Ngôn ngữ học
| Giới thiệu sách mới: CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT | ||||||||||||||||||||||||
| PGS, TS NGUYỄN VĂN HIỆP | ||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||
Vietlex trân trọng giới thiệu với độc giả giáo trình CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT của PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệp. Giáo trình này là kết quả những bài giảng về Cú pháp tiếng Việt mà Nguyễn Văn Hiệp đã trình bày cho sinh viên Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội hơn 15 năm nay. Đặc biệt, Giáo trình này cũng giúp ích rất nhiều cho những ai quan tâm tới vấn đề Xử lí tiếng Việt ứng dụng trong công nghệ thông tin. LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình này là kết quả những bài giảng về Cú pháp tiếng Việt mà tôi đã trình bày cho sinh viên Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội hơn 15 năm nay. Trong mấy chục năm gần đây lĩnh vực nghiên cứu cú pháp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều sự kiện sôi động, nhiều trường phái ngữ pháp ra đời và phát triển mạnh, nhiều nghiên cứu mới dựa trên cứ liệu các ngôn ngữ phương Đông xa lạ đã thách thức những xác tín lâu đời và mở ra những hướng tiếp cận mới, cho phép khám phá sâu hơn bản chất của ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Các nhà cú pháp học tiếng Việt đã cố gắng theo sát các trào lưu của cú pháp học thế giới và đã có nhiều công trình đáng được ghi nhận. Cho dù đôi khi có những phê phán và tranh cãi gay gắt nhưng mỗi tác giả, mỗi khuynh hướng đều có đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt. Khi trình bày giáo trình này, tôi luôn luôn tìm cách tiếp thu cái mới của lí luận cú pháp học thế giới nhưng không bài xích lí luận cổ điển. Đặc biệt, tôi cho rằng Đông phương học Nga đã có những đóng góp rất quan trọng cho sự phát triển của cú pháp học tiếng Việt. Giáo trình này là sự tiếp tục của dòng chảy cú pháp học ở Khoa Ngôn ngữ, Đại học Tổng hợp Hà Nội cũ, nay là Đại học Khoa học Xã hội&Nhân văn Hà Nội. Tôi cám ơn những thầy cô đi trước đã dạy tôi về ngôn ngữ học và cho tôi cơ hội được tiếp tục công việc gian nan nhưng vô cùng thú vị là nghiên cứu cú pháp tiếng Việt cũng như trình bày nghiên cứu của mình cho nhiều lớp sinh viên của Khoa Ngôn ngữ học. Tôi cám ơn các anh chị em sinh viên đã theo học cú pháp tiếng Việt với tôi, đã trao đổi và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến thú vị đến nỗi nhiều khi tôi tự nhủ mình sẽ không thể nghiên cứu cú pháp được nếu không có môi trường học thuật thú vị như vậy. Tôi cũng xin chân thành cám ơn NXB Giáo dục và các biên tập viên đã tạo điều kiện để cuốn sách có thể ra mắt bạn đọc trong thời gian sớm nhất. Với một vấn đề rộng và phức tạp như cú pháp tiếng Việt, dẫu có cố gắng đến mấy thì chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, nhiều điều cần bàn luận thêm, vì thế tôi mong nhận được sự chỉ giáo và góp ý từ quý độc giả theo địa chỉ Email: nvhseoul@yahoo.com. Sự quan tâm của quý độc giả sẽ là niềm vinh hạnh to lớn đối với tôi. Và tôi xin gửi đến quý độc giả lời cám ơn chân thành nhất. Chương 5: Các thành phần chính của câu (Trích trong cuốn CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT) 5.1. Dẫn nhập Như đã nói trong chương 4, chúng tôi quan niệm thành phần chính là những thành phần câu tham gia vào nòng cốt của câu. Trong nghiên cứu cú pháp, có một thông lệ bất thành văn là khi miêu tả cấu trúc cú pháp của câu, người ta chỉ trình bày cấu trúc cú pháp của kiểu câu đơn song phần, là kiểu câu có cấu trúc ứng với cấu trúc cú pháp cơ bản được chọn làm công cụ để miêu tả. Các kiểu câu còn lại (câu ghép, câu phức, câu đặc biệt) sẽ được hình dung chẳng qua chỉ là dạng phát triển hay khiếm khuyết của kiểu câu đơn song phần này. Do sự liên hệ sâu xa với ngữ pháp nhà trường, chúng tôi chọn cấu trúc chủ-vị làm cấu trúc cú pháp cơ bản để miêu tả câu tiếng Việt. Tuỳ theo bản chất của vị ngữ mà thành phần chính của câu đơn song phần của tiếng Việt sẽ gồm có chủ ngữ + vị ngữ hoặc chủ ngữ + vị ngữ + bổ ngữ. 5.2. Vị ngữ 5.2.1. Một số thảo luận về vị ngữ a) Về dấu hiệu nhận diện vị ngữ Cho đến những năm 50 của thế kỉ 20, với ảnh hưởng của chủ nghĩa “Dĩ Âu vi trung”, trong các sách ngữ pháp tiếng Việt, vị ngữ của câu thường được đồng nhất với động từ. Quan niệm như vậy là quá hẹp, bởi lẽ trong tiếng Việt còn có những câu mà ở đó khó có thể xem vị ngữ là động từ (ví dụ: Anh ấy 30 tuổi; Nó tên là Quýt; Lúa này của chị Hoa) [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 86-87]. Với tư cách là trung tâm ngữ nghĩa của câu, trong các tiếng Châu Âu, vị từ ở hình thái nhân xưng là công cụ để biểu thị những ý nghĩa về thời, thể, tình thái, do đó thể hiện mối quan hệ giữa nội dung câu với hiện thực, với với nhận thức và thái độ của người nói. Tiếng Việt không biến đổi hình thái, nhưng vai trò trung tâm của vị ngữ trong tổ chức ngữ nghĩa của câu cũng được thể hiện qua khả năng kết hợp của từ làm vị ngữ với những từ chỉ thời, thể, tình thái. Dựa trên đặc điểm này, các tác giả cuốn Ngữ pháp lớp 6, tập II dùng thí điểm ở Hà Nội năm học 1963 – 1964 xem khả năng kết hợp với những hư từ chỉ phương thức tồn tại của hành động hay tính chất (như đã, đang, sẽ, cũng vẫn, đều...) là dấu hiệu để nhận biết vị ngữ [Tổ Ngôn ngữ học 1963, 10]. Nhà Việt ngữ học người Nga V. S. Panfilov cũng xem khả năng kết hợp với những hư từ thời, thể và tình thái là dấu hiệu của vị ngữ: “Vị ngữ là đỉnh cao nhất của câu, xét về bình diện ngữ pháp, nó là phạm trù khẳng định/phủ định và thể hiện dấu hiệu theo nghĩa rộng nhất của từ này” [Panfilov V. S., 1993, bản dịch tiếng Việt 2008, 73]. Một cách chặt chẽ hơn, Nguyễn Minh Thuyết chủ trương chỉ dùng các phó từ mang ý nghĩa thời - thể làm tiêu chí nhận diện vị ngữ sau khi đã xác định được nòng cốt câu. Theo đó, vị ngữ là bộ phận của nòng cốt câu có thể chen thêm phó từ chỉ thời, thể hoặc cách thức vào phía trước; và trong trường hợp bộ phận này gồm hơn một từ thì vị ngữ là từ chính của bộ phận ấy. Tiêu chí tỏ ra rất có hiệu quả, ngay cả những vị ngữ không được biểu thị bằng vị từ cũng có thể được đánh dấu bằng các hư từ như vậy. Ví dụ: - Anh ấy 30 tuổi → Năm nay, anh ấy đã 30 tuổi. - Nó tên là Quýt → Nó đang tên là Quýt. - Lúa này của chị Du → Lúa này sẽ của chị Du. [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 88]
- Bé ngủ.
- Cô ấy buồn. + Vị ngữ là vị từ ngoại động, yêu cầu có bổ ngữ trong nòng cốt câu. Ví dụ:
- Tôi đọc sách.
- Nhà xa trường. + Vị ngữ là vị từ thuộc nhóm “trao tặng”, yêu cầu có hai bổ ngữ trong nòng cốt. Ví dụ:
- Nó biếu bà cân cam.
- Cô ấy gửi thư cho tôi.
- Nó dám cãi bố mẹ.
- Thằng bé suýt ngã xuống sông.
- Các quá trình vật chất (material), phản ánh thế giới vật lí. - Các quá trình tinh thần (metal), phản ánh thế giới ý thức. - Các quá trình quan hệ (relational), phản ánh các mối quan hệ trừu tượng. - Các quá trình hành vi (behavioural), chuyển tiếp giữa các sự thể vật chất và các sự thể tinh thần. - Các quá trình ngôn từ (verbal-tức sử dụng ngôn từ, bao gồm nói năng và cảm nghĩ), chuyển tiếp giữa các quá trình tinh thần và các quá trình quan hệ. - Các quá trình tồn tại (existential-gồm sự tồn tại, sự xuất hiện, sự tiêu biến), chuyển tiếp giữa các quá trình vật chất và các quá trình quan hệ (Halliday 1985).
Một cách phân loại khác là của S.Dik (1989). Tác giả áp dụng các tham số ngữ nghĩa về tính [+/- động], [+/- chủ ý], [+/- hữu kết], [+/- nhất thời] để phân biệt các sự tình là hành động, trạng thái, biến cố, quá trình, công năng, v.v. Ở Việt Nam, Cao Xuân Hạo cũng đã nêu ra một cách phân loại rất chi tiết, kết hợp được cách phân loại của Halliday và Dik [Cao Xuân Hạo 1991, 133] Tuy nhiên, cần lưu ý là, tuy không phủ nhận vai trò của vị từ trung tâm trong việc tổ chức sự tình nhưng cách phân loại trên đây thực ra không phải là cách phân loại các vị từ trung tâm mà là sự phân loại cho cả sự tình nói chung, bởi lẽ sự thay đổi ở các vai nghĩa sẽ dẫn đến sự thay đổi sự tình [Dik 1989, 90]. Vì vậy, khi nói về cách phân loại vị ngữ theo kiểu sự tình mà vị ngữ tham gia biểu đạt, chúng ta cần phải lưu ý đến tính chất tương đối của sự phân loại này. Với một sự lưu ý như vậy, ta có thể phân biệt, chẳng hạn:
- Nó đánh tôi → vị ngữ biểu thị hành động. - Nó cao hơn tôi. → vị ngữ biểu thị quan hệ. - Nó mệt. → vị ngữ biểu trạng thái. v.v.
+ Vị ngữ biểu thị thông tin tình thái Đây là trường hợp vị ngữ do các vị từ tình thái tính đảm nhiệm. So với vị từ tình thái (modal verb) thì các vị từ tình thái tính (modality verb) lập thành một danh sách lớn hơn rất nhiều, có thể xem là một tập hợp mở. Givón đã xác lập một định nghĩa rõ ràng về nghĩa học và kết học cho lớp từ này như sau [Givón 1990, 533]:
- Về mặt nghĩa học: a. Là vị từ chính, biểu thị sự bắt đầu, sự kết thúc, sự kéo dài, sự thành công, sự thất bại, sự cố gắng, ý định, nghĩa vụ bắt buộc hoặc khả năng đối với sự tình được miêu tả ở bổ ngữ. b. Chủ thể ngữ pháp của cú chính bắt buộc cũng là chủ thể ngữ pháp của cú phụ.1
- Về mặt kết học: Sơ đồ hình cây sau đây thể hiện vị thế của vị từ tình thái tính trong quan hệ đối đãi với các thành tố khác trong câu:
S = câu
Subj = chủ thể ngữ pháp VP = động ngữ V = vị từ tình thái tính
Ví dụ: “Nó bỏ học rồi”.
Việc dùng vị từ tình thái “bỏ” giả định rằng trước đây nó đã đi học. Vì thế, ta không thể nói:
-* Nó bỏ học rồi, nhưng thực tế nó chưa bao giờ đi học cả.
-* Mưa bắt đầu rơi, nhưng bây giờ thì làm gì có mưa.
-* Nó đâm thèm rau, nhưng thực ra nó chẳng thèm gì cả.
Ví dụ: “Nó toan phát biểu”
-* Nó toan phát biểu, thế rồi trước sự ngạc nhiên của mọi người, nó cứ phát biểu oang oang.
-* Thằng bé suýt ngã xuống sông, may nhờ có người nhảy xuống cứu kịp thời, nếu không thì nó chết đuối mất.
- * Nó chực chạy, tôi phải cố sức đuổi theo mới bắt được.
Ví dụ: “Nó mong đi Việt Nam”.
- Nó mong đi Việt Nam và rồi hôm qua, nó đi thật.
- Nó mong đi Việt Nam, nhưng mong ước mãi mãi chỉ là mong ước, nó lấy đâu ra tiền mà đi. b) Phân loại vị ngữ theo cấu tạo Vị ngữ có thể là một từ, ngữ hoặc cụm chủ-vị. + Vị ngữ là một từ, ngữ. Ví dụ :
- Cô ấy xinh.
- Nó đọc sách. - Mấy anh này người Huế. - Đồng hồ này ba kim. - Bàn này bằng gỗ.
- Cô ấy xinh. → Cô ấy không xinh.
- Nó đọc sách. → Nó không đọc sách. - Mấy anh này người Huế. → Mấy anh này không phải người Huế. - Đồng hồ này ba kim. → Đồng hồ này không phải ba kim. - Bàn này bằng gỗ. → Bàn này không phải bằng gỗ.
- Cam này ngon → Cam này trông ngon.
- Cá này ngon → Cá này rán ngon.
- Trông cam này ngon / Trông thì cam này ngon.
- Rán cá này ngon / Rán thì cá này ngon.
- Gặp ai nó cũng “ô”, ra vẻ ngạc nhiên.
- Nói gì nó cũng “ừ”.
- Ông ấy bao giờ cũng miệng nói tay làm.
- Nó là sinh viên.
- Khóc là nhục. - Anh nói thế là anh dại.
- Điều tệ hại là nó vẫn mê chơi.
[chủ ngữ + vị ngữ + bổ ngữ (kết cấu chủ-vị)] - Tôi im lặng là tôi đồng ý. [chủ ngữ (kết cấu chủ-vị) + vị ngữ + bổ ngữ (kết cấu chủ-vị)]
- Trên bàn đặt một cuốn sách.
- Một cuốn sách đặt ở trên bàn.
- “Bỗng từ đằng xa tiến lại hai cậu bé”.
- Soviet soldiers executed the Russian royal family.
(Lính Xô Viết đã hành quyết hoàng gia Nga)
- The Russian royal family was executed by Soviet soldiers.
(Hoàng gia Nga đã bị lính Xô Viết hành quyết)
Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi! (Nam Cao)
Cái thứ dế cụ nó bạo nước lắm (Tô Hoài) Kiếm được đồng tiền của thằng Tây nó khó lắm. (Tư liệu trực tiếp) Đun nhiều nó khói. (Tư liệu trực tiếp) Nói vớ vẩn nó quen đi! (Tư liệu trực tiếp) Rẻ nó cũng chả rẻ hơn là mấy. (Tư liệu trực tiếp)
Ở đấy nó bán đắt lắm. (Tư liệu trực tiếp)
Trên Viện, nó tuyển người đấy. (Tư liệu trực tiếp) Ở chợ, nó bán một nghìn bốn lạng, rẻ không? (Tư liệu trực tiếp)
Nó có cái thông điệp ở trong ấy. (Tư liệu trực tiếp)
Nó có cái chìa khoá treo trên tường đấy. (Tư liệu trực tiếp) Đi nhanh rồi về cho nó sớm sủa. (Tư liệu trực tiếp) Vào trong nhà chơi cho nó mát đi. (Tư liệu trực tiếp) Nếu Trần Lương không làm thì chẳng ai làm được. Nó lại khổ thế. (Tư liệu trực tiếp) Muộn nó mát. (Tư liệu trực tiếp) Nó mưa bây giờ đấy, thu áo quần vào đi! (Tư liệu trực tiếp) Nó đang nắng thế này, mưa làm sao được? (Tư liệu trực tiếp) Mai nó lại mưa thì chả đi đâu được. (Tư liệu trực tiếp)
Nó... nó rơi cái bát bây giờ, kìa...(Tư liệu trực tiếp)
Nó gẫy cái thìa đấy, Linh! (Tư liệu trực tiếp) Nó cháy nhà đấy, cháu! Cất cái bao diêm đi, nghịch dại! (Tư liệu trực tiếp) Nó (mà) đổ cái ghế thì mày chết! (Tư liệu trực tiếp) Nó (mà) vỡ cái cốc thì nhừ đòn đấy em ạ. (Tư liệu trực tiếp) Ô, sao nó lại lẫn cả rau cải cúc trong này nhỉ? (Tư liệu trực tiếp)
- Nó là học sinh giỏi nhất lớp.
- Ngoài sân là chỗ mát nhất.
- Nó/ là/ học sinh giỏi nhất lớp → Học sinh giỏi nhất lớp là nó.
(Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) - Ngoài sân là chỗ mát nhất → Chỗ mát nhất là ngoài sân. (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) Những câu có mô hình “Vị từ/ngữ vị từ + là + vị từ” , “Vị từ/ngữ vị từ + là + danh ngữ” gần với câu đẳng thức mà có khả năng hoán chuyển chủ ngữ và bổ ngữ như câu đẳng thức cũng được xử lí tương tự. Tức là nếu thay đổi trật tự của chủ ngữ và bổ ngữ thì cương vị ngữ pháp của chúng cũng thay đổi theo. Ví dụ:
- Tham ô/ là /ăn cắp của công. → Ăn cắp của công/ là/ tham ô. (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) - Học tập/ là/ nhiệm vụ chính. → Nhiệm vụ chính/ là/ học tập. (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ)
5.3.2. Phân loại chủ ngữ a) Phân loại chủ ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa Như đã nói trên đây, đối với một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình như tiếng Việt, tôn ti chức năng ngữ nghĩa mà S.Dik nêu ra khó lòng mà áp dụng được. Hệ quả là tiếng Việt có thể chấp nhận rất nhiều ngữ đoạn với vai nghĩa khác nhau làm chủ ngữ.
Chủ ngữ là tác thể (Agent, viết tắt là Ag). Ví dụ : Nam (Ag) đánh Ba.
Chủ ngữ là nghiệm thể (Expriencer, viết tắt là Exp). Ví dụ : Cô ấy (Exp) mệt. Chủ ngữ là tiếp thể (Recipient, viết tắt là Rec).Ví dụ : Bà (Rec) được biếu cân cam. Chủ ngữ là lợi thể (Benefactive, viết tắt là Ben). Ví dụ : Chị ấy (Ben) được nó chữa xe cho hôm qua. Chủ ngữ là lực tự nhiên (Force, viết tắt là Fo). Ví dụ: Bão (Force) làm đổ cây. Chủ ngữ là bị thể (Patient, viết tắt là Pa). Ví dụ: Cầu (Pa) bị bộ đội phá; Cô ấy (Pa) bị nó doạ ma; Cái cốc (Pa) bị nó đập vỡ. Chủ ngữ là công cụ (Instrument, viết tắt là Instr). Ví dụ: Xe đạp này (Instr) để đi học. Chủ ngữ là vật thực hiện tác động (Effector). Ví dụ : Hòn đá (Effector) làm vỡ kính. Chủ ngữ là địa điểm, vị trí (Location hay Locative, viết tắt là Lo). Ví dụ: Sa Pa lạnh. Chủ ngữ là nguồn của trạng thái (Source, viết tắt là So). Ví dụ: Cô ấy (So) khiến nó chết mê chết mệt. Chủ ngữ là thời điểm (Temporal, viết tắt là Temp). Ví dụ : Tháng giêng (Temp) lạnh. Chủ ngữ là thời lượng (Duration, viết tắt là Dur). Ví dụ: Bốn tháng (Dur) là quá dài đối với nàng. Chủ ngữ là thực thể chuyển động (Theme). Ví dụ: Hòn đá (Theme) lăn xuống đồi. Chủ ngữ là mục đích (Purpose). Ví dụ: Nhu cầu làm đẹp (Purpose) khiến nàng không tiếc tiền cho đồ trang sức. Chủ ngữ là nguyên nhân (Reason). Ví dụ: Sợ hãi (Reason) làm nó líu lưỡi.
- Bà nội vẫn mạnh giỏi chứ ? (Bùi Hiển)
- Nó vẫn không mở mấy con chó ra à ? (Ngô Tất Tố)
- Yêu là chết ở trong lòng một ít (Xuân Diệu).
- Mặc quần Jean đi dạy bị coi là không đứng đắn ở Hàn Quốc. - Dối trá là tính xấu cần phải tránh.
- Trong nhà ra mở cửa ngay!
- Trên tường treo một bức tranh. - Ngoài sân là chỗ mát nhất. - Trước mặt là một chuỗi ngày buồn.
- Cô ấy ra đi khiến tôi buồn.
- Cậu làm thế là đúng. - Nàng còn trẻ và đẹp làm cho tên cướp cảm động (Nguyễn Đổng Chi).
- Cháy nhà!
- Rơi cuốn sách kìa! - Chạy hết cá tao rồi!
Cũng theo Nguyễn Minh Thuyết, muốn chuyển chủ ngữ ra sau vị ngữ, cần có những điều kiện nhất định:
Một là, ở đầu câu cần có một danh từ hay một đại từ, một tổ hợp “thời vị từ (giới từ) + danh từ” hay một trạng từ kiểu bỗng nhiên, quả nhiên... Ví dụ: - Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới (Thạch Lam). Hai là, cần có nhiều thành tố phụ bổ sung cho vị ngữ và chủ ngữ. Thoả mãn điều kiện này, đôi khi có thể chuyển chủ ngữ ra sau vị ngữ mà không phải thêm một từ nào ở phía đầu câu: Đã hết thời, thứ nghệ thuật khéo léo phấn son mà bên trong mục ruỗng nghèo nàn. (Nguyễn Đình Thi). [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 132]
Xem Chương 5 đầy đủ bằng PDF file
Tác giả
1.1. Dẫn nhập
1.2. Giai đoạn từ bản vị 1.3. Giai đoạn chuyển từ từ bản vị sang cú bản vị 1.4. Giai đoạn cú pháp học tiếng Việt chuyển mình theo khuynh hướng ngữ pháp chức năng và ngữ pháp ngữ nghĩa
2.1. Dẫn nhập
2.2.Bình diện kết học
2.2.1. Ngữ pháp truyền thống
2.2.2. Ngữ pháp Tesnière 2.2.3. Ngữ pháp thành tố trực tiếp 2.2.4. Ngữ pháp quan hệ (Relational Grammar, viết tắt là RG) 2.2.5. Ngữ pháp chức năng hệ thống 2.2.6. Ngữ pháp vai và quy chiếu (Role and Reference Grammar, viết tắt là RRG) 2.2.7. Ngữ pháp tạo sinh (Generative Grammar, viết tắt là GG)
2.3. Bình diện nghĩa học của câu
2.3.1. Nghĩa sự tình
2.3.2. Nghĩa tình thái
a) Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái đạo nghĩa (Deontic Modality)
b) Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái căn bản (Root Modality) c) Đối lập giữa tình thái hướng tác thể (Agent-oriented modality) và tình thái hướng người nói (Speaker-oriented modality) d) Đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn e) Những đối lập tình thái mang tính “lập trường”, thuộc chủ quan của người nói
2.3.3. Nghĩa chủ đề
2.4. Bình diện dụng học
2.4.1. Cấu trúc phân đoạn thực tại câu
2.4.2. Nhấn mạnh và tiêu điểm thông báo
a) Nhấn mạnh (Emphasis)
b) Tiêu điểm thông báo
2.4.3. Lực ngôn trung (illocutionary force)
3.1. Dẫn nhập
3.2. Một số khái niệm công cụ
3.2.1. Quan hệ ngữ pháp
a) Quan hệ đẳng lập
b) Quan hệ chính phụ c) Quan hệ chủ-vị
3.2.2. Các thủ pháp nghiên cứu cú pháp thường gặp
a) Cải biến
b) Lược c) Thay thế d) Bổ sung e) Nguyên nhân hoá
4.1. Dẫn nhập
4.2. Cách xác định nòng cốt câu 4.3. Phân loại nòng cốt câu 4.4. Nòng cốt câu và việc phân định thành phần câu
4.4.1. Khái niệm thành phần câu
4.4.2. Phân biệt thành phần câu với những yếu tố thuộc cấu trúc bậc trên câu và những yếu tố thuộc cấu trúc bậc dưới câu
a) Những yếu tố thuộc cấu trúc bậc trên câu
b) Những yếu tố thuộc cấu trúc bậc dưới câu
5.1. Dẫn nhập
5.2. Vị ngữ
5.2.1. Một số thảo luận về vị ngữ
a) Về dấu hiệu nhận diện vị ngữ
b) Về cương vị của vị ngữ trong câu
5.2.2 Phân loại vị ngữ
a) Phân loại vị ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
b) Phân loại vị ngữ theo cấu tạo
5.3. Chủ ngữ
5.3.1. Một số thảo luận về chủ ngữ
a) Về tiêu chí nhận diện chủ ngữ
b) Chủ ngữ trong một số kiểu câu gây tranh luận c) Chủ ngữ “giả” (dummy subject) d) Chủ ngữ trong câu đẳng thức
5.3.2. Phân loại chủ ngữ
a) Phân loại chủ ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
b) Phân loại chủ ngữ theo cấu tạo c) Phân loại chủ ngữ theo vị trí
5.4. Bổ ngữ
5.4.1. Một số thảo luận về bổ ngữ
a) Thảo luận về cương vị của bổ ngữ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
b) Thảo luận về tiêu chí nhận diện bổ ngữ c) Thảo luận về vấn đề bổ ngữ đảo trí
5.4.2. Bổ ngữ câu trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
5.4.3. Phân loại bổ ngữ
a) Phân loại bổ ngữ dựa vào nội dung ngữ nghĩa mà bổ ngữ biểu thị
b) Phân loại bổ ngữ dựa vào các dấu hiệu hình thức
5.4.4. Về bổ ngữ là đại từ hồi chỉ zê rô (Ø) và bổ ngữ “giả”
a) Bổ ngữ là đại từ hồi chỉ zê rô (Ø)
b) Bổ ngữ “giả” (dummy object)
6.1.Dẫn nhập
6.2.Thành phần tình huống của câu
6.2.1. Một số thảo luận về thành phần tình huống của câu
a) Thảo luận về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu
b) Thảo luận về phạm vi ý nghĩa của trạng ngữ c) Thảo luận về vị trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức của câu d) Thảo luận về vấn đề trạng ngữ và vị ngữ phụ có phải là hai thành phần câu khác nhau hay không
6.2.2. Trạng ngữ với tư cách là thành phần phụ biểu thị tình huống trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi trạng ngữ của câu
b) Phân biệt trạng ngữ với một số thành tố khác dễ nhầm lẫn với trạng ngữ trong câu
6.3. Phân loại trạng ngữ
6.3.1.Phân loại trạng ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
6.3.2. Phân loại trạng ngữ theo đặc điểm cấu tạo
a) Trạng ngữ được đánh dấu
b) Trạng ngữ không được đánh dấu
6.4. Những nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng cải biến vị trí của trạng ngữ
a. Độ dài vật chất của trạng ngữ
b. Tính phiếm chỉ của trạng ngữ c. Khả năng hạ cấp cương vị d. Khả năng trở thành vị ngữ của câu và khả năng nảy sinh hàm ý nguyên nhân-điều kiện
7.1. Dẫn nhập
7.2. Định ngữ câu với tư cách là thành phần câu chuyên biểu thị tình thái của câu
7.2.1. Một số thảo luận về định ngữ câu trong tiếng Việt
a) Về tên gọi và phạm vi của đinh ngữ câu
b) Về cương vị của định ngữ câu
7.2.2. Định ngữ câu với tư cách là thành phần phụ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi của định ngữ câu
b) Sự thay đổi vị trí của định ngữ câu c) Phân biệt định ngữ câu với một số thành phần khác dễ nhầm lẫn với nó trong câu
7.3. Phân loại định ngữ câu
7.3.3. Phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa
a) Cơ sở phân loại
b) Phân loại định ngữ câu theo tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa
7.3.4. Phân loại định ngữ câu theo cấu tạo
7.4. Tầm tác động tình thái của định ngữ câu
7.4.1. Tầm tác động giữa các định ngữ câu
7.4.2. Định ngữ câu và câu phủ định
8.1. Dẫn nhập
8.2. Khởi ngữ với tư cách là thành phần câu chuyên dùng để xác lập nghĩa chủ đề của câu
8.2.1. Một số thảo luận về khởi ngữ trong tiếng Việt
a) Thảo luận về chức năng và cương vị của khởi ngữ
b) Thảo luận về vị trí của khởi ngữ trong mô hình cấu trúc của câu c) Thảo luận về cấu tạo hình thức của khởi ngữ.
8.2.2. Khởi ngữ với tư cách là thành phần phụ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi của khởi ngữ
b) Phân biệt khởi ngữ với một số thành phần khác dễ nhầm lẫn với nó trong câu
8.3. Phân loại khởi ngữ
8.3.1. Phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa
a) Khởi ngữ có sở chỉ trùng với chủ ngữ.
b) Khởi ngữ có sở biểu trùng với vị ngữ. c) Khởi ngữ có sở chỉ hoặc sở biểu trùng với bổ ngữ. e) Khởi ngữ có quan hệ ý nghĩa với toàn bộ câu nói chung, theo cái nghĩa là sở chỉ hoặc sở biểu của khởi ngữ có tác dụng hạn định hiệu lực, giá trị chân xác của sự tình được biểu thị trong câu nói.
8.3.2. Phân loại theo đặc điểm cấu tạo
a) Khởi ngữ là thể từ, ngữ thể từ
b) Khởi ngữ là vị từ, ngữ vị từ
8.3.3. Phân loại khởi ngữ theo tầng bậc
9.1. Dẫn nhập
9.2. Lí thuyết hành động ngôn từ và lực ngôn trung của câu
9.2.1. Giới thiệu chung
9.2.2. Phân biệt ngôn hành tường minh và ngôn hành nguyên cấp 9.2.3. Phân loại các hành động ngôn từ 9.2.4. Các điều kiện thành công của các hành động tại lời 9.2.5. Hành động tại lời trực tiếp và hành động tại lời gián tiếp
9.3. Tình thái ngữ với tư cách là thành phần câu chỉ báo cho ngôn trung cơ sở của câu
9.3.1. Một số thảo luận về tình thái ngữ
a) Thảo luận về chức năng của tình thái ngữ
b) Thảo luận về cương vị của tình thái ngữ trong tổ chức cú pháp của câu
9.3.2. Tình thái ngữ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi của tình thái ngữ
b) Về vị trí của tình thái ngữ c) Phân biệt tình thái ngữ với những thành phần khác dễ nhầm lẫn với nó trong câu
9.4. Phân loại tình thái ngữ
9.4.1. Phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa
9.4.2. Phân loại tình thái ngữ theo đặc điểm cấu tạo
a) Loại tình thái ngữ do các tiểu từ tình thái đảm nhiệm
b) Loại tình thái ngữ do các tổ hợp có tính " đặc ngữ " đảm nhiệm
9.5. Tầm tác động tình thái của tình thái ngữ
9.5.1. Tầm tác động giữa các tình thái ngữ
9.5.2. Tầm tác động giữa tình thái ngữ và định ngữ câu
9.6. Phân loại câu theo mục đích phát ngôn
9.6.1. Một số thảo luận về sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn
a) Thảo luận về tiêu chí phân loại
b) Thảo luận về việc phân loại câu trong tiếng Việt
9.6.2. Phân loại câu theo mục đích phát ngôn trong tiếng Việt
10.1. Dẫn nhập
10.2. Câu phức
10.2.1. Một vài thảo luận
10.2.2. Xác định phạm vi của câu phức 10.2.3. Phân loại câu phức
a) Câu phức có chủ ngữ là cụm chủ-vị
b) Câu phức có vị ngữ là cụm chủ-vị c) Câu phức có bổ ngữ là cụm chủ-vị
10.3. Câu ghép
10.3.1. Một vài thảo luận
10.3.2. Xác định phạm vi câu ghép 10.3.3. Phân loại câu ghép
a) Câu ghép đẳng lập
b) Câu ghép qua lại
10.4. Câu đặc biệt
10.4.1. Một vài thảo luận
10.4.2. Xác định phạm vi câu đặc biệt 10.4.3. Phân loại câu đặc biệt
a) Phân loại theo ngữ nghĩa
b) Phân loại theo mức độ điển hình của câu đặc biệt
11.1. Dẫn nhập
11.2. Phân tích câu và phân tích diễn ngôn 11.3. Phân loại những chỉ tố trong câu có tác dụng liên kết văn bản
11.3.1. Loại dấu hiệu đa chức năng
a) Những đại từ hồi chỉ, khứ chỉ
b) Những từ có quan hệ thượng danh - hạ danh (hypernym - hyponym) c) Những vị từ tình thái tính e) Những tiểu từ tình thái cuối câu g) Những quán ngữ tình thái
11.3.2.Loại dấu hiệu đơn chức năng
| ||||||||||||||||||||||||
| Chú thích:
1 “Semantic definition of modality verbs: |
Bài đăng trước:

Kí hiệu quy ước: