читать книгу (đọc sách), читать учебник (đọc sách giáo khoa), читать газету (đọc báo), читать статью (đọc bài báo), читать объявление (đọc thông báo), читать документ (đọc tài liệu); читать бегло (đọc lướt); читать быстро (đọc nhanh); читать медленно (đọc chậm), читать громко (đọc to), читать тихо (đọc khẽ), читать чётко (đọc rõ).(10)

Nên tránh những thí dụ ít lượng thông tin. Ví dụ với động từ читать không nên đưa những thí dụ như: читать о каком-л. человеке (đọc về người nào đó), читать о собаках (đọc về những con chó), читать кому-л. про детей (đọc cho ai đó [nghe] về những đứa trẻ), читать для детей (đọc cho những đứa trẻ [nghe]; читать на балконе (đọc ở ngoài ban công), читать на диване (đọc trên ghế đi-văng), читать под деревом (đọc dưới gốc cây), v.v.(11)

Không nên vì tiết kiệm mà gộp các yếu tố đồng loại trong các cụm từ đồng dạng lại thành một dãy và để trong dấu ngoặc ( ) kiểu: читать книгу (учебник, газету, статью, объявление, документ, письмо, сказку, стихи...) vì, trước hết, tất cả mọi cụm từ và thí dụ minh hoạ đều phải có cách dịch tương đương, nếu không, gặp từ nhiều nghĩa người đọc sẽ khó xử lí. Ví dụ trong Từ điển giáo khoa Nga - Việt từ найти ở nghĩa 1. cho những từ tương đương: trông thấy, bắt gặp, bắt được và minh hoạ bằng những cụm từ: найти ежа̾ (гриб, деньги, записку, ключ, следы), nhưng không cho cách dịch. Người mới học có thể không biết nghĩa của những từ ежа(12) và những từ để trong dấu ngoặc, mà nếu tìm được nghĩa những từ đó là con nhím, cái nấm, tiền, lá thư, chìa khoá, dấu vết) thì cũng không biết là trông thấy, bắt gặp hay là bắt được con nhím, v.v. Đây là công việc của người biên soạn, không nên bắt người đọc, nhất là với người mới học, phải vất vả tìm tòi. Thứ hai là gặp những cụm từ có tính từ mà cho các tổ hợp kiểu новый друг (сосед, ученик..., семья, школа..., лекарство, произведение...) thì người học sẽ dễ mắc lỗi do có những kết hợp sai ngữ pháp: *новый семья, *новый книга, *новый лекарство, *новый произведение.

Về các phụ lục

Một việc quan trọng đối với từ điển Nga - Việt cho người Việt là cung cấp các phụ lục: phụ lục về các địa danh quan trọng, phụ lục về tên riêng của tiếng Nga (vì tên gọi của người Nga có những cách cấu tạo đặc biệt khó đối với người Việt, ví dụ: Александр – Саша; Виктор – Витя v.v.), phụ lục về ngữ âm và nhất là phụ lục về ngữ pháp để giúp cho người học có điều kiện sử dụng từ điển dễ dàng hơn. Rất tiếc là những cuốn từ điển Nga - Việt cỡ lớn và từ điển giáo khoa không có những phần này.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 5 (7)/2010

Chú thích:

(1) Từ điển Nga - Việt của А.П. Шилтова xuất bản vào nửa cuối thế kỉ XX là từ điển cỡ nhỏ và từ điển bỏ túi.

Từ điển của Nguyễn Năng An xuất bản vào nửa cuối thế kỉ XX là từ điển cỡ trung. Từ điển của К. М. Аликанов, В. В. Иванов, И.А. Мальханова xuất bản vào nửa cuối thế kỉ XX và Từ điển của К. М. Аликанов, И. А. Малханова xuất bản vào đầu thế kỉ XXI là từ điển cỡ lớn.

(2) Từ điển Nga - Việt mới của К. М. Аликанов, И. А. Малханова tuy rằng trong “Vài lời của các tác giả” có viết: “Từ điển này dành cho các cán bộ chuyên môn Nga và Việt Nam, cho sinh viên, giảng viên cán bộ khoa học và thực hành, người dịch, và nói chung, cho những ai muốn nghiên cứu , học tập tiếng Nga, cũng như tiếng Việt”, nhưng thực chất từ điển này phục vụ cho người Nga. Điều này thấy rõ trong cách xử lí các vấn đề của từ điển và ở trang 2 của phụ bìa có câu: Издание будет полезно как для студентов, преподавателей и специалистов-вьетнамистов, так и для лиц изучающих вьетнамский язык самостоятельно (Cuốn sách này sẽ có ích cho sinh viên, giáo viên và các chuyên gia Việt Nam học cũng như cho những người tự học tiếng Việt).

Từ điển giáo khoa Nga - Việt do Bùi Hiền chủ biên là từ điển cho người Việt, mặc dù trong lời nói đầu có viết: “Từ điển giáo khoa ra đời nhằm phục vụ đông đảo các bạn học sinh, sinh viên, các nhà giáo và nhà nghiên cứu của Việt Nam và CHLB Nga”.

(3) So sánh những chú giải сủa một số từ trong hai từ điển. (4) Ví dụ trong “Quy tắc trình bày” nêu rõ đối với động từ sau chú giải chh. (thể chưa hoàn thành) hoặc h. (thể hoàn thành) là các dạng thời hiện tại, sau đó là các dạng thời quá khứ, tiếp là các dạng của thức mệnh lệnh, cuối cùng là tính động từ, trạng động từ, từng phần cách nhau bằng dấu (;), ví dụ: идти иду, идёшь; шёл, шла; иди, -те; идущий; идя thì những chú giải bằng từ viết tắt chỉ thời quá khứ, thức mệnh lệnh, tính động từ, trạng động từ không cần thiết nữa. Đối với danh từ những chữ viết tắt đ., c., tr. (giống đực, giống cái, giống trung) đã có thể thay cho danh từ. Đối với tính từ khi đã cho các dạng -ой (-ый, -ий), -ая (-яя), -ое (-ее), -ые (-ие) (giống đực, giống cái, giống trung, số nhiều ở nguyên cách) thì không cần từ viết tắt tt (tính từ) nữa, v.v.

Trong từ điển Nga - Việt nên dùng các chú giải bằng những từ viết tắt sử dụng phổ biến trong tiếng Nga hay bằng những từ viết tắt trong tiếng Việt là điều cũng nên bàn.

(5) Trong Từ điển Giáo khoa Nga - Việt có những từ viết tắt rất khó đoán, khó nhớ: lik (liệt kê), tit (tiểu từ), nr-hch (nêu ra hạn chế), tgt (tăng tiến). Đặc biệt là cùng một /những con chữ như nhau lại dùng cho các từ khác nhau: th (hội thoại), thc (thơ ca), thd (thường dùng), cth (coi thường), ctt (được cấu tạo từ), s (sách vở), sgs (suồng sã), sh (sở hữu), sl (số lượng), ss (so sánh); ng (dạng ngắn đuôi), ngv (nghi vấn) ngn (ngạn ngữ), ngnh (nguyên nhân), nh (nhỏ) v.v. (6) Trong Từ điển giáo khoa Nga - Việt tách thành 6 nghĩa: 1) đọc 2) đọc (thành tiếng) 3) đọc , biết chữ, đọc được 4) đọc, xem (để lĩnh hội nội dung) 5) đọc, ngâm (thơ) 6) đọc, giảng dạy, lên lớp. (7) Dẫn theo Từ điển Giáo khoa Nga - Việt, trang 763-764. (8) Dẫn theo Từ điển Giáo khoa Nga - Việt, trang 1.722. (9) Dẫn theo Từ điển của К. М. Аликанов - И. А. Мальханова, trang 1.001. (10), (11) Dẫn theo Từ điển Giáo khoa Nga - Việt trang 1.722. (12) Trong từ điển này không có từ ёж (con nhím). Nhiều câu làm thí dụ, kể cả những câu trích của các tác giả (không được dịch sang tiếng Việt) có những từ không có trong từ điển này. Một vài ví dụ:

Ở trang 513 trong những câu: В одну из ночей налетел шквал с тропическим ливнем и грозой. Вот когда был удобный момент для минной атаки những từ налететь, шквал, тропический, минный không có trong từ điển; Trong câu: Когда шёл дождь, мы стояли на остановке автобуса под навесом. từ навес không có trong từ điển; Trong câu: Когда он у нас гостил, он собрал коллекцию жуков từ коллекция không có trong từ điển. Ở trang 1.625 trong câu: Вдруг пронеслась весть, что Котька поступил в ученье к медику Захаржевскому những từ пронестись, медник không có trong từ điển. Trong câu Бабаев на ученьях уходил с ротой далеко в поле, делал сложные наступления на позиции, не занятый никем и возвращался в казармы с песнями по улицам những từ: рота, позиция, казарма không có trong từ điển. Ở trang 1.665 trong câu: Она посоветовала Лутонину заложить свой питомник. Если он думает разводить сад..., ему потребуется много саженцев... những từ заложить, питомник, саженец không có trong từ điển. Trong câu: Весь день он был занят хлопотами по хозяйству: утром он кашеварил, в полдень варил обед, вечером готовил ужин những từ хлопота, кашеварить không có trong từ điển. Ở trang 1.706 trong câu: Человек есть организм сложный, а потому и внутренний его мир до крайности разообразен những từ крайность, разнообразный không có trong từ điển. Trong câu: Следовать формировать человека, а не моряка, не чиновника, не офицера những từ формировать, чиновник không có trong từ điển.
 

 

Bài đăng trước:

  • Viết tên riêng nước ngoài thế nào?
  • Chưa bao giờ Hà Nội có tên là Tràng An
  • Dấu phẩy giá bao nhiêu?
  • Tên riêng nước ngoài nên viết nguyên dạng hay phiên âm?
  • Về cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài