Ngôn ngữ học

Về cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài
     

GS HOÀNG PHÊ

Hiện nay, trên các sách báo của ta, cách viết các tên người và tên địa lí nước ngoài không thống nhất. Cùng là tên một danh nhân, một thủ đô lớn, mà tờ báo này, quyển sách này viết một cách, tờ báo khác, quyển sách khác viết một cách. Ngay trên cùng một tờ báo, trong cùng một quyển sách, kể cả sách giáo khoa, mà có khi cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài cũng không nhất trí. Sự không thống nhất càng rõ rệt hơn nữa, nếu đem so sánh sách báo trong Nam với sách báo ngoài Bắc. Văn hoá, giáo dục, khoa học ở nước ta càng phát triển, thì nhân dân ta càng phải làm quen nhiều với những tên người và tên địa lí nước ngoài, nếu cứ để tình trạng lộn xộn trên đây thì sẽ gây nhiều khó khăn cho người đọc, nhiều lúng túng cho người viết. Đã đến lúc cần nghiên cứu để từng bước có những quy định, nhằm dần dần hạn chế bớt sự không thống nhất, và dần dần tiến tới sự thống nhất quy tắc về cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài. Một cố gắng đáng kể trong công việc này là bản "Dự án về dịch âm danh từ riêng của nước ngoài" của Ban thường trực Hội đồng Thuật ngữ khoa học xã hội (Uỷ ban Khoa học Nhà nước), đăng trên Tin tức hoạt động khoa học năm ngoái (số tháng 6-1962). Một số báo và nhà xuất bản đã thực hiện việc phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài theo tinh thần bản dự án đó. Nhưng sự lúng túng vẫn còn nhiều, và thực tiễn phiên âm trong thời gian vừa qua cho thấy rằng vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.

Sở dĩ có tình trạng cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài không thống nhất, là do có nhiều xu hướng khác nhau.

Trước hết, có hai xu hướng đối lập: một xu hướng muốn dựa theo cách phát âm trong nguyên ngữ, chủ trương phiên âm: Sếch-xpia (hoặc Sêcxpia), Iếc-cút (hoặc Iacutxcơ); một xu hướng muốn trung thành với cách viết trong nguyên ngữ, chủ trương sao nguyên (tên viết bằng chữ cái Latin): Shakespeare, hoặc chuyển chữ (tên viết bằng những chữ cái khác): Иркутск, chuyển từng con chữ một thành Irkutxk. Trên sách báo miền Bắc, thường dùng lối phiên âm; trên sách báo miền Nam, thường dùng lối sao nguyên hoặc chuyển chữ. Việc chuyển chữ có nhiều khó khăn, vì không phải tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có chữ viết bằng chữ cái, và chúng ta cũng không thể nào biết được tất cả các chữ viết ấy; việc sao nguyên cũng không đơn giản, và tuy rằng trên thế giới có nhiều nước dùng chữ cái Latin, nhưng chữ cái Latin dùng trong chữ viết của mỗi nước lại một khác, thường có những thêm bớt và những dấu phụ rất khác nhau. Vì vậy, trên sách báo miền Nam, thực tế là tên người và tên địa lí nước ngoài thường chỉ là sao nguyên theo cách viết của chữ Pháp hoặc chữ Anh mà thôi: De Gaulle, LLoyd George, Wright, Mitchourine, Irkoutsk, Nehru, Indonesia, Jérusalem. Theo cách này, cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài có thể dễ thống nhất, nhưng nó hoàn toàn lệ thuộc vào cách viết (đôi khi có thay đổi, không phải hoàn toàn thống nhất, và nhiều khi không hợp lí) của chữ Pháp, chữ Anh, và người đọc thường hết sức lúng túng, vì có nhiều tên người và tên địa lí nước ngoài không biết đọc như thế nào. Có thể tránh cho người đọc sự lúng túng đó, nếu dùng lối phiên âm. Nhưng việc phiên âm cũng có nhiều khó khăn. Cách phiên âm khác nhau, tuỳ theo quan niệm thế nào là dựa theo cách phát âm trong nguyên ngữ (thí dụ: Николай Островский, nên phiên âm là Ni-cô-lai Ô-xtơ-rốp-xki, hay Nhi-ca-lai A-xtơ-rốp-xki?), và tuỳ theo mức độ muốn trung thành nhiều hay ít với cách phát âm trong nguyên ngữ (nên Goóc-ki, hay Go-ki, hay Gô-rơ-ki?). Ngoài ra, vì trong rất nhiều trường hợp chúng ta không biết được nguyên ngữ, nên không thể nào phiên âm trực tiếp được, mà phải phiên âm gián tiếp, qua một ngôn ngữ trung gian (thường là một trong các ngôn ngữ lớn: Pháp, Nga, Anh, và có thể Tây-ban-nha), nên tuỳ theo ngôn ngữ trung gian được chọn, mà cách phiên âm cũng có khác nhau.

Vấn đề phiên âm còn có một mặt khác, tức là: dùng chữ viết của ta, vần quốc ngữ của ta như thế nào để phiên âm? Ở đây lại cũng có hai xu hướng đối lập: một xu hướng muốn áp dụng một số cải tiến cho chữ quốc ngữ và ghép thêm một số vần mới, một xu hướng ngược lại phản đối mọi sự cải tiến, mọi cách ghép vần mới. Nếu hoàn toàn chỉ ghép vần quốc ngữ như xưa nay để phiên âm, thì cách phiên âm sẽ dễ thống nhất, nhưng cách viết lại rườm rà và có nhiều trường hợp lúng túng. Còn nếu áp dụng một số cải tiến cho chữ quốc ngữ và ghép thêm một số vần mới, thì tuỳ theo mức độ cải tiến và giới hạn ghép thêm vần mới mà cách phiên âm lại khác nhau: Lê-nin-xcơ – Cu-dờ-nét-xki, Lêninxcơ – Cuzơnetxki, Lêninxk – Kuznetxki, v.v.

Về cách viết các tên phiên âm, còn có vấn đề nên viết liền như trong nguyên ngữ: Lênin, hay là nên viết tách rời từng âm tiết và dùng ngang nối: Lê-nin? Nếu viết liền, thì có những trường hợp có thể đọc lầm: Cămpuchia có thể đọc lầm thành Căm-pu-chi-a, trong khi Inđônêxia có thể đọc lầm thành In-đô-nê-xia. Để tránh đọc lầm, có nhà xuất bản đã thử dùng một vài dấu đặc biệt, và viết Pêt'rôvich (để tránh đọc lầm thành Pê-trô-vích), Tachi'ana (để tránh đọc lầm thành Ta-chia-na). Nhưng có cần những dấu đặc biệt như vậy hay không, và nếu cần thì nên dùng như thế nào, cũng là một vấn đề đang tranh luận.

Ngoài ra, còn có rất nhiều tên người, tên địa lí nước ngoài trước nay chúng ta đã quen gọi, quen viết một cách thống nhất, nay vì lẽ nào đó thấy rằng cách gọi, cách viết ấy không được hợp lí, vậy có nên sửa đổi cách gọi, cách viết ấy hay không, và những trường hợp như thế nào thì mới nên sửa đổi? Một vài thí dụ: nên vẫn Mạc-tư-khoa, hay đổi là Mát-xcơ-va, hay Mô-xcơ-va hoặc Môxcơva? Nên vẫn Ăng-ghen, hay đổi là En-ghen, hay En-gen hoặc Engen?

Tóm lại, vấn đề cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài là một vấn đề rất phức tạp. Đây lại là việc mà chúng ta phải giải quyết hằng ngày, dù biết rằng cách giải quyết của chúng ta có chưa được hợp lí, thì cũng không thể ngồi chờ một sự nghiên cứu kĩ hơn, tốt hơn. Cho nên cách viết tên người và tên địa lí nước ngoài trên báo chí của chúng ta không thống nhất là một hiện tượng khó tránh khỏi. Vấn đề này chỉ có thể giải quyết dần dần, qua nghiên cứu kết hợp với thực tiễn.

Điều quan trọng là cần thống nhất ý kiến trên một số vấn đề về nguyên tắc. Và trước tiên là cần xác định mục đích của việc viết tên người và tên địa lí nước ngoài. Nếu là trong những sách nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, dùng riêng cho một số ít nhà khoa học quen tham khảo các sách báo nước ngoài, hoặc là trong thư mục của một thư viện khoa học, trên hộ chiếu ngoại giao, v.v., thì khi viết tên người nước ngoài, không những tốt hơn hết mà nhiều khi nhất thiết cần phải dùng lối sao nguyên hoặc chuyển chữ, để bảo đảm sự thống nhất hoàn toàn của cách viết. Nhưng vấn đề chúng ta phải giải quyết ở đây là: viết tên người và tên địa lí nước ngoài trên sách báo thông thường, dùng cho quần chúng rộng rãi trong nước. Yêu cầu căn bản, yêu cầu trước tiên là phải làm thế nào cho nhân dân ta đọc được. Do đó không thể thoát li hệ thống ngữ âm và hệ thống chữ viết của chúng ta, mà phải căn cứ vào khả năng phát âm thực tế của nhân dân ta và vào chữ quốc ngữ của chúng ta. Phải nghĩ làm sao tiện cho người đọc, trước khi nghĩ làm sao tiện cho người viết, mà người đọc ở đây là học sinh, là công nhân, nông dân, cán bộ bình thường. Vì vậy, nên phiên âm, chứ không nên sao nguyên hoặc chuyển chữ. Dùng lối sao nguyên hoặc chuyển chữ, tức là phải viết vô số vần mới lạ, mà dù là người rất thạo tiếng nước ngoài cũng không thể nào biết được hết. Viết Shakespeare, thì chắc chắn là rất ít người sẽ đọc "sếch-xpia" mà rất đông người sẽ đọc thành "sa-ke-spe-a-re", và không ít người sẽ đành chịu, không biết đọc như thế nào! Những vần mới lạ như thế, cách đọc lại rất không thống nhất: Watt đọc là "oát", nhưng Watteau đọc là "va-tô", Wagner lại đọc là "vác-nơ", và Wright thì lại đọc là "rai-ít", người đọc tránh sao khỏi vô cùng lúng túng.

Như vậy, vấn đề là phải nghĩ một hệ thống phiên âm tên người, tên địa lí nước ngoài của chúng ta. Ở đây, cần chú ý đến những đặc điểm của tên người, tên địa lí nước ngoài phiên âm.

Trong quá trình văn hoá, khoa học nước ta phát triển, chúng ta tiếp xúc ngày càng nhiều với các ngôn ngữ nước ngoài, trực tiếp vay mượn ngày càng nhiều từ của nước ngoài (từ thông thường, thuật ngữ khoa học kĩ thuật) và làm quen ngày càng nhiều với những tên người và tên địa lí nước ngoài. Qua những từ vay mượn, những tên người và tên địa lí nước ngoài, ngôn ngữ của chúng ta không tránh khỏi dần dần tiếp thu một ít yếu tố ngữ âm của các ngôn ngữ nước ngoài. Một thí dụ: trước kia trong tiếng Việt, không dùng phụ âm p đầu âm tiết (nên poste của tiếng Pháp sang ta thành bốt, pompe sang ta thành bơm, v.v.), nhưng ngày nay không những chúng ta đã quen viết mà dần dần cũng đã có nhiều người quen nói pô-pơ-lin, pin, a-pa-tít, pi, pu-li, Pa-thét Lào, Căm-pu-chia, v.v. Sự tiếp thu một ít yếu tố ngữ âm mới như thế là một quá trình dần dần, chậm chạp và có những quy luật của nó.

Trong sự phát triển của ngôn ngữ, trong sự tiếp xúc và ảnh hưởng qua lại giữa các ngôn ngữ đó là một quá trình tất yếu. Đáng chú ý là chữ quốc ngữ của ta là một chữ viết ghi âm, nó dựa trên phát âm nhưng đồng thời cũng có tác dụng ảnh hưởng ngược lại đến phát âm, nên có thể có tác dụng tạo một điều kiện thuận lợi cho sự tiếp thu yếu tố ngữ âm mới, xúc tiến phần nào quá trình ấy. Cách viết phổ biến của chúng ta hiện nay (ngoài Bắc cũng như trong Nam) đối với một số thuật ngữ khoa học: hy-đrô (hyđrô), brôm, crôm, von-fram (vonfram), prô-tít (prôtít), pro-ton (proton), glu-cô (glucô), jun, v.v. (những thuật ngữ này có tính chất quốc tế), đang làm cho đông đảo học sinh của chúng ta ở nhà trường, cán bộ, công nhân, v.v. học bổ túc văn hoá, dần dần làm quen với cách phát âm ghép liền hai phụ âm, loại đr, br, fr, pr, cl, gl..., làm quen với phụ âm "j" (khác với "gi": so sánh jungiun), v.v.

So với thuật ngữ khoa học mượn của ngôn ngữ nước ngoài thì tên người và tên địa lí nước ngoài càng giữ một sắc thái nước ngoài rõ rệt hơn, vì đối với tên người và tên địa lí phiên âm thì đòi hỏi "trung thành" với cách phát âm trong nguyên ngữ phải nhiều hơn, đòi hỏi "Việt hoá" phải ít hơn. Cũng chính vì vậy nên có nhiều tên nước ngoài rất dài, nhưng khi phiên âm, chúng ta không thể tuỳ tiện cắt bớt âm tiết, làm thành thật ngắn, gọn, cho hợp với ta hơn (trừ một ít trường hợp đặc biệt, như khi chúng ta gọi và viết "tổng Ken", để chỉ tổng thống Ken-nơ-đi). Khi viết một số thuật ngữ khoa học mượn của nước ngoài, chúng ta bắt buộc phải ghép thêm một ít vần mới, thì khi phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài, chúng ta lại càng không thể chỉ hoàn toàn tự hạn chế trong những vần quốc ngữ hiện có. Gần đây, khi viết các tên nước ngoài phiên âm, chúng ta đã ghép p đầu âm tiết, như trong Pa-thét Lào, Pa-ri, đã ghép x trực tiếp trước một con chữ phụ âm, như trong Xta-lin, Pa-ki-xtan, những vần ghép như thế ngày nay đã quen dùng, nhưng không thấy trong chữ viết của ta trước đây chỉ mới mươi – mười lăm năm. Như vậy, về nguyên tắc, để tiện cho việc phiên âm, việc ghép thêm một số vần mới là cần thiết. Nhưng việc này cần phải làm thận trọng, có mức độ, tránh gây nhiều khó khăn, lúng túng cho đông đảo người đọc. Cần nghiên cứu quy định một giới hạn cho việc ghép thêm vần mới, để tránh lạm dụng. Việc ghép thêm vần mới nên hạn chế ở mức tối thiểu cần thiết, trong phạm vi mà một mặt yêu cầu thực tế của việc phiên âm đòi hỏi, một mặt khác khả năng phát âm thực tế, khả năng tiếp thu của nhân dân ta hiện nay cho phép. Khi nói khả năng phát âm thực tế của nhân dân ta thì nên nhìn đối tượng đông đảo học sinh, đông đảo cán bộ, công nhân, v.v. đang học bổ túc văn hoá, và nên chú ý tình hình trình độ văn hoá chung của nhân dân ta đang ngày được nâng cao rất nhanh. Nếu chỉ nhìn đối tượng lớp người mới vừa biết đọc biết viết, thì sẽ dễ sinh câu nệ, không dám ghép thêm một vần mới nào cả. Đối với người mới biết đọc, biết viết, thì một sự bỡ ngỡ lúc đầu trước những tên người, tên địa lí nước ngoài phiên âm là không thể tránh khỏi. Nhưng nếu lại nhìn đối tượng lớp người có trình độ văn hoá tương đối cao, ít nhiều có biết tiếng nước ngoài, thì sẽ dễ sinh chủ quan, muốn ghép vần mới một cách hầu như không hạn chế (một vài thí dụ: Klaixt, Trxtenyak, v.v.), và như vậy cũng không tốt.

Chữ quốc ngữ của chúng ta là một lối chữ ghi âm tương đối hợp lí, giản tiện, nên rất thuận lợi cho việc phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài. Tuy nhiên, chữ quốc ngữ cũng có những điểm không hợp lí, và đang cần được cải tiến. Chúng ta cần chú ý điều này khi phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài. Chính trong các tên phiên âm, có thể đi trước một bước thực hiện một số cải tiến cần thiết cho chữ quốc ngữ, nhưng nên hạn chế ở những cải tiến không xáo trộn vần quốc ngữ hiện dùng và không gây đọc lầm. Thí dụ, có thể và nên dùng f thay cho ph, để cho hợp lí hơn, gọn hơn: Fi-líp; cũng có thể dùng z thay cho d: Vê-nê-zu-e-la (nhưng để tránh đọc lầm, trong khi chữ quốc ngữ còn chưa được cải tiến, không nên dùng d thay cho đ, trong những tên phiên âm như Đi-đrô). Có thể và cũng nên thí nghiệm lối viết liền: Lêninxcơ - Cuzơnétxki. Mặt khác, nên tránh những bất hợp lí có thể tránh được của chữ quốc ngữ, và nhất là không nên vì vẫn còn muốn ít nhiều trung thành với cách viết trong nguyên ngữ mà đưa vào trong chữ quốc ngữ những bất hợp lí mới, thí dụ không nên viết: Xy-ri, Ken-nơ-đy (đáng lẽ nên viết Xi-ri, Ken-nơ-đi).

Dưới đây chúng tôi xin trình bày một đề án quy tắc phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài 1. Bản đề án này không đầy đủ, và thật ra chỉ mới là một đề án về vần quốc ngữ dùng trong phiên âm. Nhưng vấn đề này, theo chúng tôi nghĩ, chính là một vấn đề mấu chốt, cần giải quyết trước tiên trong việc phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài.

I. NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG CHÂM CHUNG

Phỏng theo cách phát âm trong nguyên ngữ, căn cứ vào khả năng phát âm thực tế của nhân dân ta hiện nay, dùng vần quốc ngữ của ta, có cải tiến và bổ sung chút ít, để viết các tên người và tên địa lí nước ngoài, làm thế nào cho:

1) Nhân dân ta (những người không biết tiếng nước ngoài) có thể đọc được một cách không khó khăn.

2) Cách đọc trong tiếng ta gần nhất với cách đọc trong nguyên ngữ, trong phạm vi mà tiếng nói của ta hiện nay cho phép.

3) Cách viết càng hợp lí và càng đơn giản, càng gọn càng tốt.

II. VẦN QUỐC NGỮ DÙNG TRONG PHIÊN ÂM

1) Những cải tiến:

- Dùng f thay cho ph, thí dụ: Filíp.

- Dùng z thay cho d, thí dụ: Zôla.

- Bỏ h trong gh (trừ trong ghi, để khỏi đọc lầm là "gi"), thí dụ: Bécgen (nhưng Ghinê).

2) Những bổ sung:

- Bên cạnh các vần "ac, ec, ôc...", ghép thêm các vần "êc, ic" (đã thường dùng trong một số thuật ngữ khoa học: các-bô-níc, a-xít sun-fu-ríc, v.v.), thí dụ: Mếcxicô, Môzambíc.

- Ghép thêm các vần "ya" (đọc i-a), "yu" (đọc i-u), để phân biệt với các vần ia, iu, thí dụ: Kênya (so sánh: Cátsơmia), Ryukyu (so sánh: Niutơn). - Ghép p đầu âm tiết, thí dụ: Pari.

- Hiện nay, chúng ta quen dùng "gi" trong phiên âm để viết một phụ âm thật ra khác với phụ âm viết bằng "gi" trong tiếng ta (so sánh: "Gia-va" và "Gia-nã-đại"); đó là phụ âm viết bằng "j" trong tiếng Pháp hoặc bằng "ж" trong tiếng Nga, phụ âm này có trong một vài tiếng địa phương của tiếng Việt và thực tế nhân dân ta nhiều người phát âm được. Để được hợp lí và gọn, dùng thêm j để viết phụ âm này, thí dụ: Anjêri, Jơnevơ.

- Phổ biến trong ngôn ngữ các nước ngoài cũng như trong một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong nước ta là dùng hai ba phụ âm ghép liền với nhau, như br-, cl-, pt-, pst-, v.v. Để việc phiên âm được gọn, có thể ghép liền hai con chữ phụ âm với nhau, nhưng nên hạn chế trong những trường hợp mà cách kết hợp hai phụ âm như thế rất thường gặp ở các tiếng nước ngoài và cách phát âm đối với nhân dân ta thực tế thấy không khó khăn, cụ thể trong 4 trường hợp sau đây:

a) Ghép r sau một phụ âm, như br, cr, v.v. (như trong một số thuật ngữ khoa học: hy-đrô, crôm, v.v.), thí dụ: Praha. (Chú ý: trừ sau phụ âm t, không ghép r, để khỏi đọc lầm như tr của tiếng Việt, mà thêm ơ sau t và viết tơr-, thí dụ: Tơripôli).

b) Ghép l sau một phụ âm, như bl, cl, v.v. (như trong một số thuật ngữ khoa học: clo, glu-cô, v.v.), thí dụ: Pavlốp.

c) Ghép x trước một phụ âm, như xt, xm, v.v., thí dụ: Xtalin. d) Ghép s trước một phụ âm, như st, sm, v.v., thí dụ: Puskin.

Chú ý:

1) Ngoài một số điểm cải tiến nhỏ và một số ít vần bổ sung đã nêu ở trên, hoàn toàn chỉ dùng vần quốc ngữ theo như hiện nay. Do đó, sẽ không dùng những vần như "ôl", "ax", "av", "ur", "af", "ar", "er", v.v. mà chọn những vần quốc ngữ nào (như ôn, at, ap, ua, v.v.) viết những âm na ná với âm trong nguyên ngữ. Thí dụ: không viết Vrôxlav, Afganixtan, Bergen, v.v., mà viết Vrôxlap, Apganixtan, Becgen

2) Đặc biệt, trừ mấy vần bổ sung (br, bl, xt, st, v.v.) đã nêu ở trên, không dùng những nhóm hai ba con chữ phụ âm ghép liền với nhau trong một vần. Đồng thời cũng không ghép những con chữ phụ âm cuối không có trong vần quốc ngữ. Do đó, khi cần thiết, cần thêm "ơ" sau mỗi con chữ phụ âm để cho dễ đọc, theo vần quốc ngữ. Thí dụ: không viết Brnô, Linx, Pôznan, Axtrakhan, mà viết Brơnô, Linxơ, Pôzơnan, Axtơrakhan.

III. VẤN ĐỀ VIẾT LIỀN. QUY TẮC ĐỌC NHỮNG TỪ VIẾT LIỀN

Để được gọn và hợp lí, nên thực hiện lối viết liền theo như cách viết trong nguyên ngữ, thí dụ: Lêninxcơ - Cuzơnétxki.

Khi viết liền, có thể đọc nhiều cách khác nhau (thí dụ: Tanganica, có thể đọc thành "ta-nga-ni-ca", "tan-ga-ni-ca", "tang-a-ni-ca", v.v.), thường là do có những con chữ phụ âm không biết là đứng cuối vần trước hay là đứng đầu vần sau. Để tránh đọc lầm, cần theo quy tắc sau đây:

Khi đọc các từ phiên âm viết liền, đọc theo vần quốc ngữ (có bổ sung ít nhiều, như đã nói ở trên) đọc ghép lại với nhau tất cả những con chữ nào có thể ghép thành vần được, như vậy hết vần này đến vần khác; trừ các con chữ phụ âm, nếu có thể ghép đầu vần sau, thì phải đọc tách ra khỏi vần trước để ghép đầu vần sau. Thí dụ Lênin, đọc "lê-nin", Muamanxcơ, đọc "mua-man-xcơ", Cốtsi, đọc "cốt-si", v.v. Những trường hợp phải đọc trái với quy tắc trên đây, thì dùng một kí hiệu nhỏ (dấu "phẩy treo") làm dấu tách vần để chỉ cách đọc, thí dụ: Tan'ganica, đọc "tan-ga-ni-ca" (không đọc "ta-nga-ni-ca"), Tơron'hem, Sara'oac. (Theo thống kê sơ bộ, trung bình trong 100 từ phiên âm, chỉ có khoảng 3 - 4 từ là cần phải dùng đến kí hiệu tách vần).

*

*           *

Việc ghép thêm một số vần mới và thực hiện lối viết liền sẽ làm cho cách viết phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài được gọn hơn và hợp lí hơn rất nhiều. Nhưng cái gì mới thì lúc đầu cũng có nhiều người bỡ ngỡ. Điều đó là tất nhiên. Nhưng cũng vì vậy mà chúng ta cần hết sức thận trọng và cần cố gắng làm sao cho nhân dân ta đỡ bỡ ngỡ lúc đầu. Chúng tôi nghĩ rằng:

1) Việc ghép thêm vần mới và viết liền các tên phiên âm nên thực hiện dần dần. Có thể không nên thực hiện ngay hai việc cùng một lúc, mà trong bước đầu, nên thực hiện việc ghép thêm một số vần mới, còn việc viết liền thì chỉ mới nên thí nghiệm trên một số sách báo nhất định. Sau này, khi nhân dân ta đã quen với các vần mới, thì sẽ thực hiện việc viết liền các tên phiên âm một cách phổ biến.

2) Trên một số sách báo, khi thực hiện việc ghép thêm vần mới hoặc khi thực hiện việc viết liền các tên phiên âm, nên có sự giới thiệu, hướng dẫn cách đọc trong những bản tóm tắt rất gọn, trong một thời gian đầu.

1963

Nguồn: HOÀNG PHÊ - Tuyển tập Ngôn ngữ học.
NXB Đã Nẵng 2008.

Chú thích:

1 Bản đề án này đã được trình bày tại một cuộc họp, do Bộ Giáo dục triệu tập, bàn về cách viết phiên âm tên địa lí nước ngoài và tại một cuộc toạ đàm, do Viện Văn học (Uỷ ban Khoa học Nhà nước) triệu tập bàn về cách viết phiên âm tên người và tên địa lí nước ngoài trên sách báo.

 

 

Bài đăng trước:

  • Giáo dục ngôn ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
  • Vấn đề chuẩn hoá từ vựng tiếng Việt
  • Về tiểu loại "tổng hợp" trong các thực từ tiếng Việt
  • Bảo vệ tiếng Việt - một vấn đề của thời hội nhập
  • Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt