Ngôn ngữ học

Giới thiệu sách mới: CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT
     

PGS, TS NGUYỄN VĂN HIỆP

Vietlex trân trọng giới thiệu với độc giả giáo trình CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT của PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệp. Giáo trình này là kết quả những bài giảng về Cú pháp tiếng Việt mà Nguyễn Văn Hiệp đã trình bày cho sinh viên Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội hơn 15 năm nay. Đặc biệt, Giáo trình này cũng giúp ích rất nhiều cho những ai quan tâm tới vấn đề Xử lí tiếng Việt ứng dụng trong công nghệ thông tin.

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo trình này là kết quả những bài giảng về Cú pháp tiếng Việt mà tôi đã trình bày cho sinh viên Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội hơn 15 năm nay.

Trong mấy chục năm gần đây lĩnh vực nghiên cứu cú pháp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều sự kiện sôi động, nhiều trường phái ngữ pháp ra đời và phát triển mạnh, nhiều nghiên cứu mới dựa trên cứ liệu các ngôn ngữ phương Đông xa lạ đã thách thức những xác tín lâu đời và mở ra những hướng tiếp cận mới, cho phép khám phá sâu hơn bản chất của ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.

Các nhà cú pháp học tiếng Việt đã cố gắng theo sát các trào lưu của cú pháp học thế giới và đã có nhiều công trình đáng được ghi nhận. Cho dù đôi khi có những phê phán và tranh cãi gay gắt nhưng mỗi tác giả, mỗi khuynh hướng đều có đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt. Khi trình bày giáo trình này, tôi luôn luôn tìm cách tiếp thu cái mới của lí luận cú pháp học thế giới nhưng không bài xích lí luận cổ điển. Đặc biệt, tôi cho rằng Đông phương học Nga đã có những đóng góp rất quan trọng cho sự phát triển của cú pháp học tiếng Việt.
Trong giáo trình này, khi trích dẫn theo thông lệ quốc tế, trong phần lớn trường hợp, chúng tôi chú ba thông số quan trọng nhất là tên tác giả, năm xuất bản và số trang. Toàn bộ những thông tin có liên quan đến công trình trích dẫn sẽ được trình bày ở mục Tài liệu tham khảo, được xếp thứ tự theo họ của tác giả (bất luận là tác giả nước ngoài hay tác giả Việt Nam). Các mục sẽ được đánh số theo số thứ tự của chương, kèm theo những phân biệt về tiểu mục. Chẳng hạn, nếu gặp mục 6.2.2, bạn đọc sẽ biết là mục này nằm ở Chương 6, là tiểu mục thứ hai (tức sau 6.2.1) trong mục lớn 6.2.

Giáo trình này là sự tiếp tục của dòng chảy cú pháp học ở Khoa Ngôn ngữ, Đại học Tổng hợp Hà Nội cũ, nay là Đại học Khoa học Xã hội&Nhân văn Hà Nội. Tôi cám ơn những thầy cô đi trước đã dạy tôi về ngôn ngữ học và cho tôi cơ hội được tiếp tục công việc gian nan nhưng vô cùng thú vị là nghiên cứu cú pháp tiếng Việt cũng như trình bày nghiên cứu của mình cho nhiều lớp sinh viên của Khoa Ngôn ngữ học. Tôi cám ơn các anh chị em sinh viên đã theo học cú pháp tiếng Việt với tôi, đã trao đổi và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến thú vị đến nỗi nhiều khi tôi tự nhủ mình sẽ không thể nghiên cứu cú pháp được nếu không có môi trường học thuật thú vị như vậy.

Tôi cũng xin chân thành cám ơn NXB Giáo dục và các biên tập viên đã tạo điều kiện để cuốn sách có thể ra mắt bạn đọc trong thời gian sớm nhất.

Với một vấn đề rộng và phức tạp như cú pháp tiếng Việt, dẫu có cố gắng đến mấy thì chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, nhiều điều cần bàn luận thêm, vì thế tôi mong nhận được sự chỉ giáo và góp ý từ quý độc giả theo địa chỉ Email: nvhseoul@yahoo.com. Sự quan tâm của quý độc giả sẽ là niềm vinh hạnh to lớn đối với tôi. Và tôi xin gửi đến quý độc giả lời cám ơn chân thành nhất.

Chương 5: Các thành phần chính của câu (Trích trong cuốn CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT)

5.1. Dẫn nhập

Như đã nói trong chương 4, chúng tôi quan niệm thành phần chính là những thành phần câu tham gia vào nòng cốt của câu. Trong nghiên cứu cú pháp, có một thông lệ bất thành văn là khi miêu tả cấu trúc cú pháp của câu, người ta chỉ trình bày cấu trúc cú pháp của kiểu câu đơn song phần, là kiểu câu có cấu trúc ứng với cấu trúc cú pháp cơ bản được chọn làm công cụ để miêu tả. Các kiểu câu còn lại (câu ghép, câu phức, câu đặc biệt) sẽ được hình dung chẳng qua chỉ là dạng phát triển hay khiếm khuyết của kiểu câu đơn song phần này. Do sự liên hệ sâu xa với ngữ pháp nhà trường, chúng tôi chọn cấu trúc chủ-vị làm cấu trúc cú pháp cơ bản để miêu tả câu tiếng Việt. Tuỳ theo bản chất của vị ngữ mà thành phần chính của câu đơn song phần của tiếng Việt sẽ gồm có chủ ngữ + vị ngữ hoặc chủ ngữ + vị ngữ + bổ ngữ.

5.2. Vị ngữ

5.2.1. Một số thảo luận về vị ngữ

a) Về dấu hiệu nhận diện vị ngữ

Cho đến những năm 50 của thế kỉ 20, với ảnh hưởng của chủ nghĩa “Dĩ Âu vi trung”, trong các sách ngữ pháp tiếng Việt, vị ngữ của câu thường được đồng nhất với động từ. Quan niệm như vậy là quá hẹp, bởi lẽ trong tiếng Việt còn có những câu mà ở đó khó có thể xem vị ngữ là động từ (ví dụ: Anh ấy 30 tuổi; Nó tên là Quýt; Lúa này của chị Hoa) [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 86-87].

Với tư cách là trung tâm ngữ nghĩa của câu, trong các tiếng Châu Âu, vị từ ở hình thái nhân xưng là công cụ để biểu thị những ý nghĩa về thời, thể, tình thái, do đó thể hiện mối quan hệ giữa nội dung câu với hiện thực, với với nhận thức và thái độ của người nói. Tiếng Việt không biến đổi hình thái, nhưng vai trò trung tâm của vị ngữ trong tổ chức ngữ nghĩa của câu cũng được thể hiện qua khả năng kết hợp của từ làm vị ngữ với những từ chỉ thời, thể, tình thái. Dựa trên đặc điểm này, các tác giả cuốn Ngữ pháp lớp 6, tập II dùng thí điểm ở Hà Nội năm học 1963 – 1964 xem khả năng kết hợp với những hư từ chỉ phương thức tồn tại của hành động hay tính chất (như đã, đang, sẽ, cũng vẫn, đều...) là dấu hiệu để nhận biết vị ngữ [Tổ Ngôn ngữ học 1963, 10].

Nhà Việt ngữ học người Nga V. S. Panfilov cũng xem khả năng kết hợp với những hư từ thời, thể và tình thái là dấu hiệu của vị ngữ: “Vị ngữ là đỉnh cao nhất của câu, xét về bình diện ngữ pháp, nó là phạm trù khẳng định/phủ định và thể hiện dấu hiệu theo nghĩa rộng nhất của từ này” [Panfilov V. S., 1993, bản dịch tiếng Việt 2008, 73]. Một cách chặt chẽ hơn, Nguyễn Minh Thuyết chủ trương chỉ dùng các phó từ mang ý nghĩa thời - thể làm tiêu chí nhận diện vị ngữ sau khi đã xác định được nòng cốt câu. Theo đó, vị ngữ là bộ phận của nòng cốt câu có thể chen thêm phó từ chỉ thời, thể hoặc cách thức vào phía trước; và trong trường hợp bộ phận này gồm hơn một từ thì vị ngữ là từ chính của bộ phận ấy. Tiêu chí tỏ ra rất có hiệu quả, ngay cả những vị ngữ không được biểu thị bằng vị từ cũng có thể được đánh dấu bằng các hư từ như vậy. Ví dụ:

- Anh ấy 30 tuổi → Năm nay, anh ấy đã 30 tuổi.

- Nó tên là Quýt → Nó đang tên là Quýt.

- Lúa này của chị Du → Lúa này sẽ của chị Du. [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 88]


Ở đây, cần lưu ý rằng việc sử dụng các hư từ thời, thể làm dấu hiệu nhận biết vị ngữ không liên quan gì đề cuộc tranh cái về sự tồn tại hay không tồn tại của các phạm trù thời và thể trong tiếng Việt. b) Về cương vị của vị ngữ trong câu Ngữ pháp truyền thống chịu ảnh hưởng của lôgic xem chủ ngữ và vị ngữ của câu là hai thành tố ứng với hai thành phần chủ thể (Subject) và vị thể (Predicate) của phán đoán lôgic, vì thế đã xem vị ngữ và chủ ngữ là hai thành phần chính của câu.

Tuy nhiên, bắt đầu từ lí thuyết kết trị của Tesnière, nhiều nhà ngữ pháp đã xem vị ngữ là đỉnh duy nhất của câu, chủ ngữ của truyền thống bị hạ cấp, trở thành ngang cấp với bổ ngữ: chủ ngữ và bổ ngữ truyền thống đều là diễn tố (actant) trong ngữ pháp Tesnière, và cả hai đều bị quy định bởi bản chất từ vựng-ngữ pháp của vị từ làm vị ngữ.

Việt ngữ học chịu ảnh hưởng của ngữ pháp truyền thống rất sâu đậm, vì vậy hầu hết các tác giả trước đây đều xem vị ngữ cùng với chủ ngữ là hai thành phần chính của câu. Tuy nhiên, với Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998), khi dựa trên khái niệm về “tính trọn vẹn” của câu để xác định nòng cốt câu, bổ ngữ cũng được xếp vào số các thành phần chính của câu, cùng với vị ngữ và chủ ngữ tạo thành nòng cốt trong một số kiểu câu mà vị ngữ là vị từ ngoại động. Tuy nhiên, việc thừa nhận chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ là 3 thành phần chính của câu không loại trừ sự thừa nhận vai trò của vị ngữ như là “đỉnh” của câu. Vai trò này được khẳng định trước hết bởi chính vị ngữ chứ không phải là thành tố nào khác quy định có hay không có bổ ngữ trong nòng cốt câu, và nếu có thì số lượng bổ ngữ và tính chất của các bổ ngữ đó như thế nào. So sánh:

+ Vị ngữ là vị từ nội động, không yêu cầu bổ ngữ trong nòng cốt câu. Ví dụ:

- Bé ngủ.
- Cô ấy buồn.

+ Vị ngữ là vị từ ngoại động, yêu cầu có bổ ngữ trong nòng cốt câu. Ví dụ:

- Tôi đọc sách.
- Nhà xa trường.

+ Vị ngữ là vị từ thuộc nhóm “trao tặng”, yêu cầu có hai bổ ngữ trong nòng cốt. Ví dụ:

- Nó biếu bà cân cam.
- Cô ấy gửi thư cho tôi.


+ Vị ngữ là vị từ tình thái tính, yêu cầu có bổ ngữ là một vị từ có đồng chủ thể ngữ pháp với chủ ngữ. Ví dụ:

- Nó dám cãi bố mẹ.
- Thằng bé suýt ngã xuống sông.


Trong nhiêu trường hợp, vị ngữ cũng quy định chủ ngữ: chủ ngữ là giới ngữ chỉ xuất hiện trong vài kiểu câu nhất định với những vị ngữ nhất định (kiểu câu tồn tại và kiểu câu đẳng thức, ví dụ: “Trên tường treo một bức tranh”, “Trong bếp là nơi nóng nhất”).

5.2.2. Phân loại vị ngữ
a) Phân loại vị ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
Theo cách phân loại này, vị ngữ có thể chia làm 2 loại lớn: + Vị ngữ biểu thị thông tin miêu tả Trong trào lưu ngữ pháp chức năng hiện nay, có thể phân loại vị ngữ theo thông tin miêu tả mà vị ngữ tham gia biểu thị. Chẳng hạn, theo Halliday, chúng ta có thể phân loại vị ngữ (mà Halliday gọi là vị tố/predicator) theo 6 kiểu quá trình mà vị ngữ đó đóng vai trò trung tâm, đó là:

- Các quá trình vật chất (material), phản ánh thế giới vật lí. - Các quá trình tinh thần (metal), phản ánh thế giới ý thức. - Các quá trình quan hệ (relational), phản ánh các mối quan hệ trừu tượng. - Các quá trình hành vi (behavioural), chuyển tiếp giữa các sự thể vật chất và các sự thể tinh thần. - Các quá trình ngôn từ (verbal-tức sử dụng ngôn từ, bao gồm nói năng và cảm nghĩ), chuyển tiếp giữa các quá trình tinh thần và các quá trình quan hệ. - Các quá trình tồn tại (existential-gồm sự tồn tại, sự xuất hiện, sự tiêu biến), chuyển tiếp giữa các quá trình vật chất và các quá trình quan hệ (Halliday 1985).

Một cách phân loại khác là của S.Dik (1989). Tác giả áp dụng các tham số ngữ nghĩa về tính [+/- động], [+/- chủ ý], [+/- hữu kết], [+/- nhất thời] để phân biệt các sự tình là hành động, trạng thái, biến cố, quá trình, công năng, v.v. Ở Việt Nam, Cao Xuân Hạo cũng đã nêu ra một cách phân loại rất chi tiết, kết hợp được cách phân loại của Halliday và Dik [Cao Xuân Hạo 1991, 133] Tuy nhiên, cần lưu ý là, tuy không phủ nhận vai trò của vị từ trung tâm trong việc tổ chức sự tình nhưng cách phân loại trên đây thực ra không phải là cách phân loại các vị từ trung tâm mà là sự phân loại cho cả sự tình nói chung, bởi lẽ sự thay đổi ở các vai nghĩa sẽ dẫn đến sự thay đổi sự tình [Dik 1989, 90]. Vì vậy, khi nói về cách phân loại vị ngữ theo kiểu sự tình mà vị ngữ tham gia biểu đạt, chúng ta cần phải lưu ý đến tính chất tương đối của sự phân loại này. Với một sự lưu ý như vậy, ta có thể phân biệt, chẳng hạn:

- Nó đánh tôi → vị ngữ biểu thị hành động. - Nó cao hơn tôi. → vị ngữ biểu thị quan hệ. - Nó mệt. → vị ngữ biểu trạng thái. v.v.

+ Vị ngữ biểu thị thông tin tình thái Đây là trường hợp vị ngữ do các vị từ tình thái tính đảm nhiệm. So với vị từ tình thái (modal verb) thì các vị từ tình thái tính (modality verb) lập thành một danh sách lớn hơn rất nhiều, có thể xem là một tập hợp mở. Givón đã xác lập một định nghĩa rõ ràng về nghĩa học và kết học cho lớp từ này như sau [Givón 1990, 533]:

- Về mặt nghĩa học: a. Là vị từ chính, biểu thị sự bắt đầu, sự kết thúc, sự kéo dài, sự thành công, sự thất bại, sự cố gắng, ý định, nghĩa vụ bắt buộc hoặc khả năng đối với sự tình được miêu tả ở bổ ngữ. b. Chủ thể ngữ pháp của cú chính bắt buộc cũng là chủ thể ngữ pháp của cú phụ.1
- Về mặt kết học: Sơ đồ hình cây sau đây thể hiện vị thế của vị từ tình thái tính trong quan hệ đối đãi với các thành tố khác trong câu:


Kí hiệu quy ước:

S = câu
Subj = chủ thể ngữ pháp
VP = động ngữ
V = vị từ tình thái tính


Đối với các vị từ tình thái tính, dựa vào tham số về tính hiện thực, có thể phân loại chúng ra thành 3 nhóm: những vị từ hàm thực, những vị từ hàm hư, và những vị từ vô hàm [Cao Xuân Hạo 1991, Bùi Trọng Ngoãn 2004]. Tất cả chúng đòi hỏi có bổ ngữ đi sau là một vị từ. Nhóm vị từ hàm thực: Nhóm này giả định hành động, trạng thái, tính chất... mà vị từ bổ ngữ của chúng biểu thị đã tồn tại thực. Thuộc về nhóm này là các vị từ như: chớm, bắt đầu, ngưng, ngừng, bỏ, nghỉ, hết, hả, dứt, chợt, sực, bật, phát, đâm, đâm ra, sinh, sinh ra, cố tình, cố ý, giả, giả bộ, giả cách, giả vờ, dám...

Ví dụ: “Nó bỏ học rồi”.

Việc dùng vị từ tình thái “bỏ” giả định rằng trước đây nó đã đi học. Vì thế, ta không thể nói:

-* Nó bỏ học rồi, nhưng thực tế nó chưa bao giờ đi học cả.


Tương tự, ta không thể nói:

-* Mưa bắt đầu rơi, nhưng bây giờ thì làm gì có mưa.
-* Nó đâm thèm rau, nhưng thực ra nó chẳng thèm gì cả.


Nhóm vị từ hàm hư: Nhóm này giả định hành động, trạng thái, tính chất...mà vị từ bổ ngữ của chúng biểu thị là không tồn tại, không có thật. Thuộc về nhóm này là các vị từ như: toan, suýt, chực, hòng...

Ví dụ: “Nó toan phát biểu”


Việc dùng vị từ tình thái “toan” giả định rằng nó không phát biểu. Vì thế, ta không thể nói:

-* Nó toan phát biểu, thế rồi trước sự ngạc nhiên của mọi người, nó cứ phát biểu oang oang.


Tương tự, ta không thể nói:

-* Thằng bé suýt ngã xuống sông, may nhờ có người nhảy xuống cứu kịp thời, nếu không thì nó chết đuối mất.
- * Nó chực chạy, tôi phải cố sức đuổi theo mới bắt được.


Nhóm vị từ vô hàm: Nhóm này không giả định hành động, trạng thái, tính chất... mà vị từ bổ ngữ của chúng biểu thị là tồn tại hay không tồn tại. Thuộc về nhóm này có các vị từ như: muốn, mong, ước, ngại, lo, dự tính, dự định, quyết, định bụng…

Ví dụ: “Nó mong đi Việt Nam”.


Việc dùng vị từ “mong” không giả định là việc nó đi Việt Nam có xảy ra hay không. Vì thế, ta có thể nói:

- Nó mong đi Việt Nam và rồi hôm qua, nó đi thật.
- Nó mong đi Việt Nam, nhưng mong ước mãi mãi chỉ là mong ước, nó lấy đâu ra tiền mà đi.

b) Phân loại vị ngữ theo cấu tạo Vị ngữ có thể là một từ, ngữ hoặc cụm chủ-vị. + Vị ngữ là một từ, ngữ. Ví dụ :

- Cô ấy xinh.
- Nó đọc sách.
- Mấy anh này người Huế.
- Đồng hồ này ba kim.
- Bàn này bằng gỗ.


Trường hợp vị ngữ là vị từ (động từ, giới từ), dạng phủ định thường gặp nhất là “không”+ động từ/tính từ. Những trường hợp vị ngữ là thể từ, số ngữ hay giới ngữ, dạng phủ định thưởng gặp là “không phải” +thể từ/số ngữ/giới ngữ. So sánh:

- Cô ấy xinh. → Cô ấy không xinh.
- Nó đọc sách. → Nó không đọc sách.
- Mấy anh này người Huế. → Mấy anh này không phải người Huế.
- Đồng hồ này ba kim. → Đồng hồ này không phải ba kim.
- Bàn này bằng gỗ. → Bàn này không phải bằng gỗ.


Trong trường hợp tính từ làm vị ngữ, có thể thêm động từ bổ nghĩa cho nó. Ví dụ:

- Cam này ngon → Cam này trông ngon.
- Cá này ngon → Cá này rán ngon.


Những động từ được thêm vào này không phải là thành tố bắt buộc của câu, chúng chỉ có quan hệ với vị ngữ, chúng tôi xem đây là thành tố thuộc cấu trúc bậc dưới câu. Trong trường hợp chúng được đưa về phía trước, biểu thị chủ đề của câu nói, chúng tôi xem chúng đã được đề bạt (promoted), trở thành khởi ngữ của câu. Sự đề bạt này có thể đi kèm với “thì” với tư cách là từ đánh dấu khởi ngữ. Ví dụ:

- Trông cam này ngon / Trông thì cam này ngon.
- Rán cá này ngon / Rán thì cá này ngon.


Trường hợp đặc biệt, thán từ cũng có thể làm vị ngữ. Ví dụ:

- Gặp ai nó cũng “ô”, ra vẻ ngạc nhiên.
- Nói gì nó cũng “”.


Chúng tôi nhất trí với ý kiến rằng trường hợp này có thể xem là trường hợp thán từ lâm thời chuyển thành vị từ.
+ Vị ngữ là một cụm chủ-vị. Ví dụ:

- Ông ấy bao giờ cũng miệng nói tay làm.


+ Trường hợp cần biện luận
Trong Việt ngữ học, đã có những tranh luận trong việc xác định vị ngữ trong những câu có “là” như :

- Nó là sinh viên.
- Khóc là nhục.
- Anh nói thế là anh dại.


Có ba cách giải thích khác nhau :
Cách giải thích thứ nhất: Cho “là” là động từ, có thể kết hợp với những hư từ chỉ thời, thể, tình thái, vì vậy xem nó là vị ngữ. Tuy nhiên, ý kiến phản bác có thể cho rằng “là” không có nghĩa nghĩa từ vựng, vì thế khó lòng được coi là động từ.
Cách giải thích thứ hai : Cho “là” là hệ từ, dùng để kết nối chủ ngữ với vị ngữ.
Cách giải thích thứ ba: Cho “là” là hệ từ, nhưng chủ trương cả “là” + bộ phận đứng sau mới có tư cách là vị ngữ.

Nhằm hướng đến một giải pháp giản dị trong miêu tả cú pháp, chúng tôi thiên về cách giải thích thứ nhất, tức coi “là” là vị ngữ. Nó là yếu tố không thể lược bỏ và kết hợp được với các hư từ chỉ thời, thể, tình thái. Chúng tôi cho rằng tư cách là động từ hay không phải động từ không thực sự quan yếu đối với việc coi “là” là vị ngữ. Hơn nữa, dựa vào ý nghĩa từ vựng để xét tư cách của động từ là một tiêu chí không thực sự thuyết phục, bởi lẽ : i) các động từ tình thái không có ý nghĩa từ vựng rõ ràng nhưng vẫn được cho là động từ, và ii) vẫn có thể quy ý nghĩa từ vựng cho “là”, đó là ý nghĩa “đồng nhất” trong các câu đẳng thức (ví dụ : “Ông ấy là bố tôi” / “Bố tôi là ông ấy” ; “Nó là sinh viên giỏi nhất lớp” / “Sinh viên giỏi nhất lớp là nó”) hoặc ý nghĩa “nêu thuộc tính” (ví dụ : “Nó là sinh viên ”, “ Seoul là một thành phố đẹp”).
Với quan niệm như vậy thì những trường hợp sau đây ta sẽ có bổ ngữ là kết cấu chủ-vị:

- Điều tệ hại là nó vẫn mê chơi.
[chủ ngữ + vị ngữ + bổ ngữ (kết cấu chủ-vị)]

- Tôi im lặng là tôi đồng ý.
[chủ ngữ (kết cấu chủ-vị) + vị ngữ + bổ ngữ (kết cấu chủ-vị)]


5.3. Chủ ngữ
5.3.1. Một số thảo luận về chủ ngữ
a) Về tiêu chí nhận diện chủ ngữ


Chủ ngữ là một trong những thành phần câu gây tranh cãi nhất, xét về phương diện quan niệm và cách nhận diện. Keenan (1976) đã có một bài báo quan trọng nhằm xây dựng một định nghĩa phổ quát cho chủ ngữ, kèm theo những tiêu chí nhận diện. Mặc dù thử nghiệm của Keenan thất bại, tức không thể có một định nghĩa phổ quát về chủ ngữ, có thể áp dụng cho mọi ngôn ngữ nhưng thất bại ấy đã cho thấy một điều cực kì quan trọng : chỉ có thể xác định chủ ngữ cho từng ngôn ngữ.

Đến lượt mình, vấn đề xác định chủ ngữ cho mỗi ngôn ngữ cũng không hề dễ dàng. Trong tiếng Việt, ngay cả khi đã đồng ý với nhau rằng chủ ngữ là một trong những thành phần chủ chốt của câu, vấn đề nhận diện cũng rất phức tạp. Sau đây là các tiêu chí đã từng được sử dụng để nhận diện chủ ngữ và thảo luận của chúng tôi :

+ Tiêu chí về trật tự : chủ ngữ là thành phần luôn đứng ở đầu câu hoặc đứng trước vị ngữ [Phạm Tất Đắc 1953, 9; Nguyễn Kim Thản 1964, 176; Diệp Quang Ban 1987, 113-114, 137].
Thảo luận : Vị trí đứng đầu câu có thể bị chiếm bởi nhiều thành phần khác nhau : trạng ngữ, khởi ngữ, chủ ngữ. Vấn đề là phải phân biệt được các thành phần này với nhau. Tiêu chí đứng trước vị ngữ cũng gặp khó khăn đối với những câu như : “Cháy nhà”, “Rơi cuốn sách kìa”. Muốn sử dụng tiêu chí này, cần phải điều chỉnh.

+ Tiêu chí về cách đặt câu hỏi : chủ ngữ là thành tố cú pháp có thể trả lời cho các câu hỏi ai ?, cái gì ?, con gì ?
Thảo luận : Tiêu chí này dùng để xác định đề tài (topic) hay tiêu điểm thông báo của câu, những vấn đề vốn thuộc dụng học. May ra có thể sử dụng tiêu chí này trong những ngôn ngữ biến hình điển hình như tiếng Nga, nơi mà các từ để hỏi cũng có hình thái phù hợp với cương vị cú pháp của chúng.

+ Tiều chí xác định chủ ngữ thông qua việc xác định vị ngữ: vị ngữ là bộ phận của câu truyền đạt thông báo chính và bắt đầu (hoặc có thể bắt đầu) bằng các động từ tình thái, phủ định từ hoặc hư từ chỉ phương thức tồn tại của hành động hay tính chất (như đã, đang, sẽ, cũng, vẫn, đều...), còn chủ ngữ là bộ phận của câu chỉ sự vật có dấu hiệu được miêu tả ở vị ngữ [Tổ Ngôn ngữ học, 1963, 10].

Thảo luận : Tiêu chí này khá hiệu quả, tuy nhiên xác định thành phần câu (vấn đề thuộc kết học) cần phải dựa vào tiêu chí hình thức, không nên dựa vào ngữ nghĩa như là “ bộ phận của câu có dấu hiệu được miêu tả ở vị ngữ ”.

+ Tiêu chí sử dụng khuôn kiến trúc nguyên nhân làm phép thử hình thức để xác định chủ ngữ. Nguyễn Minh Thuyết (1981b) đã sử dụng tiêu chí này một cách triệt để nhằm xác định chủ ngữ trong tiếng Việt.

Thảo luận : Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập và xử lí một trong những vấn đề cơ bản nhất của miêu tả cú pháp, đó là phân biệt chủ ngữ với bổ ngữ. Tiêu chí phân biệt là thái độ cú pháp khác nhau của hai thành phần câu này khi nòng cốt được đưa vào khuôn kiến trúc nguyên nhân (thủ pháp nguyên nhân hoá), với vị từ trung tâm là các động từ khiên động như bắt, buộc, khiến, sai, nhờ... hoặc các động từ đánh giá, nhận thức như cho (là), coi (là)... Chỉ có chủ ngữ mới có thể đứng sau vị từ trung tâm của khuôn kiến trúc nguyên nhân khi đưa nòng cốt vào khuôn. Việc áp dụng một cách nhất quán phép thử này đã đem lại những kết quả thú vị. Chẳng hạn, ngữ đoạn chỉ chỉ vị trí, nơi chốn trong các câu như “Trên đồn im như tờ”, “Trong nhà ra mở cửa” cũng có tư cách chủ ngữ, hoặc kiểu câu “Tôi còn tiền” sẽ có hai loại chủ ngữ khác nhau là chủ ngữ chủ đềchủ ngữ ngữ pháp... Ưu điểm của tiêu chí này là triệt để đứng trên bình diện hình thức để xác định chủ ngữ. Tuy nhiên, như Lê Hoàng đã nhận xét, tiếng Việt không có được một trợ động từ khiên động với mức độ ngữ pháp hoá và khả năng sản sinh cao như -(s)ase- của tiếng Nhật, cause của tiếng Anh, faire của tiếng Pháp. Cho nên nếu đặt vấn đề chỉ cần qua được phép thử với một động từ bất kỳ, thì do danh sách động từ không khép kín, nên không thể có kết luận cuối cùng đối với những trường hợp không qua được phép thử với một động từ nào đó. Vì vậy, không thể kết luận đối với những trường hợp không qua phép thử, nếu không kiểm chứng tất cả những khả năng hiện thực hoá một cấu trúc cú pháp với những thành phần từ vựng khác nhau, một điều rất khó thực hiện [Lê Hoàng 2002b]

Kế thừa những tiêu chí nhận diện chủ ngữ trên đây, như đã có dịp đề cập ở chương 4 (mục 4.4.1), chúng tôi chủ trương nhận diện chủ ngữ một cách đơn giản: chủ ngữ là thành tố thuộc nòng cốt câu, nếu sau khi xác định được vị ngữ mà trong nòng cốt chỉ còn lại một thành tố thì thành tố đó mặc nhiên là chủ ngữ. Nếu sau khi xác định được vị ngữ mà trong nòng cốt còn lại hơn một thành tố thì chủ ngữ là thành tố có vị trí trước vị ngữ.

Nhờ dựa vào nòng cốt câu, quan điểm của chúng tôi dễ dàng phân biệt chủ ngữ với những thành tố nằm ngoài nòng cốt câu như trạng ngữ, khởi ngữ trong trường hợp các thành tố ấy đứng đầu câu.

b) Chủ ngữ trong một số kiểu câu gây tranh luận

Cần phải biện luận cho việc xác định chủ ngữ trong kiểu câu “Nhà đang xây” / “Nhà xây rồi” và kiểu câu tồn tại “Trên bàn đật một cuốn sách”

+ Kiểu câu “Nhà đang xây” / “Nhà xây rồi” được Nguyễn Minh Thuyết coi là câu không chủ ngữ với tân ngữ (bổ ngữ) đứng đầu [Nguyễn Minh Thuyết 1981a]. Sở dĩ như vậy là do tác giả đã triệt để dựa vào khuôn kiến trúc nguyên nhân để xác định chủ ngữ: thành tố “Nhà” trong những câu trên đây không có khả năng làm bổ ngữ thể từ tính khi đưa vào khuôn kiến trúc nguyên nhân, vì thế không được thừa nhận là chủ ngữ.

Còn với cách xác định chủ ngữ của chúng tôi, vì “xây” là vị ngữ (bằng chứng rõ nhất là “xây” kết hợp với các hư từ thời, thể “đang”, “rồi”) nên mặc nhiên “Nhà” là chủ ngữ.

+ Kiểu câu “Trên bàn đặt một cuốn sách” có thể được xử lí theo hai cách khác nhau.

Cách thứ nhất: xem đây là câu không có chủ ngữ, tổ hợp “Trên bàn” là trạng ngữ của câu.
Cách thứ hai: xem đây là câu có chủ ngữ đứng sau.

Đối với giải pháp thứ nhất, theo chúng tôi, xem các ngữ đoạn chỉ địa điểm như “trên bàn” trong các câu tồn tại là trạng ngữ (một loại thành phần phụ của câu, và thành phần phụ thì có thể lược bỏ được) là giải pháp không hề thuyết phục. Bởi vì như Diệp Quang Ban (1981) và Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra, ngữ đoạn này không thể bị lược bỏ mà không ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của câu.

Đối với giải pháp thứ hai, nếu xem câu tồn tại là câu có chủ ngữ đứng sau, chúng ta đã thừa nhận đây là kiểu câu có trật tự từ chủ quan, không trung hoà, tức trật tự từ không bình thường. Điều đó trái ngược với cảm thức của chúng ta và thực tế sử dụng ngôn ngữ: câu tồn tại là kiểu câu bình thường, rất phổ biến, đây là kiểu câu thích ứng nhất để giới thiệu một thực thể đầu tiên xuất hiện trong diễn ngôn. Chính câu có trật tự ngược lại mới là câu có trật tự từ không bình thường. So sánh:
 

- Trên bàn đặt một cuốn sách.
- Một cuốn sách đặt ở trên bàn.


Chính tính không xác định của danh ngữ “Một cuốn sách” đã khiến việc đặt nó ở vị trí đầu câu trở nên khó khăn, bởi vị trí này là ưu tiên cho những danh ngữ xác định [xin xem thêm Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Văn Hiệp (2006b) về tính xác định của những danh ngữ làm đề trong câu]

Giải pháp này chỉ áp dụng đối với câu tồn tại đích thực [xin xem Diệp Quang Ban (1981) về loại câu này], không áp dụng đối với kiểu câu chỉ có trật tự từ chủ quan (phục vụ cho mục đích phân đoạn thực tại) với khuôn hình tương tự câu tồn tại, như câu:
 

- “Bỗng từ đằng xa tiến lại hai cậu bé”.


Đối với kiểu câu có trật tự từ chủ quan này, chúng tôi cho rằng chủ ngữ “hai cậu bé” đã được hậu đảo, chuyển về vị trí sau vị ngữ để tạo câu có thông báo “gộp”. Sự khác biệt giữa kiểu câu này với kiểu câu “Trên bàn đặt một cuốn sách” có thể thấy được qua phép thử về quan hệ cú pháp sau đây:

Đối với câu “Trên bàn đặt một cuốn sách” có thể đặt câu hỏi “Trên bàn đặt gì?”, chứng tỏ “cuốn sách” có quan hệ phụ thuộc với “đặt” (“đặt gì?” → “đặt một cuốn sách”)

Đối với câu “Bỗng từ đằng xa tiến lại hai cậu bé”, không thể đặt câu hỏi “Bỗng từ đằng xa tiến lại ai?” mà chỉ có thể đặt câu hỏi “Chuyện gì xảy ra?” hoặc “Bỗng từ đằng xa ai tiến lại?” . Điều đó chứng tỏ “hai cậu bé” có quan hệ chủ-vị đối với “tiến lại”.

Tóm lại, theo giải pháp của chúng tôi, trong các câu tồn tại, ngữ đoạn chỉ địa điểm ở đầu câu chính là chủ ngữ. Giải pháp này thật ra không phải là quá mới lạ. Chính trong giải pháp miêu tả câu tiếng Việt theo Đề-Thuyết, Cao Xuân Hạo cũng cho rằng ngữ đoạn chỉ địa điểm trong câu tồn tại cũng là một loại Đề (phần nào tương đương với chủ ngữ của ngữ pháp truyền thống). Về mặt lí thuyết đại cương, khi xét sự đồ chiếu (mapping) cấu trúc vai nghĩa lên cấu trúc cú pháp, người ta đã bàn đến cái gọi là Tôn ti của chức năng ngữ nghĩa (Semantic Function Hierachy, viết tắt là SFH), theo đó, trong các ngôn ngữ có sự phù ứng giữa chủ ngữ (Subject) và vị từ làm vị ngữ, người ta nhận thấy không phải vai nghĩa nào cũng có thể được biểu đạt bởi ngữ đoạn làm chủ ngữ (Subj) và bổ ngữ (Obj). Có một tôn ti chức năng ngữ nghĩa, tức tồn tại một thứ tự ưu tiên cho những vai nghĩa có thể được gán định các chức năng cú pháp là chủ ngữ hay bổ ngữ của câu. Tôn ti của chức năng ngữ nghĩa này được S. Dik biểu diễn như sau:


  Tác thể Bị thể2 Tiếp thể Lợi thể Công cụ Vị trí Thời gian
Chủ ngữ + + + + + + +
Bổ ngữ   + + + + + +


Có thể giải thích tôn ti này như sau: đi từ trái sang phải (theo hướng kí hiệu >) là đi từ những chức năng ngữ nghĩa “trung tâm” hơn đến những chức năng ngữ nghĩa “ngoại vi” hơn, tức các vai nghĩa được xếp theo tôn ti trên đây sẽ càng lúc càng khó gán định chức năng làm chủ ngữ và bổ ngữ, kết quả là những kết cấu ngữ pháp mà ta nhận được sẽ có mức độ “đánh dấu” (markedness) tăng dần [Dik 1989, 226]. Chẳng hạn, nếu tác thể làm chủ ngữ, ta sẽ có một câu chủ động:

- Soviet soldiers executed the Russian royal family.
(Lính Xô Viết đã hành quyết hoàng gia Nga)


Nhưng nếu bị thể được gán định chức năng chủ ngữ, ta sẽ có một câu bị động, là câu bị đánh dấu, tức có dạng thức phức tạp hơn câu chủ động (không bị đánh dấu):

- The Russian royal family was executed by Soviet soldiers.
(Hoàng gia Nga đã bị lính Xô Viết hành quyết)


Tuy nhiên, trong những ngôn ngữ thiên đề ngữ (topic-prominent) (theo sự phân loại loại hình học của Li và Thompson 1976) thì bất kì vai nào cũng có thể đứng đầu câu, với chức năng làm Đề (tức tương đương với chủ ngữ của cấu trúc chủ-vị) trong cấu trúc đề-thuyết với tư cách cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. Vì thế SFH không có hiệu lực ở những ngôn ngữ thiên đề ngữ như tiếng Việt [về vấn đề này, xin xem thêm Cao Xuân Hạo 1991, 1998]3.

Cách phân tích của chúng tôi trên đây, xem ngữ đoạn chỉ vị trí đứng đầu trong câu tồn tại, sẽ góp phần xoá bỏ một định kiến tồn tại dai dẵng lâu nay là đồng nhất vai địa điểm (Location) với Trạng ngữ của câu4. Đành rằng đối với các ngôn ngữ biến hình ở Châu Âu, những ngữ đoạn chỉ nơi chốn rất khó có thể làm chủ ngữ trong câu, tuy nhiên một câu thúc (constrain) ngữ pháp như vậy không thể áp dụng cho tiếng Việt.

c) Chủ ngữ “giả” (dummy subject)

Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến một loại chủ ngữ có lẽ chỉ đảm nhiệm một chức năng hình thức thuần tuý chứ không biểu thị một sự vật thực nào, ví dụ từ nó trong câu dưới đây:

→ Đừng làm thế rồi to chuyện ra (Nguyễn Thế Phương).
Có thể gặp thứ chủ nghĩa hình thức này ở ngay cả những câu đã có chủ ngữ thực sự rồi:
→ Tôi đang tức anh ách cả người, muốn sang nói chuyện với chú cho khuây (Nguyễn Thế Phương).

Tác giả cho rằng “cần phân biệt hiện tượng trên với hiện tượng lặp kiểu Con tôi nó đi chơi rồi. Khi lặp, từ được lặp và từ lặp cùng chỉ một sự vật, còn chủ ngữ thật sự và chủ ngữ hình thức như ở ví dụ đã nêu thì không” [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 149].

Chủ ngữ giả trong tiếng Việt đã được Nguyễn Thị Hoàng Thuỷ (2006) nghiên cứu một cách khá toàn diện, đặc biệt là về mặt kết học. Tác giả nêu ra ba mô hình những trường hợp câu có chủ ngữ giả như sau:

+ Mô hình 1: Khởi ngữ + nó + vị ngữ
Ví dụ:

Bố con thằng Kiến đâm chết tôi! (Nam Cao)
Cái thứ dế cụ bạo nước lắm (Tô Hoài)
Kiếm được đồng tiền của thằng Tây khó lắm. (Tư liệu trực tiếp)
Đun nhiều khói. (Tư liệu trực tiếp)
Nói vớ vẩn quen đi! (Tư liệu trực tiếp)
Rẻ cũng chả rẻ hơn là mấy. (Tư liệu trực tiếp)


Những câu có công thức Thời vị từ + danh từ + nó + vị ngữ cũng được xếp vào mô hình này. Ví dụ:

Ở đấy bán đắt lắm. (Tư liệu trực tiếp)
Trên Viện, tuyển người đấy. (Tư liệu trực tiếp)
Ở chợ, bán một nghìn bốn lạng, rẻ không? (Tư liệu trực tiếp)


+ Mô hình 2: Nó + vị ngữ

Nếu như trong mô hình “Khởi ngữ + nó + vị ngữ”, giữa khởi ngữ và “nó” đôi khi còn có quan hệ quy chiếu thì trong kết cấu này, đại từ “nó” không hề có bất cứ một chỗ quan hệ nào như vậy cả. Ví dụ:

có cái thông điệp ở trong ấy. (Tư liệu trực tiếp)
có cái chìa khoá treo trên tường đấy. (Tư liệu trực tiếp)
Đi nhanh rồi về cho sớm sủa. (Tư liệu trực tiếp)
Vào trong nhà chơi cho mát đi. (Tư liệu trực tiếp)
Nếu Trần Lương không làm thì chẳng ai làm được. lại khổ thế. (Tư liệu trực tiếp)
Muộn mát. (Tư liệu trực tiếp)
mưa bây giờ đấy, thu áo quần vào đi! (Tư liệu trực tiếp)
đang nắng thế này, mưa làm sao được? (Tư liệu trực tiếp)
Mai lại mưa thì chả đi đâu được. (Tư liệu trực tiếp)


+ Mô hình 3: Nó + Vị ngữ + Chủ ngữ
Ví dụ:

... nó rơi cái bát bây giờ, kìa...(Tư liệu trực tiếp)
gẫy cái thìa đấy, Linh! (Tư liệu trực tiếp)
cháy nhà đấy, cháu! Cất cái bao diêm đi, nghịch dại! (Tư liệu trực tiếp)
(mà) đổ cái ghế thì mày chết! (Tư liệu trực tiếp)
(mà) vỡ cái cốc thì nhừ đòn đấy em ạ. (Tư liệu trực tiếp)
Ô, sao lại lẫn cả rau cải cúc trong này nhỉ? (Tư liệu trực tiếp)


Với hệ thống miêu tả hướng tới sự giản tiện của mình, chúng tôi thừa nhận có chủ ngữ “giả” trong tiếng Việt. Kiểu câu này là kiểu câu tiêu biểu cho phong cách khẩu ngữ.

d) Chủ ngữ trong câu đẳng thức

Trong câu đẳng thức, loại câu xác nhận sự đồng sở chỉ (referent) của hai danh ngữ, chủ ngữ và bổ ngữ có thể đổi chỗ cho nhau không làm thay đổi nghĩa của câu vì chúng chỉ là những tên gọi khác nhau của cùng một đối tương. Ví dụ:

- Nó là học sinh giỏi nhất lớp.


Chủ ngữ trong câu đồng nhất đẳng thức có thể được biểu thị bằng bất kỳ loại thể từ nào, thậm chí là bằng một giới ngữ. Ví dụ:

- Ngoài sân là chỗ mát nhất.


Khi đổi vị trí của chủ ngữ và bổ ngữ của câu đẳng thức, nghĩa miêu tả của câu không đổi (vì nghĩa miêu tả của câu vẫn là sự xác nhận đồng sở chỉ của hai danh ngữ), tuy nhiên, cấu trúc cú pháp của câu đã thay đổi: chủ ngữ trong câu thứ nhất trở thành bổ ngữ trong câu thứ hai, và ngược lại, bổ ngữ trong câu thứ hai trở thành chủ ngữ của câu thứ nhất. So sánh:

- Nó/ là/ học sinh giỏi nhất lớp → Học sinh giỏi nhất lớp là nó.
(Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ)
- Ngoài sân là chỗ mát nhất → Chỗ mát nhất là ngoài sân. (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ)

Những câu có mô hình “Vị từ/ngữ vị từ + là + vị từ” , “Vị từ/ngữ vị từ + là + danh ngữ” gần với câu đẳng thức mà có khả năng hoán chuyển chủ ngữ và bổ ngữ như câu đẳng thức cũng được xử lí tương tự. Tức là nếu thay đổi trật tự của chủ ngữ và bổ ngữ thì cương vị ngữ pháp của chúng cũng thay đổi theo. Ví dụ:

- Tham ô/ là /ăn cắp của công. → Ăn cắp của công/ là/ tham ô. (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) - Học tập/ là/ nhiệm vụ chính. → Nhiệm vụ chính/ là/ học tập. (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ) (Chủ ngữ/vị ngữ/bổ ngữ)

5.3.2. Phân loại chủ ngữ a) Phân loại chủ ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa Như đã nói trên đây, đối với một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình như tiếng Việt, tôn ti chức năng ngữ nghĩa mà S.Dik nêu ra khó lòng mà áp dụng được. Hệ quả là tiếng Việt có thể chấp nhận rất nhiều ngữ đoạn với vai nghĩa khác nhau làm chủ ngữ.

Chủ ngữ là tác thể (Agent, viết tắt là Ag). Ví dụ : Nam (Ag) đánh Ba.
Chủ ngữ là nghiệm thể (Expriencer, viết tắt là Exp). Ví dụ : Cô ấy (Exp) mệt.
Chủ ngữ là tiếp thể (Recipient, viết tắt là Rec).Ví dụ : (Rec) được biếu cân cam.
Chủ ngữ là lợi thể (Benefactive, viết tắt là Ben). Ví dụ : Chị ấy (Ben) được nó chữa xe cho hôm qua.
Chủ ngữ là lực tự nhiên (Force, viết tắt là Fo). Ví dụ: Bão (Force) làm đổ cây.
Chủ ngữ là bị thể (Patient, viết tắt là Pa). Ví dụ: Cầu (Pa) bị bộ đội phá; Cô ấy (Pa) bị nó doạ ma; Cái cốc (Pa) bị nó đập vỡ.
Chủ ngữ là công cụ (Instrument, viết tắt là Instr). Ví dụ: Xe đạp này (Instr) để đi học.
Chủ ngữ là vật thực hiện tác động (Effector). Ví dụ : Hòn đá (Effector) làm vỡ kính.
Chủ ngữ là địa điểm, vị trí (Location hay Locative, viết tắt là Lo). Ví dụ: Sa Pa lạnh.
Chủ ngữ là nguồn của trạng thái (Source, viết tắt là So). Ví dụ: Cô ấy (So) khiến nó chết mê chết mệt.
Chủ ngữ là thời điểm (Temporal, viết tắt là Temp). Ví dụ : Tháng giêng (Temp) lạnh.
Chủ ngữ là thời lượng (Duration, viết tắt là Dur). Ví dụ: Bốn tháng (Dur) là quá dài đối với nàng.
Chủ ngữ là thực thể chuyển động (Theme). Ví dụ: Hòn đá (Theme) lăn xuống đồi.
Chủ ngữ là mục đích (Purpose). Ví dụ: Nhu cầu làm đẹp (Purpose) khiến nàng không tiếc tiền cho đồ trang sức.
Chủ ngữ là nguyên nhân (Reason). Ví dụ: Sợ hãi (Reason) làm nó líu lưỡi.


b) Phân loại chủ ngữ theo cấu tạo

+ Chủ ngữ là từ, ngữ
Chủ ngữ là thể từ, ngữ thể từ. Ví dụ :

- Bà nội vẫn mạnh giỏi chứ ? (Bùi Hiển)
- vẫn không mở mấy con chó ra à ? (Ngô Tất Tố)


Chủ ngữ là vị từ, ngữ vị từ. Ví dụ :

- Yêu là chết ở trong lòng một ít (Xuân Diệu).
- Mặc quần Jean đi dạy bị coi là không đứng đắn ở Hàn Quốc.
- Dối trá là tính xấu cần phải tránh.


Chủ ngữ là giới ngữ. Ví dụ :

- Trong nhà ra mở cửa ngay!
- Trên tường treo một bức tranh.
- Ngoài sân là chỗ mát nhất.
- Trước mặt là một chuỗi ngày buồn.


Chủ ngữ là cụm chủ-vị. Ví dụ:

- Cô ấy ra đi khiến tôi buồn.
- Cậu làm thế là đúng.
- Nàng còn trẻ và đẹp làm cho tên cướp cảm động (Nguyễn Đổng Chi).


c) Phân loại chủ ngữ theo vị trí

Thông thường thì chủ ngữ đứng trước vị ngữ. Nhưng theo cách xác định chủ ngữ mà chúng tôi đề nghị, sau khi xác định vị ngữ mà nòng cốt câu chỉ còn lại một thành tố thì thành tố ấy mặc nhiên được xem là chủ ngữ5, vì thế ta có thể gặp câu với chủ ngữ đứng sau. Ví dụ:

- Cháy nhà!
- Rơi cuốn sách kìa!
- Chạy hết cá tao rồi!


Chúng tôi đồng ý với Nguyễn Minh Thuyết rằng “việc chuyển chủ ngữ từ phía trước ra sau vị ngữ bắt nguồn từ những nguyên nhân lôgíc - ngữ nghĩa. Câu với chủ ngữ đứng trước truyền đạt một thông báo về sự vật, cho biết nó làm gì hoặc như thế nào, còn câu với chủ ngữ đứng sau thông báo về một sự kiện, trả lời câu hỏi Có chuyện gì thế?” [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 131]. Tác giả cho rằng, trong phân đoạn thực tại câu, chủ ngữ đứng trước đóng vai trò phần nêu, còn chủ ngữ đứng sau thì nằm vào phần báo, và thường là điểm quan trọng nhất của bộ phận ấy.

Cũng theo Nguyễn Minh Thuyết, muốn chuyển chủ ngữ ra sau vị ngữ, cần có những điều kiện nhất định:

Một là, ở đầu câu cần có một danh từ hay một đại từ, một tổ hợp “thời vị từ (giới từ) + danh từ” hay một trạng từ kiểu bỗng nhiên, quả nhiên... Ví dụ: - Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới (Thạch Lam).

Hai là, cần có nhiều thành tố phụ bổ sung cho vị ngữ và chủ ngữ. Thoả mãn điều kiện này, đôi khi có thể chuyển chủ ngữ ra sau vị ngữ mà không phải thêm một từ nào ở phía đầu câu: Đã hết thời, thứ nghệ thuật khéo léo phấn son mà bên trong mục ruỗng nghèo nàn. (Nguyễn Đình Thi). [Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp 1998, 132]

Xem Chương 5 đầy đủ bằng PDF file
LỜI KẾT của cuốn CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT
Giáo trình này thực hiện phân tích và miêu tả cú pháp của câu tiếng Việt trên cơ sở ngữ nghĩa. Thực chất là giáo trình đã xuất phát từ những kiểu nghĩa có thể được diễn đạt trong câu mà định dạng các phạm trù hình thức tương ứng. Cụ thể là:

Xuất phát từ khái niệm về tính trọn vẹn của câu mà xác định nòng cốt câu, từ đó xác định các thành phần chính của câu là chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ.

Xuất phát từ khái niệm về thông tin tình huống của câu mà xác định trạng ngữ với tư cách là thành phần phụ biểu thị những thông tin về tình huống của câu.

Xuất phát từ khái niệm về tình thái của câu, với tư cách là một phạm trù thuộc tình thái của lời phát ngôn, nằm trong đối lập tình thái mục đích phát ngôn/tình thái lời phát ngôn mà xác định định ngữ câu với tư cách là thành phần phụ biểu thị tình thái của câu.

Xuất phát từ khái niệm về cấu trúc thông điệp của câu mà xác định khởi ngữ với tư cách là thành phần phụ xác lập điểm xuất phát cho cấu trúc thông điệp của câu.

Xuất phát từ khái niệm về ngôn trung điển hình của câu mà xác định tình thái ngữ với tư cách là thành phần phụ có tác dụng đánh dấu cho ngôn trung điển hình hay ngôn trung cơ sở của câu.

Trong thực tế, câu không tồn tại một cách biệt lập mà bao giờ cũng tồn tại trong diễn ngôn nhất định, vì vậy các yếu tố liên kết câu với những câu khác trong diễn ngôn, các yếu tố đánh dấu sự tương thích của câu với ngữ cảnh giao tiếp cũng được phân loại và miêu tả.

Các kiểu câu phức, câu ghép, câu đặc biệt được nhận diện và miêu tả một cách nhất quán trong đối chiếu với cấu trúc chủ-vị với tư cách là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu.

Các kiểu nghĩa được diễn đạt trong câu đều mang tính siêu chức năng, theo cái nghĩa chúng đều phục vụ cho chức năng làm công cụ giao tiếp liên nhân của câu. Vì vậy đường hướng của giáo trình cũng là đường hướng triệt để đi từ chức năng đến hình thức (a radical function-to-form), được Jan Nuyts diễn đạt một cách súc tích như sau: “lấy phạm trù ngữ nghĩa làm điểm xuất phát mà tìm xem những biểu hiện ngôn ngữ học của nó” (taking the semantic category as its starting point, it looks into the range of its linguistic manifestation) [Nuyts 2001]

Về mặt lí luận đại cương, chính Saussure đã có những chỉ dẫn khơi mở cho đường hướng đi từ nội dung đến hình thức như vậy. Rất tiếc là trong một thời gian dài sự phát triển quá rầm rộ của cấu trúc luận (Structuralism) đã che mờ những chỉ dẫn này. Bây giờ là lúc ta hãy đọc lại Saussure:

“Vai trò đặc biệt của ngôn ngữ đối với tư duy [...] là làm trung gian giữa tư duy và ngữ âm trong những điều kiện như thế nào mà sự kết hợp của hai cái đó tất nhiên dẫn đến chỗ cái này phân định đơn vị cho cái kia” [Bản dịch của Cao Xuân Hạo 1973, 196]

“Cũng có thể gọi ngôn ngữ là lĩnh vực của những sự phân đoạn, [...] trong đó một ý niệm được gắn chặt vào một âm thanh và một âm thanh trở thành tín hiệu của một ý niệm” [Bản dịch của Cao Xuân Hạo 1973, 197]

Tác giả


MỤC LỤC của cuốn CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT
Lời nói đầu
Chương 1: Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt

1.1. Dẫn nhập
1.2. Giai đoạn từ bản vị
1.3. Giai đoạn chuyển từ từ bản vị sang cú bản vị
1.4. Giai đoạn cú pháp học tiếng Việt chuyển mình theo khuynh hướng ngữ pháp chức năng và ngữ pháp ngữ nghĩa


Chương 2: Các bình diện nghiên cứu của câu

2.1. Dẫn nhập
2.2.Bình diện kết học
2.2.1. Ngữ pháp truyền thống
2.2.2. Ngữ pháp Tesnière
2.2.3. Ngữ pháp thành tố trực tiếp
2.2.4. Ngữ pháp quan hệ (Relational Grammar, viết tắt là RG)
2.2.5. Ngữ pháp chức năng hệ thống
2.2.6. Ngữ pháp vai và quy chiếu (Role and Reference Grammar, viết tắt là RRG)
2.2.7. Ngữ pháp tạo sinh (Generative Grammar, viết tắt là GG)
2.3. Bình diện nghĩa học của câu
2.3.1. Nghĩa sự tình
2.3.2. Nghĩa tình thái
a) Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái đạo nghĩa (Deontic Modality)
b) Đối lập giữa tình thái nhận thức (Epistemic Modality) và tình thái căn bản (Root Modality)
c) Đối lập giữa tình thái hướng tác thể (Agent-oriented modality) và tình thái hướng người nói (Speaker-oriented modality)
d) Đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn
e) Những đối lập tình thái mang tính “lập trường”, thuộc chủ quan của người nói
2.3.3. Nghĩa chủ đề
2.4. Bình diện dụng học
2.4.1. Cấu trúc phân đoạn thực tại câu
2.4.2. Nhấn mạnh và tiêu điểm thông báo
a) Nhấn mạnh (Emphasis)
b) Tiêu điểm thông báo
2.4.3. Lực ngôn trung (illocutionary force)


Chương 3: Một số khái niệm công cụ

3.1. Dẫn nhập
3.2. Một số khái niệm công cụ
3.2.1. Quan hệ ngữ pháp
a) Quan hệ đẳng lập
b) Quan hệ chính phụ
c) Quan hệ chủ-vị
3.2.2. Các thủ pháp nghiên cứu cú pháp thường gặp
a) Cải biến
b) Lược
c) Thay thế
d) Bổ sung
e) Nguyên nhân hoá


Chương 4: Nòng cốt câu

4.1. Dẫn nhập
4.2. Cách xác định nòng cốt câu
4.3. Phân loại nòng cốt câu
4.4. Nòng cốt câu và việc phân định thành phần câu
4.4.1. Khái niệm thành phần câu
4.4.2. Phân biệt thành phần câu với những yếu tố thuộc cấu trúc bậc trên câu và những yếu tố thuộc cấu trúc bậc dưới câu
a) Những yếu tố thuộc cấu trúc bậc trên câu
b) Những yếu tố thuộc cấu trúc bậc dưới câu


Chương 5: Các thành phần chính của câu

5.1. Dẫn nhập
5.2. Vị ngữ
5.2.1. Một số thảo luận về vị ngữ
a) Về dấu hiệu nhận diện vị ngữ
b) Về cương vị của vị ngữ trong câu
5.2.2 Phân loại vị ngữ
a) Phân loại vị ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
b) Phân loại vị ngữ theo cấu tạo
5.3. Chủ ngữ
5.3.1. Một số thảo luận về chủ ngữ
a) Về tiêu chí nhận diện chủ ngữ
b) Chủ ngữ trong một số kiểu câu gây tranh luận
c) Chủ ngữ “giả” (dummy subject)
d) Chủ ngữ trong câu đẳng thức
5.3.2. Phân loại chủ ngữ
a) Phân loại chủ ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
b) Phân loại chủ ngữ theo cấu tạo
c) Phân loại chủ ngữ theo vị trí
5.4. Bổ ngữ
5.4.1. Một số thảo luận về bổ ngữ
a) Thảo luận về cương vị của bổ ngữ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
b) Thảo luận về tiêu chí nhận diện bổ ngữ
c) Thảo luận về vấn đề bổ ngữ đảo trí
5.4.2. Bổ ngữ câu trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
5.4.3. Phân loại bổ ngữ
a) Phân loại bổ ngữ dựa vào nội dung ngữ nghĩa mà bổ ngữ biểu thị
b) Phân loại bổ ngữ dựa vào các dấu hiệu hình thức
5.4.4. Về bổ ngữ là đại từ hồi chỉ zê rô (Ø) và bổ ngữ “giả”
a) Bổ ngữ là đại từ hồi chỉ zê rô (Ø)
b) Bổ ngữ “giả” (dummy object)


Chương 6: Trạng ngữ với tư cách là thành phần tình huống của câu

6.1.Dẫn nhập
6.2.Thành phần tình huống của câu
6.2.1. Một số thảo luận về thành phần tình huống của câu
a) Thảo luận về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu
b) Thảo luận về phạm vi ý nghĩa của trạng ngữ
c) Thảo luận về vị trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức của câu
d) Thảo luận về vấn đề trạng ngữ và vị ngữ phụ có phải là hai thành phần câu khác nhau hay không
6.2.2. Trạng ngữ với tư cách là thành phần phụ biểu thị tình huống trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi trạng ngữ của câu
b) Phân biệt trạng ngữ với một số thành tố khác dễ nhầm lẫn với trạng ngữ trong câu
6.3. Phân loại trạng ngữ
6.3.1.Phân loại trạng ngữ theo tiêu chí ngữ nghĩa
6.3.2. Phân loại trạng ngữ theo đặc điểm cấu tạo
a) Trạng ngữ được đánh dấu
b) Trạng ngữ không được đánh dấu
6.4. Những nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng cải biến vị trí của trạng ngữ
a. Độ dài vật chất của trạng ngữ
b. Tính phiếm chỉ của trạng ngữ
c. Khả năng hạ cấp cương vị
d. Khả năng trở thành vị ngữ của câu và khả năng nảy sinh hàm ý nguyên nhân-điều kiện


Chương 7: Định ngữ câu với tư cách là thành phần biểu thị tình thái câu

7.1. Dẫn nhập
7.2. Định ngữ câu với tư cách là thành phần câu chuyên biểu thị tình thái của câu
7.2.1. Một số thảo luận về định ngữ câu trong tiếng Việt
a) Về tên gọi và phạm vi của đinh ngữ câu
b) Về cương vị của định ngữ câu
7.2.2. Định ngữ câu với tư cách là thành phần phụ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi của định ngữ câu
b) Sự thay đổi vị trí của định ngữ câu
c) Phân biệt định ngữ câu với một số thành phần khác dễ nhầm lẫn với nó trong câu
7.3. Phân loại định ngữ câu
7.3.3. Phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa
a) Cơ sở phân loại
b) Phân loại định ngữ câu theo tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa
7.3.4. Phân loại định ngữ câu theo cấu tạo
7.4. Tầm tác động tình thái của định ngữ câu
7.4.1. Tầm tác động giữa các định ngữ câu
7.4.2. Định ngữ câu và câu phủ định


Chương 8: Khởi ngữ với tư cách là thành phần xác lập cấu trúc thông điệp của câu

8.1. Dẫn nhập
8.2. Khởi ngữ với tư cách là thành phần câu chuyên dùng để xác lập nghĩa chủ đề của câu
8.2.1. Một số thảo luận về khởi ngữ trong tiếng Việt
a) Thảo luận về chức năng và cương vị của khởi ngữ
b) Thảo luận về vị trí của khởi ngữ trong mô hình cấu trúc của câu
c) Thảo luận về cấu tạo hình thức của khởi ngữ.
8.2.2. Khởi ngữ với tư cách là thành phần phụ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi của khởi ngữ
b) Phân biệt khởi ngữ với một số thành phần khác dễ nhầm lẫn với nó trong câu
8.3. Phân loại khởi ngữ
8.3.1. Phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa
a) Khởi ngữ có sở chỉ trùng với chủ ngữ.
b) Khởi ngữ có sở biểu trùng với vị ngữ.
c) Khởi ngữ có sở chỉ hoặc sở biểu trùng với bổ ngữ.
e) Khởi ngữ có quan hệ ý nghĩa với toàn bộ câu nói chung, theo cái nghĩa là sở chỉ hoặc sở biểu của khởi ngữ có tác dụng hạn định hiệu lực, giá trị chân xác của sự tình được biểu thị trong câu nói.
8.3.2. Phân loại theo đặc điểm cấu tạo
a) Khởi ngữ là thể từ, ngữ thể từ
b) Khởi ngữ là vị từ, ngữ vị từ
8.3.3. Phân loại khởi ngữ theo tầng bậc


Chương 9: Tình thái ngữ và ngôn trung của câu

9.1. Dẫn nhập
9.2. Lí thuyết hành động ngôn từ và lực ngôn trung của câu
9.2.1. Giới thiệu chung
9.2.2. Phân biệt ngôn hành tường minh và ngôn hành nguyên cấp
9.2.3. Phân loại các hành động ngôn từ
9.2.4. Các điều kiện thành công của các hành động tại lời
9.2.5. Hành động tại lời trực tiếp và hành động tại lời gián tiếp
9.3. Tình thái ngữ với tư cách là thành phần câu chỉ báo cho ngôn trung cơ sở của câu
9.3.1. Một số thảo luận về tình thái ngữ
a) Thảo luận về chức năng của tình thái ngữ
b) Thảo luận về cương vị của tình thái ngữ trong tổ chức cú pháp của câu
9.3.2. Tình thái ngữ trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt
a) Xác định phạm vi của tình thái ngữ
b) Về vị trí của tình thái ngữ
c) Phân biệt tình thái ngữ với những thành phần khác dễ nhầm lẫn với nó trong câu
9.4. Phân loại tình thái ngữ
9.4.1. Phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa
9.4.2. Phân loại tình thái ngữ theo đặc điểm cấu tạo
a) Loại tình thái ngữ do các tiểu từ tình thái đảm nhiệm
b) Loại tình thái ngữ do các tổ hợp có tính " đặc ngữ " đảm nhiệm
9.5. Tầm tác động tình thái của tình thái ngữ
9.5.1. Tầm tác động giữa các tình thái ngữ
9.5.2. Tầm tác động giữa tình thái ngữ và định ngữ câu
9.6. Phân loại câu theo mục đích phát ngôn
9.6.1. Một số thảo luận về sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn
a) Thảo luận về tiêu chí phân loại
b) Thảo luận về việc phân loại câu trong tiếng Việt
9.6.2. Phân loại câu theo mục đích phát ngôn trong tiếng Việt


Chương 10: Câu phức, câu ghép và câu đặc biệt

10.1. Dẫn nhập
10.2. Câu phức
10.2.1. Một vài thảo luận
10.2.2. Xác định phạm vi của câu phức
10.2.3. Phân loại câu phức
a) Câu phức có chủ ngữ là cụm chủ-vị
b) Câu phức có vị ngữ là cụm chủ-vị
c) Câu phức có bổ ngữ là cụm chủ-vị
10.3. Câu ghép
10.3.1. Một vài thảo luận
10.3.2. Xác định phạm vi câu ghép
10.3.3. Phân loại câu ghép
a) Câu ghép đẳng lập
b) Câu ghép qua lại
10.4. Câu đặc biệt
10.4.1. Một vài thảo luận
10.4.2. Xác định phạm vi câu đặc biệt
10.4.3. Phân loại câu đặc biệt
a) Phân loại theo ngữ nghĩa
b) Phân loại theo mức độ điển hình của câu đặc biệt


Chương 11: Các chỉ tố liên kết văn bản

11.1. Dẫn nhập
11.2. Phân tích câu và phân tích diễn ngôn
11.3. Phân loại những chỉ tố trong câu có tác dụng liên kết văn bản
11.3.1. Loại dấu hiệu đa chức năng
a) Những đại từ hồi chỉ, khứ chỉ
b) Những từ có quan hệ thượng danh - hạ danh (hypernym - hyponym)
c) Những vị từ tình thái tính
e) Những tiểu từ tình thái cuối câu
g) Những quán ngữ tình thái
11.3.2.Loại dấu hiệu đơn chức năng


Lời kết
Tài liệu tham khảo
Nguồn tư liệu trích dẫn

Chú thích:

1 “Semantic definition of modality verbs:
a. The main verb codes inception, termination, persistence, success, failure, attempt, intent, obligation or ability-vis-a-vis the complement state/event. b. The subject of the main clause is obligatorily also subject of the complement clause.” [Givón 1990, 533]

2 Trong hệ thống trình bày của Dik, tác giả dùng vai Goal (Go) tương đương với bị thể (Patient) của phần lớn các tác giả khác, vì thế ở đây chúng tôi tạm dùng thuật ngữ ‘bị thể’ để dễ theo dõi.

3 Theo chúng tôi, ngay cả khi tồn tại tôn ti chức năng ngữ nghĩa này thì cũng không có gì cản trở một ngữ đoạn chỉ địa điểm đóng vai chủ ngữ trong câu.

4 Diệp Quang Ban (1980) và Trần Ngọc Thêm (1985) đã thấy vai trò đặc biệt của ngữ đoạn vị trí trong kiểu câu tồn tại, khi cho rằng chúng là thành tố không thể lược bỏ được, tham gia vào nòng cốt của câu. Tuy nhiên hai tác giả này vẫn do dự khi gọi nó bằng tên gọi cũ là Trạng ngữ.

5 Cách xác định chủ ngữ như vậy đã được Jakhontov áp dụng đối với tiếng Hán [Jakhontov 1971]

 

 

Bài đăng trước:

  • Thông tin ngữ dụng trong từ điển giải thích tiếng Việt
  • Tin học và Ngôn ngữ học
  • Tiếng Việt "Giàu" nhưng có còn "Đẹp" trên mạng thông tin toàn cầu
  • Phương pháp tiếp cận Logic và Hình thức trong nghiên cứu từ vựng
  • Từ điển song ngữ, đa ngữ: nhìn từ góc độ giáo học pháp ngoại ngữ