Ngôn ngữ học

Từ điển song ngữ, đa ngữ: nhìn từ góc độ giáo học pháp ngoại ngữ
     

PGS TS BÙI HIỀN

Có thể nói, hiên nay các chủng loại từ điển song ngữ, đa ngữ ở Việt Nam hết sức đa dạng và phong phú. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đề cập đến tất cả các loại từ điển song ngữ như: đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành, bách khoa, thành ngữ, tục ngữ, địa danh, tên người, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ mới, từ viết tắt, v.v., mà chỉ điểm qua một số chủng loại thường dùng phổ biến trong xã hội, nhất là trong giới học sinh, sinh viên dưới góc độ giáo học pháp ngoại ngữ để tìm hiểu và đánh giá công dụng của chúng cùng với những mặt ưu việt và mặt hạn chế của từng loại từ điển đối với việc dạy học ngoại ngữ, nhằm góp phần định hướng lựa chọn và sử dụng sao cho có hiệu quả nhất mà lại tiết kiệm được thì giờ, công sức và tiền của. Thuật ngữ từ điển song ngữ và đa ngữ về cơ bản chỉ khác nhau trong nội hàm ở số lượng (2,3,4) ngôn ngữ đối chiếu trong một cuốn từ điển mà thôi, còn về bản chất chúng đều là loại từ điển dựa vào một ngôn ngữ xuất phát để phân tách, diễn giải, trình bày hệ thống ngữ nghĩa, ngữ pháp và tu từ của từng mục từ được sắp xếp chủ yếu theo thứ tự bảng chữ cái (alphabet) hoặc theo bộ nét chữ của ngôn ngữ xuất phát, từ đó đối chiếu với các ngôn ngữ khác để lựa chọn và đưa vào các từ ngữ, tức những tín hiệu ngôn ngữ tương đương với từng nghĩa trong mỗi mục từ xuất phát. Song trong loại từ điển song ngữ, đa ngữ cần phân biết rõ hai kiểu là: ngoại ngữ (Nga, Anh, Pháp, Hán...) - Việt ngữ, Việt ngữ - ngoại ngữ, bởi chúng có sự khác biệt và đối lập nhau về chức năng thông tin xuất phát từ vị thế của người dùng từ điển. Nếu như từ điển Anh - Việt cho người Việt dùng thì chức năng chủ yếu của nó là thông tin về những nội dung ý nghĩa của từ ngữ tiếng Anh cho người Việt hiểu và sử dụng. Vì vậy, lượng thông tin của từ mục càng phong phú, đa dạng bao nhiêu thì càng hỗ trợ cho người học có hiệu quả bấy nhiêu, đặc biệt là giúp cho người Việt hiểu được chính xác các ý nghĩa của từng mục từ trong những ngữ cảnh, tình huống giao tiếp khác nhau, đồng thời cũng giúp tránh được những sự hiểu lầm, ngộ nhận nội dung thông tin của từ mục tiếng nước ngoài do suy diễn theo lối suy nghĩ của người Việt. Còn từ điển Việt – Anh cho người Việt lại có chức năng chủ yếu là tìm kiếm các phương tiện từ ngữ tiếng Anh để biểu đạt những nội dung thông tin có sẵn, ngầm định đầy đủ trong các mục từ trong tiếng mẹ đẻ của người Việt, vì vậy lượng thông tin của mục từ tiếng Việt càng chi tiết, rạch ròi và phong phú bao nhiêu thì càng giúp người Việt nắm được chính xác các phương tiện tiếng nước ngoài đã cung cấp trong từ điển để biểu đạt đúng nội dung các ý nghĩa cùng những sắc thái của từng từ mục tiếng Việt bấy nhiêu, nhờ vậy mà hạn chế được sự áp đặt những kiểu tư duy ngôn ngữ của người Việt, đồng thời tránh được sự vô tình gây sốc ngôn ngữ - văn hoá khi giao tiếp với người nước ngoài.

Xin lần lượt phân tích một số loại từ điển song ngữ điển hình dưới đây:

1. Từ điển đối dịch đơn thuần

Loại từ điển đối dịch đơn thuần thường có khối lượng mục từ rất khác nhau, nhưng mỗi mục từ xuất phát chỉ liệt kê số nghĩa xác định nhiều ít tuỳ theo mức độ nông sâu đối với người dùng, tiếp đó có thể đưa thêm một số thành ngữ thông dụng, ngoài ra rất ít khi có thêm các chỉ dẫn về ngữ âm, ngữ pháp, tu từ.... Sau mỗi nghĩa theo số thứ tự có thể cho một hoặc hai từ của ngôn ngữ thứ hai có nghĩa tương đương. Loại từ điển này có ưu điểm là dung lượng mục từ có thể rất lớn, nhưng khối lượng trang nhỏ, nên có thể bỏ túi và sẵn sàng dùng được bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của loại từ điển đối dịch đơn thuần là khó nhận ra được ý nghĩa chính xác của mỗi nghĩa của mục từ xuất phát, vì thiếu ngữ cảnh cụ thể, mặt khác thì các từ tương đương của ngôn ngữ thứ hai lại không được chỉ ra một ý nghĩa cụ thể nào, trong khi bản thân các từ ấy trong ngôn ngữ thứ hai thường là đa nghĩa, do đó rất khó dùng chính xác mỗi nghĩa trong từng tình huống giao tiếp, thậm chí có thể sai. Thí dụ:

ĐƯỜNG 1. way, road. 2. street. 3. line. 4. way, method.

WAY 1. đường, lối đi. 2. phía, phương, hướng. 3. cách, phương pháp. 4. lối, thói.

ДОРОГА 1. đường, lối đi. 2. đường, chuyến đi. 3. đường, chí hướng.

2. Từ điển đối dịch có thí dụ minh hoạ

Loại từ điển đối dịch có thí dụ minh hoạ thường liệt kê các nghĩa cơ bản của mục từ thuộc ngôn ngữ xuất phát, rồi theo thứ tự mà đối chiếu, lựa chọn và đưa vào các đơn vị từ ngữ trong ngôn ngữ thứ hai có ý nghĩa tương đương với từng nghĩa đó. Tiếp theo ngay sau mỗi tín hiệu tương đương luôn luôn kèm theo một vài thí dụ minh hoạ với những ngữ cảnh cụ thể được dịch nghĩa bằng ngôn ngữ thứ hai, do đó mà khắc phục được những nhược điểm của loại từ điển đối dịch đơn thuần kể trên. Ngoài ra, một số từ điển song ngữ loại này còn tuỳ theo mục đích và nhu cầu cụ thể của đối tượng người học mà cung cấp thêm các chú giải ngữ âm, ngữ pháp, tu từ, v.v. nhằm giúp người học sử dụng các từ ngữ tiếng nước ngoài được chính xác hơn. Thí dụ:

ĐƯỜNG 1. way, road, route. Hỏi ~ To ask for the way. ~ đi road. ~ biển A sea route. 2. street. ~ một chiều A one-way street. 3. line. ~ thẳng Straight line . ~ song song parallel lines.

WAY [wei] dt 1. đường, lối đi. ~ in đường (lối) vào. A public ~ con đường (lối đi) công cộng. 2. phía, phương, hướng. The right ~ phía phải. Which ~ is the wind flowing? Gió thổi theo phương (hướng) nào?

ДОРОГ//А ж 1. đường, lối đi. Большая ~ đường cái. Дать ~у nhường đường (lối). 2. đường, chuyến đi. В ~е trên đường đi. Отдохнуть с ~и nghỉ ngơi sau chuyến đi. 3. đường, chí hướng. По ~е cùng đường, cùng chí hướng.

3. Từ điển đối dịch có giải thích và minh hoạ

Loại từ điển đối dịch có giải thích và minh hoạ về cơ bản giống với loại thứ hai nêu trên và chỉ khác ở chỗ nó cung cấp thêm phần giải thích vào sau mỗi nghĩa của mục từ bằng những từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc những câu định nghĩa của ngôn ngữ xuất phát trước khi cho tín hiệu tương đương bằng ngôn ngữ đối dịch. Chức năng của những từ ngữ và câu giải thích kiểu này là để khu biệt rõ nội dung của mục từ định trình bày ở trong ngữ cảnh cụ thể được nêu ra của ý nghĩa này, giúp người tra cứu định hướng được nội dung của nó và tránh được sự mơ hồ, nhầm lẫn nghĩa nọ sang nghĩa kia. Tuy nhiên cách giải thích bằng chính ngôn ngữ xuất phát thực sự chỉ có tác dụng đối với người đã biết khá tốt ngoại ngữ đó hoặc với người bản ngữ, vì nó giúp người tra cứu nhận thấy rõ hơn ý nghĩa được tách ra trong cả hệ thống cấu trúc nội dung của mục từ để tránh lẫn sang các ý nghĩa khác mà thôi, chứ nó không cung cấp tín hiệu chính xác bằng ngôn ngữ đối dịch. Nếu vậy thì tốt nhất và bổ ích hơn là họ nên đi tra cứu mục từ đó bằng loại từ điển tường giải một thứ tiếng (Việt - Việt, Anh - Anh, Nga - Nga...). Còn với những người mới bắt đầu học ngoại ngữ như học sinh, sinh viên, thì kiểu giải thích này chỉ gây phức tạp và thêm mất thì giờ, vì như vậy là họ phải tra nghĩa của một mục từ mới của ngôn ngữ xuất phát bằng những từ ngữ và những câu khác với nhiều từ ngữ cũng mới, nên nhiều khi khó hiểu hơn hoặc thậm chí không hiểu gì. Thí dụ:

ĐƯỜNG d 1. (lối đi nối liền hai địa điểm) way, road. Lạc ~ to lose the way. ~ cái hight road. 2. (khoảng cách) way. ~ xa a long way. 3. (hình tạo nên do một điểm chuyển động) line. ~ song song parallel lines.

WAY [wei] n 1.(a thoroughfare for travel or passage) đường, lối đi. ~ in đường vào, lối vào. 2. (distance) đường, khoảng cách. A short ~ đường gần, khoảng cách ngắn. 3. (method, mode) phương pháp, cách. This ~ of thingking phương pháp suy nghĩ này.

ДОМ м 1.(здание) nhà. жилой ~ nhà ở. 2. (жильё, квартира) nhà. выйти из ~у đi ra khỏi nhà. 3. (семья) nhà, gia đình. мы знакомы ~мами hai nhà chúng tôi quen nhau.

4. Từ điển đối dịch giáo khoa

Loại từ điển đối dịch giáo khoa mới xuất hiện vào khoảng mấy thập niên gần đây, nhằm mục đích đáp ứng đúng nhu cầu và khả năng dạy học ngoại ngữ ở ngoài môi trường ngôn ngữ tự nhiên để đạt được hiệu quả tốt nhất. Thời kì đầu loại từ điển đối dịch giáo khoa mới chỉ tính đến khối lượng mục từ làm sao cho phù hợp với khả năng tiếp thu của đối tượng, chủ yếu là học sinh phổ thông, mà lựa chọn 4-5 nghìn hoặc 9-10 nghìn đơn vị từ ngữ thông dụng nhất làm cơ sở để biên soạn (đối dịch), còn về nội dung và cấu trúc vẫn giữ gần như loại từ điển đối dịch có minh hoạ (loại 2) đã trình bày ở trên, nên không giúp cải thiện được chất lượng dạy học một cách rõ ràng. Vào đầu thế kỉ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho ra đời cuốn “Từ điển giáo khoa Nga-Việt” do Bùi Hiền chủ biên và ngay sau đó được Triển lãm Sách quốc tế ở Thuỵ Sĩ năm 2001 tặng cho hai danh hiệu liền một lúc là “Business Initiative Directions” và “International Gold Star for Quality” để khẳng định giá trị sáng kiến mở đầu về một phương hướng biên soạn từ điển giáo khoa mới. Những nguyên tắc biên soạn cơ bản dựa trên những thành tựu giáo học pháp ngoại ngữ hiện đại của Việt Nam và thế giới được thể hiện trong bộ Từ điển giáo khoa Nga - Việt như sau:

1/ Tối thiểu hoá từ vựng và ngữ nghĩa

Cuốn Từ điển Giáo khoa Nga - Việt với 1.800 trang khổ lớn chỉ bao gồm hơn 6.000 mục từ được chọn ra trong số hơn 400.000 từ của tiếng Nga, nghĩa là chỉ bằng khoảng 1,5% tổng vốn từ vựng của ngôn ngữ Nga. Mức độ tối thiểu hoá này được xác định dựa trên cơ sở tính toán khả năng tiếp thu của học sinh và sinh viên trong vòng 11 năm học liên tục. Số lượng từ mục trong Từ điển giáo khoa Nga - Việt được lựa chọn theo dữ liệu của các từ điển tần số tiếng Nga, nên 6.000 từ này đều là những từ cơ bản, có tần số cao, được dùng tích cực và phổ biến hơn cả. Do đó từ điển này giúp định hướng cho người học tập trung luyện tập và ghi nhớ đúng những từ cần thiết nhất, vì nếu nắm được đầy đủ số từ này thì có khả năng đọc hiểu được trên 80% các văn bản thường gặp. Còn nếu cũng nắm được số lượng 6.000 từ bất kì nào trong các từ điển đối dịch khác, thì khả năng hiểu được văn bản không tới 50%, nghĩa là chưa thể đọc được sách báo thông thường(1). Đi đôi với việc tối thiểu hoá từ vựng, thì ngay trong từng mục từ cũng được tối thiểu hoá ngữ nghĩa nhằm chỉ ra một vài nghĩa cơ bản, hay dùng nhất để dạy học, còn những nghĩa khác ít gặp trong giao tiếp hàng ngày, nhất là những nghĩa cổ, nghĩa tục, nghĩa chuyên môn, nghĩa nghề nghiệp, v.v., thì chưa nên học. Điều này không thấy thể hiện trong các từ điển đối dịch thông thường, bởi vì ở đó tất cả các nghĩa của một mục từ đều có vị trí và giá trị như nhau, không hề có phân biệt về mức độ quan trọng và cần thiết trong giao tiếp. Như vậy là có thể khuyên cáo cả thầy và trò rằng gặp những từ mới mà tra trong Từ điển giáo khoa không thấy, thì có thể yên tâm gác chúng sang một bên, không cần luyện tập, ghi nhớ chúng cho phí công, vì chúng ít được dùng nên trước sau cũng sẽ bị quên.

2/ Tích cực hoá các ý nghĩa cơ bản của mục từ

Trên cơ sở tối thiểu hoá những ý nghĩa cơ bản, tích cực nhất trong mỗi mục từ, tác giả dùng kí hiệu riêng để phân biệt chúng với những ý nghĩa ít dùng (dùng dấu tròn đen ● để chỉ nghĩa ít dùng, còn lại không có dấu là nghĩa tích cực). Những ý nghĩa cơ bản được tích cực hoá bằng cách cung cấp một lượng tối đa cần thiết những từ ngữ có khả năng kết hợp với chúng dưới dạng tất cả những cấu trúc tương hợp, chi phối và kết liên, nhằm tăng tối đa những tình huống giao tiếp chuẩn mực của tiếng Nga cho học sinh luyện tập, đồng thời hạn chế đến mực tối thiểu các lỗi suy luận theo tập quán ngôn ngữ người Việt theo kiểu: trâu đực - trâu cái, vịt đực - vịt cái… rồi tự nhiên nói luôn: gà đực - gà cái; hoặc theo kiểu: màu nâu - коричневый цвет, áo nâu – коричневая рубашка... rồi tự nhiên dùng sai luôn thành: đôi mắt nâu – коричневые глаза, mà tiếng Nga phải dùng là карие глаза.

3/ Chi tiết hoá, đa dạng hoá mục từ và các nghĩa

Việc tách nghiã các mục từ của ngôn ngữ xuất phát có tác dụng rất thiết thực đối với người dạy và người học. Ý nghiã của mục từ được phân tách càng chi tiết thì càng khiến việc nhận biết và vận dụng các nghĩa được thuận lợi và chính xác hơn bấy nhiêu, do đó giúp người học tránh được những suy đoán tuỳ tiện, ngộ nhận và hiểu nhầm làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập, vận dụng các mục từ. So với 3 loại từ điển đối dịch kể trên thì lượng nghĩa của mục từ trong Từ điển giáo khoa thường lớn hơn nhiều và do đó số từ ngữ của ngôn ngữ đối dịch cũng tăng lên tương ứng, nghĩa là cách truyền đạt nội dung của mục từ cũng chi tiết hơn và phù hợp hơn với nhiều tình huống giao tiếp khác nhau. Nguyên tắc đa dạng hoá được thể hiện trong Từ điển giáo khoa Nga - Việt bằng cách đưa thêm nhiều thông tin liên quan đến mục từ và từng ý nghĩa của nó như: các biến đổi về trọng âm, hình thái (giống, số, ngôi, thể, thức, thái), các dạng cấu tạo từ, cấu trúc câu, đồng âm, cận âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, quán ngữ, thành ngữ, tục ngữ, tu từ, đất nước học, v.v. Tất cả những thông tin được đưa vào sẽ giúp cho người học không chỉ nắm được các ý nghĩa của mục từ trong từng ngữ cảnh cụ thể, mà còn mở rộng khả năng lựa chọn những dạng thức biểu đạt chính xác nhất, phong phú nhất, phù hợp với từng tình huống cụ thể trong giao tiếp bằng tiếng Nga, hơn thế nữa còn giúp mở rộng và đi sâu hơn vào những nội hàm văn hoá đặc trưng của mỗi mục từ tiếng Nga.Thí dụ:

человек, -а, sn люд-и, люд-ей, люд-ям, люд-ей, людь-ми, о люд-ях (và sn c2 человек, с3 человек-ам, с5 человек-ами, с6 о человек-ах chỉ dùng khi đi với số từ số lượng). 1. người, con người, nhân vật. Хороший (плохой, прекрасный, таинственный, толстый, строгий, умный, .....tổng cộng gần 300 tính từ kết hợp với danh từ con người) ч. . Ч. высокого роста (большой силы, широкого кругозора....). Ч. с чёрными глазами (с передовыми взглядами ....). Ч. без cобственного мнения. Десять (сто, тысяча...) человек. Группа (масса, толпа....) людей. Вера... в человека. Любовь... к человеку. Забота...о человеке. Любить (помнить, уважать, лечить...) человека. Помогать....человеку. Быть (являться, казаться...) каким-л человеком. Влюбиться... в какого-л. человека. ...

● 2. con người, nhân cách. * ĐN личность. Следует формировать человека, а не моряка, не чиновника, не офицера.(Писарев) Cần phải hình thành một con người (nhân cách), chứ không phải một thuỷ thủ, một quan chức, một sĩ quan (Pi-xa-rep).

● 3. người ở, bồi. – Человек, бутылку шампанского! (А. Толстой) – Này bồi, cho một chai sâm banh đây! (A. Tôn-xtôi). // dt, nh-m человечек đ, của nghĩa 1.; человечество tr nhân loại, cверх-человек đ siêu nhân, человек-амфибия c người cá, v.v...(2)

5. Từ điển đối dịch tổng hợp (giáo khoa và tra cứu)

Bộ Từ điển giáo khoa Việt - Nga mới xuất bản năm 2007 của Nhà xuất bản Giáo dục cũng do Bùi Hiền làm chủ biên vẫn thể hiện đúng 3 nguyên tắc của loại từ điển đối dịch giáo khoa kể trên, đồng thời có cải tiến và bổ sung thêm một số nội dung cần thiết khác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập và nghiên cứu của mọi đối tượng sử dụng, chứ không chỉ bó hẹp trong nhà trường và người mới học. Cụ thể là bên cạnh khối 6-7.000 từ ngữ cơ bản với những đặc trưng trình bày, miêu tả theo ý đồ giáo học pháp ngoại ngữ để phục vụ trực tiếp cho việc dạy học, Từ điển này còn chọn đưa thêm vào khoảng 19.000 từ mục khác ngoài khối từ ngữ giáo khoa quy định, tổng cộng thành 25.000 đơn vị khiến cho cả người học và người nghiên cứu đều không cần phải dùng đến một quyển từ điển đối dịch bình thường khác để tra cứu, tham khảo. Ngoài ra, từ điển tổng hợp này còn cho dịch toàn bộ các thí dụ minh hoạ sang tiếng Nga để người dùng có được ngay những tín hiệu tương đương bằng ngoại ngữ, khiến cho việc tra cứu được thuận tiện, nhanh chóng và chính xác hơn loại từ điển đối dịch giáo khoa ở trên. Thí dụ:

NHÀ d 1/ ♥ дом, жильё, жилище, здание, постройка. ~ ở жилой дом (cao tầng многоэтажный, to большой, cao высокий, chọc trời высотный, gỗ деревянный, bằng tấm pa-nen панельный). ~ bằng gạch дом из кирпича (có ban công дом с балконом , có hàng cột trụ дом с колоннами). Mái ~ крыша дома (tường стена, mặt tiền фасад, cửa дверь, cửa sổ окно, cầu thang подъезд). Lối vào ~ вход в дом. Cạnh ~ возле дома. Đằng trước ~ перед домом. Đằng sau ~ за домом. Đuối ra khỏi ~ выгнать из дома. ♦ Tắt đèn ~ ngói cũng như ~ tranh ночью все кошки серы. ~ sạch thì mát, bát sạch ngon cơm в чистом доме прохладнее, в чистой пиале еда вкуснее. 2/● cемья, дом; семейный, домашний. ~ nền nếp добропорядочная семья (nghèo бедная, ấm cúng уютная, thân yêu родная, người ta чужая). Buồn nhớ ~ тоска по дому. Giải tán về các ~ разойтись по домам. Việc ~ домашние дела. Bữa cơm ~ домашний обед. 3/ (императорская) династия. ~ Lê династия Ле. 4/ муж, жена. ~ tôi không có nhà моего мужа (моей жены) нет дома. 5...6... (3)

Nhờ có cách tổng hợp khéo léo, hợp lí những ưu điểm của các loại từ điển đối dịch hiện có, nên ngay sau khi ra đời bộ Từ điển giáo khoa Việt - Nga đã được công chúng đón nhận nhiệt tình, đồng thời nhận được danh hiệu «London, quality crown - Vương miện kim cương chất lượng quốc tế « và giải thưởng “Bạc – Sách hay” của Hội Xuất bản Việt Nam năm 2008.

Tóm lại, trong quá khứ đã nhiều và trong tương lai cũng vẫn sẽ còn rất nhiều loại từ điển đối dịch khác nhau ra đời. Nhưng qua sự nhận xét, phân tích của chúng tôi trên góc độ giáo học pháp ngoại ngữ và qua những đánh giá của giới chuyên môn trong nước và quốc tế cho phép chúng ta có thể khẳng định được những tính chất mới mẻ và ưu việt đối với giáo học pháp ngoại ngữ của hai loại từ điển đối dịch giáo khoa và đối dịch tổng hợp là: chính xác, phong phú, đa dạng, tiết kiệm, hiệu quả, tiện dụng. Đó cũng là cơ sở để chúng ta hi vọng và tin tưởng ngày càng có nhiều nhà làm sách và đông đảo bạn đọc đi theo hướng từ điển song ngữ tổng hợp giáo khoa – tra cứu, loại từ điển thích hợp với yêu cầu đa dạng của người dùng.

(Nguồn: Từ điển học & Bách khoa thư, số 1, 9-2009)

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ điển tiếng Việt mới: Hướng tích hợp “nhiều trong một”
  • Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt)
  • Thị trường từ điển: Quá nhiều lộn xộn
  • Vì sự phát âm cho trúng
  • Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ quốc ngữ và phải viết cho đúng?