Ngôn ngữ học

Phương pháp tiếp cận Logic và Hình thức trong nghiên cứu từ vựng
     

GS TS NGUYỄN THIỆN GIÁP

Trong lĩnh vực từ vựng, người ta có thói quen cẩn trọng, đưa ra những miêu tả tương đối và không dứt khoát, thường xuyên đặt những miêu tả ấy trong bối cảnh và dành vai trò quyết định cho bối cảnh và trực giác của người nói. Cách xử lí này là hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên, gần đây, nhiều nhà ngôn ngữ học đã lựa chọn cách tiếp cận khác: đưa phương pháp tiếp cận logic và hình thức vào nghiên cứu từ vựng, đề xuất các phương pháp miêu tả từ vựng chặt chẽ, hình thức và toàn diện.

Để góp phần cho sự phát triển của từ vựng học Việt Nam, cần làm tốt công tác thông tin khoa học. Bài báo nhỏ này của chúng tôi muốn giới thiệu phương pháp tiếp cận logic và hình thức trong nghiên cứu từ vựng của Igor Mel'cuk, André Clas và Alain Polguère thể hiện trong NHẬP MÔN TỪ VỰNG HỌC GIẢI THÍCH VÀ KẾT HỢP (Introduction à la lexicologie explicative et combinatoire, Editions Duculot, 1995). Cuốn NHẬP MÔN TỪ VỰNG HỌC GIẢI THÍCH VÀ KẾT HỢP của nhóm tác giả I. Mel'cuk, A. Clas, A. Polguère viết bằng tiếng Pháp, hướng đến các độc giả là những người quan tâm đến từ vựng học và từ điển học. Nó trả lời cho một loạt những câu hỏi về từ vựng học và từ điển học, đồng thời cũng xem xét một số vấn đề được đặt ra trong ngôn ngữ học đại cương. Năm 2008, được sự tài trợ của Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội, Thạc sĩ Phạm Thanh Huyền và tôi đã chuyển dịch sang tiếng Việt, phục vụ giới nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam.

Cần lưu ý là không có sự kiện ngôn ngữ nào được thiết lập mà không có cơ sở lí thuyết và chỉ có lí thuyết mới cho phép diễn giải sự kiện được nhận biết và nhờ vậy giúp chúng ta hiểu biết sâu hơn. Các tác giả công trình này đã xây dựng phương pháp tiếp cận của mình dựa trên Lí thuyết ngữ nghĩa - văn bản. Lí thuyết này được xem như kim chỉ nam giúp các tác giả hướng đến một mô hình từ điển lí thuyết. Có thể nói, Nhập môn từ vựng học giải thích và kết hợp là một cuốn sách trình bày những khái niệm cơ bản của từ vựng học/ từ điển học. Như chúng ta biết, Igor Mel'cuk và những người khác đã biên soạn và xuất bản Từ điển giải thích và kết hợp tiếng Pháp hiện đại:

- 1984: I. Mel'cuk (avec N. Arbatchewsky-Jumarie, L. Elnisky, L.Iordanskaja et A. Lessard), Dictionnaire explicatif et combinatoire du francais contemporain, Rechercher lexico-sémantiques I, Montréal; Les Presses de L'Université de Motréal, 172p

- 1988: I. Mel'cuk (avec N. Arbatchewsky-Jumarie, L. Dagenais, L. Elnisky, L.Iordanskaja, M-N. Lefebvre et S. Mantha), Dictionnaire explicatif et combinatoire du francais contemporain, Rechercher lexico-sémantiques II, Montréal; Les Presses de L'Université de Motréal, 332p

- 1992: I. Mel'cuk (avec N. Arbatchewsky-Jumarie, L.Iordanskaja et S. Mantha), Dictionnaire explicatif et combinatoire du francais contemporain, Rechercher lexico-sémantiques III, Montréal; Les Presses de L'Université de Motréal, 323 p.

Nhập môn từ vựng học giải thích và kết hợp thực chất là sự lí thuyết hoá từ điển giải thích và kết hợp. Các tác giả đã mở rộng và hệ thống hóa kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực từ vựng học/từ điển học, đồng thời đặt ra những mục tiêu lí tưởng cần phải đạt được. Nghiên cứu từ vựng học chỉ có thể dẫn đến đích là một cuốn từ điển vì từ điển học là một ứng dụng của từ vựng học.

Các tác giả cuốn Nhập môn từ vựng học giải thích và kết hợp đã kế thừa và phát triển những tư tưởng khoa học của những người đi trước từ 4 nguồn sau đây:

- Các công trình nghiên cứu chính trong lĩnh vực từ vựng học và từ điển học của Pháp, đặc biệt là Từ điển Petit Robert và các tác phẩm đã trở thành kinh điển của Wagner, Quemada, Duboi & Dubois, Rey, Pottier,...

- Các công trình và giáo trình đại cương về từ vựng học/từ điển học, như Hallig & von Wartburg, Zgusta, Hartmann, Landau, Tournier, Lipka, Béjoint,...

- Những tác phẩm quan trọng về ngữ nghĩa của A. Zhokovsky, A. Boguslawski và đặc biệt của A. Wierzbicka.

- Những nghiên cứu cơ bản về nghĩa của từ và từ vựng học của J. Apresjan, người đặt nền móng cho trường phái từ điển học hình thức.

Nhập môn từ điển học giải thích và kết hợp gồm 6 chương.

Chương 1 trình bày những đặc trưng của chuyên ngành từ vựng học. Ngôn ngữ học hiện nay đặc biệt chú trọng cú pháp và cho rằng từ vựng chỉ có vai trò phụ gia không quan trọng. Ngược lại, các tác giả của công trình này đặt từ vựng học vào vị trí trung tâm của ngôn ngữ học lí thuyết. Theo Lí thuyết ngữ nghĩa - văn bản, phải xuất phát từ nghĩa biểu hiện để xây dựng các cây cú pháp với sự hỗ trợ của từ vựng. Lí thuyết ngữ nghĩa - văn bản xem ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống các môđun độc lập, mỗi môđun là một tập hợp các quy tắc có nhiệm vụ thiết lập sự tương đương giữa những biểu hiện ngôn ngữ của hai cấp độ kế tiếp nhau trong hệ thống 4 cấp độ biểu hiện ngôn ngữ chính đã được thừa nhận:

Cấp độ nghĩa - Cấp độ cú pháp - Cấp độ hình thái - Cấp độ âm vị

Ngữ nghĩa học chịu trách nhiệm về mô đun nghĩa, cú pháp học về môđun cú pháp, hình thái học và âm vị học về mô đun hình thái và âm vị. Đây là những chuyên ngành ngôn ngữ học liên quan đến sự chuyển đổi, tức là sự tương đương đã nêu ở trên. Còn từ vựng học không có môđun ngôn ngữ tương ứng và không liên quan đến một sự chuyển đổi cụ thể giữa hai cấp độ biểu hiện nào. Từ vựng học chịu trách nhiệm về đơn vị trung tâm của tất cả các cấp độ, đó là đơn vị từ vựng. Các tác giả quan niệm đơn vị từ vựng là đơn vị cơ sở của từ vựng học, mà thực tế là đối tượng trung tâm, thậm chí nếu đơn giản hóa có thể nói đó là đối tượng duy nhất và độc nhất của từ vựng học. Các tác giả hiểu đơn vị từ vựng là từ theo một nghĩa cụ thể nào đó (═ từ vị, lexème), hoặc là quán ngữ (lotion) cũng theo một nghĩa đặc biệt (đơn vị thành ngữ, phrasème). Chuyên ngành từ vựng học phân tích và miêu tả sự hoạt động của các đơn vị từ vựng thông qua tất cả những “sự biến đổi” của chúng từ cấp độ này sang cấp độ khác. Nó mang đến cho mỗi đơn vị từ vựng các thông tin cần thiết để đơn vị này có thể được xử lí theo đúng cách bởi ngữ nghĩa học, cú pháp học, hình thái học và âm vị học. Tập hợp các đơn vị từ vựng được miêu tả như vậy tất nhiên phải làm thành từ điển. Các tác giả cho rằng từ điển rõ ràng là đối tượng nghiên cứu, công cụ nghiên cứu và là sản phẩm cuối cùng của từ vựng học. Tuy nhiên, từ điển của nhà từ vựng học là một từ điển lí tưởng, không hề tính đến những vấn đề thực dụng và thương mại. Từ điển giải thích và kết hợp tiếng Pháp hiện đại là một loại từ điển như thế.

Người ta thường ví quan hệ “từ vựng học - từ điển học” như quan hệ giữa vật lí lí thuyết với vật lí thực hành. Tuy nhiên, từ điển học cũng có lí thuyết của nó. Đó là lí thuyết sản xuất từ điển thực hành. Từ điển học còn phải quan tâm đến các vấn đề in ấn, thương mại và sư phạm có liên quan đến việc xuất bản từ điển - những khía cạnh mà từ vựng lí thuyết không chú ý đến. Đồng thời, từ điển học còn có mặt thực hành: việc sản xuất thực sự các loại từ điển cho các loại đối tượng độc giả khác nhau.

Các tác giả quan niệm Từ điển giải thích và kết hợp trước hết là một công trình ngôn ngữ, và đặc biệt hơn là một nhiệm vụ của nhà nghiên cứu ngôn ngữ lí thuyết. Việc soạn thảo từ điển giải thích và kết hợp đòi hỏi phải thực hiện nghiên cứu ngôn ngữ ở trình độ cao. Nhà từ vựng học phải không được để ý đến vấn đề thời gian và chi phí. Anh ta có nghĩa vụ hàng đầu là cung cấp một sự miêu tả có giá trị và đầy đủ về tập hợp đơn vị từ vựng của ngôn ngữ bằng bất kì giá nào. Những ràng buộc về vấn đề in ấn, sư phạm và tài chính - những yếu tố thuộc phạm vi công việc quen thuộc của các nhà từ điển học (thực hành) phải được gác sang một bên trong quá trình soạn thảo từ điển giải thích và kết hợp.

Soạn thảo một cuốn từ điển giải thích và kết hợp là công việc mất nhiều thời gian, rất khó và hiếm khi hoàn thiện. Những nguyên nhân ngôn ngữ khiến cho việc soạn thảo từ điển trở thành một công việc hết sức khó khăn là:

- Đơn vị cơ sở trong một cuốn từ điển là nghĩa của một từ hay một cụm từ cố định, do đó, số lượng các đơn vị phải xử lí là rất lớn; - Số lượng các thông tin cần đưa vào từ điển là vô cùng lớn; - Các thông tin từ điển không chỉ rất nhiều mà còn rất phức tạp. Nhà từ vựng phải có năng lực trong mọi lĩnh vực như ngữ nghĩa học, cú pháp học, hình thái học, âm vị học, nhưng trên hết phải có khả năng thiết lập những mối quan hệ cần thiết giữa các chuyên ngành đó; - Những thông tin phải nêu trong từ điển không ổn định. Việc sử dụng từ vựng có thể thay đổi tùy theo xã hội, địa phương và thời gian.

Về tâm lí, việc soạn từ điển cũng gặp những khó khăn nan giải: phải làm sao để hài hòa được đòi hỏi của người sử dụng trung bình và những yêu cầu của một phương pháp nghiên cứu khoa học. Một cuốn từ điển phải thỏa mãn nhiều loại đối tượng độc giả, từ những trí thức đến người lao động chân tay. Trong khi đó, yêu cầu của nghiên cứu khoa học lại đòi hỏi phải có logic tinh tế kết hợp việc tìm kiếm đến cùng. Để có thể đáp ứng được tất cả những yêu cầu này, phải vận dụng các công thức có tính hình thức, các công thức này hướng việc soan thảo từ điển theo con đường của “các khoa học tự nhiên”, sản phẩm thu được khiến người ta nghĩ đến một cuốn sách toán học hơn là một cuốn từ điển truyền thống. Nhưng nhìn chung, độc giả không thích hướng đi này và nhà từ vựng học phải tìm kiếm một thỏa hiệp khó khăn giữa đòi hỏi của khoa học và thực tế xã hội.

Chương 2 giới thiệu những đặc thù riêng của Từ điển giải thích và kết hợp.

Để có một cuốn từ điển phải nêu cách soạn thảo, lựa chọn các danh mục và tham khảo tài liệu. Các tác giả đã giải thích rõ sự cần thiết của những nguyên tắc soạn thảo chặt chẽ và trình bày 8 nguyên tắc biên soạn là:

1) Nguyên tắc tính hình thức 2) Nguyên tắc nội dung bên trong phải thống nhất 3) Nguyên tắc xử lí đồng bộ 4) Nguyên tắc triệt để 5) Nguyên tắc sẵn có 6) Nguyên tắc tính từ vựng 7) Nguyên tắc dành ưu tiên số 1 cho người sử dụng 8) Nguyên tắc bắt buộc phải tham khảo các dữ liệu tham khảo

Chương 3 nghiên cứu cấu trúc vi mô của từ điển giải thích và kết hợp, tức là nghiên cứu tổ chức của từng mục từ trong từ điển, mỗi mục ứng với một đơn vị từ vựng. Ở đây, các tác giả đã làm rõ bản chất của một đơn vị từ vựng là gì? Làm thế nào để xác định đơn vị từ vựng và quan trọng hơn là làm thế nào để miêu tả nó hiệu quả? Mỗi mục từ, các tác giả lần lượt miêu tả 3 phần chính:

1) Phần ngữ âm (cái biểu đạt của đơn vị từ vựng) 2) Phần ngữ nghĩa (cái được biểu đạt của đơn vị từ vựng) 3) Phần khả năng kết hợp (cú pháp của đơn vị từ vựng).

Phần thứ 3 này lại được chia nhỏ thành 4 tiểu phần:

3.1. Tiểu phần kết hợp hình thái

3.2. Tiểu phần kết hợp phong cách

3.3. Tiểu phần kết hợp cú pháp

3.4. Tiểu phần kết hợp từ vựng hạn chế

Ngoài ra mỗi mục từ còn có hai phần phụ. Đó là, phần minh họa và phần đơn vị thành ngữ, cũng quan trọng xét từ góc độ từ điển.

Chương 4 đề cập đến cấu trúc vĩ mô của từ điển, tức là tổ chức các tập hợp mục từ. Nội dung chương này xoay quanh hai vấn đề chính sau đây:

- Cấu trúc của một siêu mục từ mà các tác giả gọi là vocable: tập hợp các đơn vị từ vựng có hình thức biểu đạt như nhau và nội dung biểu đạt gần nhau;

- Cấu trúc trường từ vựng: tập hợp các vocable có các đơn vị từ vựng cùng thuộc một trường nghĩa.

Chương 5 là phần minh họa. Các tác giả trích dẫn trong chương này một số mục của Từ điển giải thích và kết hợp trên cơ sở lồng ghép những lời giải thích cần thiết. Ngoài ra, các tác giả còn trình bày tương đối chi tiết trình tự mà một nhà từ vựng/từ điển học phải tuân thủ khi soạn thảo những nội dung này trong từ điển.

Chương 6 nghiên cứu những khả năng tin học hóa các miêu tả từ vựng/từ điển học. Một cuốn từ điển giải thích và kết hợp quả thật là một công cụ cực kì hữu dụng đối với việc xác minh những khả năng ngôn ngữ cũng như việc soan thảo tự động các văn bản hay việc chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác hay nói cách khác là việc xây dựng những hệ thống dịch tự động hoặc có sự trợ giúp của máy tính. Từ điển giải thích và kết hợp là cuốn từ điển dành để tin học hóa. Lí thuyết ngôn ngữ làm cơ sở cho từ điển giải thích và kết hợp cho phép và thậm chí đòi hỏi việc tin học hóa từ điển. Hiện nay, với sự phát triển của lĩnh vực tin học, nhiệm vụ tin học hóa từ điển càng ngày càng có nhiều khả năng trở thành hiện thực. Các nhà ngôn ngữ học phải tìm cách tốt nhất để mô hình hóa ngôn ngữ và chính tin học là lĩnh vực phải phát triển các công cụ thích hợp để biểu diễn và điều khiển các tri thức ngôn ngữ (trên cơ sở xây dựng các cơ sở dữ liệu từ điển hữu ích). Nhập môn từ vựng học giải thích và kết hợp có những phần chú thích ở cuối trang có nhiều thông tin hơn phần chú thích thường thấy ở những cuốn sách loại này. Sở dĩ các tác giả làm như vậy bởi vì nếu đưa những nội dung đó vào phần trình bày chính thì chúng có thể phá vỡ mạch logic của phần này.

Như lời tác giả, Nhập môn từ vựng học giải thích và kết hợp là ấn phẩm dành cho những người say mê với “siêu” từ vựng học và “siêu” từ điển học và cả những người muốn học hỏi thêm về ngôn ngữ học đại cương và ứng dụng trong mối quan hệ với từ. Do vậy, đây là một tài liệu tham khảo rất bổ ích đối với các nhà từ điển học Việt Nam. Rộng hơn là đối với các nhà nghiên cứu, các giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ học.

Hà Nội, 17-6-2009. (Nguồn: Từ điển học & Bách khoa thư, số 1, 9-2009)

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ điển song ngữ, đa ngữ: nhìn từ góc độ giáo học pháp ngoại ngữ
  • Từ điển tiếng Việt mới: Hướng tích hợp “nhiều trong một”
  • Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt)
  • Thị trường từ điển: Quá nhiều lộn xộn
  • Vì sự phát âm cho trúng