Ngôn ngữ học

Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt)
     

GS HOÀNG PHÊ, PGS NGUYỄN NGỌC TRÂM

1. Những năm gần đây, ở nước ta có tình hình rất nhiều từ điển đủ các loại hằng năm được xuất bản, từ điển đơn ngữ (tiếng Việt) cũng như từ điển song ngữ, từ điển ngữ văn cũng như từ điển có tính bách khoa. Theo thống kê chưa đầy đủ, chủ yếu dựa vào thư mục của Thư viện Quốc gia, trong tổng số 447 quyển từ điển đã xuất bản ở nước ta từ xưa đến nay, có 239 quyển (trên 53%) đã được xuất bản từ sau 1975, bao gồm: 35 quyển từ điển tiếng Việt các loại, 64 quyển từ điển ngữ văn song ngữ, 78 quyển từ điển thuật ngữ đối chiếu và 62 quyển từ điển chuyên môn các ngành.

Tình hình trên có điều đáng mừng; nó chứng tỏ xã hội ta đang có nhu cầu lớn và ngày càng tăng về từ điển, mà nhu cầu này là một tiêu chí của mức độ phát triển kinh tế, văn hoá. Nhu cầu lớn, nhưng khả năng đáp ứng lại hạn chế. Biên soạn từ điển loại vừa và lớn đòi hỏi phải có cơ sở tư liệu đầy đủ và một đội ngũ chuyên gia và kĩ thuật viên làm việc trong nhiều năm; và phải dựa vào những từ điển loại vừa hoặc loại lớn làm cơ sở thì mới có thể biên soạn tốt những từ điển loại nhỏ. Ở nước ta những điều kiện trên đây đều chưa có đủ, biên soạn từ điển là một việc có nhiều khó khăn. Thế nhưng vì từ điển là loại sách đang “ăn khách”, nên với cơ chế thị trường, có không ít quyển từ điển được biên soạn vội vàng, in ấn cũng vội vàng, có rất nhiều sai sót. Từ điển là loại sách công cụ, dùng để tra cứu mỗi khi cần thiết, cung cấp ad hoc những mẩu tri thức mà người dùng nó đang cần. Chỉ cái tên “từ điển” thường cũng đã mang lại cho nó một sự tin cậy nhất định. Chúng ta thường tin là từ điển “không sai”, hoặc “không có những sai lớn”. Cho nên từ điển mà có những sai sót lớn, chẳng hạn từ điển chính tả mà có lỗi chính tả, từ điển song ngữ mà có nhiều từ ngữ đối dịch sai, thì phụ lòng tin cậy của người dùng và tác hại không nhỏ.

2. Từ điển học ngày nay đã trở thành một bộ môn ngôn ngữ học ứng dụng quan trọng. Do việc biên soạn và xuất bản từ điển phát triển rất mạnh từ trên một thế kỉ nay, từ điển đã trở thành loại sách có số lượng phát hành lớn nhất ở nhiều nước (riêng ở nước Mĩ, mỗi năm phát hành trung bình 10 triệu cuốn từ điển đủ các loại), nên công tác từ điển học đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm. Sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học mấy thập kỉ gần đây, đặc biệt những thành tựu đã đạt được trong nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa, đã tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở lí luận từ điển học hiện đại. Việc ứng dụng kĩ thuật điện toán, sử dụng rộng rãi máy tính đã tạo một bước phát triển mới của từ điển học.

Nhưng, như L. Zgusta đã nhận xét ngay ở lời mở đầu công trình về từ điển học của mình (1971), một trong những đặc điểm lạ lùng nhất của từ điển học là các nhà từ điển rất ít trao đổi kinh nghiệm với nhau. Ở nước ta cũng có tình hình như vậy.

Từ điển học Việt Nam ra đời rất muộn, thậm chí có thể nói rằng nó còn chưa thật sự hình thành, mặc dầu chúng ta cũng đã có những nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn nhất định.

Tổ ngôn ngữ học, tiền thân của Viện Ngôn ngữ học, ngay sau khi thành lập (1959), đã đặt việc biên soạn một quyển từ điển tường giải tiếng Việt thành một nhiệm vụ trọng tâm. Chúng ta đã tổ chức việc làm phiếu tư liệu từ điển từ năm 1963, và chỉ trong vòng 6 - 7 năm, trong đó có đến một nửa thời gian làm việc trong hoàn cảnh cơ quan sơ tán về nông thôn, phương tiện làm việc rất thiếu thốn, đã bằng phương pháp thủ công xây dựng một kho tư liệu với 2 triệu phiếu từ điển làm cơ sở dữ liệu cho việc biên soạn từ điển tiếng Việt. Đó là một thành tích rất lớn. Và ngay từ khi thành lập (1968), Viện Ngôn ngữ học đã tổ chức một Phòng từ điển tiếng Việt và một Phòng tư liệu từ điển, phiếu từ điển được tiếp tục bổ sung trong nhiều năm sau. Từ những năm 1968-69, chúng ta đã bắt đầu tìm hiểu lí luận từ điển học, trong điều kiện rất thiếu tài liệu tham khảo, và tìm hiểu những bài học kinh nghiệm trong công tác từ điển học của các nước cũng như kinh nghiệm của nước ta. Một loạt bài viết đã trình bày những vấn đề lí thuyết từ điển học (x. Hoàng Phê 1969, Đỗ Hữu Châu 1969, Nguyễn Văn Tu 1969, Bùi Đình Mỹ 1991,...); hoặc trình bày một vài vấn đề cụ thể của từ điển học (x. Bùi Khắc Việt 1969, Nguyễn Quang 1971, Hồng Dân 1971, Đặng Chấn Liêu 1977,...); hoặc thông qua việc nhận xét giới thiệu các quyển từ điển để phát biểu về quan điểm và phương pháp biên soạn từ điển (x. Vương Lộc 1969, Đỗ Hữu Châu 1977, ...). Suốt trong quá trình biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt phổ thông (Tập I, Hoàng Phê chủ biên) và sau này quyển Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên; dưới đây viết tắt là TĐTV), Phòng từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học đã nhiều lần thảo luận, giải quyết một loạt vấn đề thực tiễn biên soạn từ điển tiếng Việt. Điều đáng tiếc là cái không khí học thuật đó không được thường xuyên duy trì, có những lúc nó chìm lắng xuống trong một thời gian dài nhiều năm.

TĐTV là quyển từ điển tường giải tiếng Việt đầu tiên ở nước ta được biên soạn trên cơ sở phiếu tư liệu tương đối đầy đủ. Dựa vào những thành tựu nghiên cứu về tiếng Việt, các soạn giả đã cố gắng giải quyết một số vấn đề cụ thể cho phù hợp với đặc điểm của tiếng Việt và chữ Việt, và phù hợp với tình hình và yêu cầu phát triển của tiếng Việt.

Trong bài này, chúng tôi trình bày tóm tắt một số vấn đề cơ bản của lí luận từ điển học Việt Nam, nếu có thể nói được như vậy, chủ yếu thông qua thực tiễn biên soạn và sửa chữa, bổ sung quyển TĐTV. Chúng tôi giới hạn vấn đề ở việc biên soạn từ điển ngữ văn, nói đúng hơn là từ điển tường giải. Về các chủng loại từ điển khác, cần có sự nghiên cứu riêng.

3. Vấn đề cấu trúc vĩ mô của từ điển

Vấn đề đầu tiên phải giải quyết khi tiến hành biên soạn một quyển từ điển là lập bảng từ, tức là danh sách các mục từ, gồm những đơn vị ngôn ngữ, thường là từ, nhưng cũng có thể là đơn vị nhỏ hơn hoặc lớn hơn từ, được tuyển chọn theo mục đích, yêu cầu, tính chất của quyển từ điển và sắp xếp theo một thứ tự nhất định, thường là theo thứ tự chữ cái (nếu là ngôn ngữ có chữ viết ghi âm bằng chữ cái), tạo thành một cấu trúc chặt chẽ. Đây là cấu trúc có những quan hệ dọc, suốt từ đầu đến cuối quyển từ điển, nên được gọi là cấu trúc vĩ mô, theo thuật ngữ của Rey - Debove (1971), phân biệt với cấu trúc vi mô, cấu trúc của các mục từ, có những quan hệ ngang.

Giải quyết vấn đề cấu trúc vĩ mô của một từ điển tiếng Việt, phải chú ý đến đặc điểm từ vựng - ngữ pháp - ngữ nghĩa của tiếng Việt. Trong tiếng Việt, đơn vị tiếng (âm tiết) thường có nghĩa, nên nhiều khi rất khó phân định ranh giới giữa tiếng - từ và tiếng - hình vị, cũng như giữa từ kép và tổ hợp từ, giữa tổ hợp từ cố định và tổ hợp từ tự do. Xác định khái niệm từ và ranh giới từ trong tiếng Việt là cả một vấn đề cực kì khó khăn, vì có thể nói là không thể dựa vào một tiêu chí hình thức nào cả. Chưa có một quan điểm nào đạt được một sự nhất trí trong giới nghiên cứu, chưa có một giải pháp nào khả dĩ đạt được một sự nhất quán khi vận dụng. Mà từ điển lại không chỉ giải quyết vấn đề trên lí thuyết, mà phải giải quyết trong thực tiễn, cho toàn bộ những từ ngữ thu thập. Các từ điển tiếng Việt trước đây hoặc lấy từ và tổ hợp từ cố định làm đơn vị mục từ (như: Tự điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập, 1951; Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị, 1952; Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, 1967); hoặc lấy tiếng làm đơn vị, nhưng trong mỗi mục từ, lại thu thập các từ đa tiết và các tổ hợp từ cố định có tiếng - tên của mục từ là yếu tố đầu, những từ và tổ hợp từ này được sắp xếp theo thứ tự chữ cái, và tạo thành những mục từ nhỏ trong mục từ lớn (như: Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của, 1895; Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, 1970). Một cấu trúc vĩ mô như vậy có thể gọi là cấu trúc hai bậc. Đây cũng là cấu trúc vĩ mô của các từ điển tiếng Hán, nói chung. Một vài quyển từ điển (như Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo, 1931) áp dụng một kiểu cấu trúc vĩ mô hai bậc không triệt để. Điều đáng chú ý là do quan niệm về tổ hợp từ cố định không rõ, nên các từ điển trước đây đã thu thập cả một số tổ hợp từ thật ra là tự do, chỉ vì đó là những tổ hợp thường gặp, thường dùng.

TĐTV, vừa chú ý đến đặc điểm của tiếng Việt, vừa chú ý đến tính tiện dùng (dễ tra cứu) của quyển từ điển, đã lấy từ, tổ hợp thành ngữ tính và yếu tố cấu tạo từ đang có khả năng sản sinh (như bất-, vô-, -viên,...) làm đơn vị bảng từ. Khái niệm “tổ hợp thành ngữ tính” được quan niệm khá rộng, ngoài tổ hợp từ cố định, còn bao gồm cả những đơn vị kiểu như: ...nảo ...nao (“đêm nảo đêm nao”), đâu đấy (“để lẫn đâu đấy”, “đâu đấy đều sẵn sàng”, “xếp đâu đấy cả rồi”), ...đâu ...đấy (“tính toán đâu ra đấy”, “bạ đâu ngồi đấy”), v.v; và những đơn vị có chức năng cú pháp - ngữ nghĩa đặc biệt, tạo ý nghĩa logic - tình thái của câu, như: biết đâu đấy (- Nó không lấy. - Biết đâu đấy!), thì ra (“Mọi người cười ầm lên: thì ra chưa ai ngủ”); ...gì mà ...thế (“Xa gì mà xa thế!”), v.v. Những đơn vị như vậy, các từ điển trước đây đều không chú ý, không thu thập và không giải thích. Với những yếu tố có nghĩa như ngắt, chỉ dùng hạn chế trong một số tổ hợp (xanh ngắt, lạnh ngắt, tím ngắt, nguội ngắt, tái ngắt, v.v..), cả yếu tố và nói chung các tổ hợp đều được thu thập thành những mục từ riêng. Những từ đồng âm cùng gốc, khá nhiều trong tiếng Việt, được gộp vào một đơn vị. Ngoài ra, TĐTV còn thu thập dạng láy của từ, từ viết tắt và con chữ - kí hiệu. Đối với một từ điển tường giải tiếng Việt cỡ vừa - nhỏ như TĐTV, một cấu trúc vĩ mô như trên có thể coi là hợp lí. Tuy nhiên, có sự thiếu nhất quán, do có những vấn đề giải quyết thiếu triệt để. Đáng lẽ không nên hạn chế việc thu thập tiếng - hình vị ở một số ít yếu tố tạo từ đang có khả năng sản sinh. Trong tiếng Việt, hầu hết tiếng - hình vị là yếu tố Hán-Việt, chúng có một vị trí quan trọng trong hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa, không những là thành tố của phần lớn từ đa tiết hiện có, mà còn là yếu tố cấu tạo từ có tiềm năng lớn để tạo ra những từ mới, không chỉ trong khoa học, mà cả trong đời sống hằng ngày. Nắm nghĩa yếu tố Hán-Việt giúp ích nhiều cho việc hiểu chính xác nghĩa từ trong nhiều trường hợp, đặc biệt cho việc hiểu chính xác nghĩa của một số từ mới sáng tạo mà các từ điển chưa kịp thu thập, cũng như giúp cho hoạt động tạo từ đáp ứng nhu cầu mới nảy sinh có cơ sở hơn. Mặt khác, việc thu thập các dạng từ viết tắt cũng như các con chữ - kí hiệu cũng không triệt để, thiếu sót này trong lần tái bản (1992) có được bổ khuyết phần nào (như thu thập các kí hiệu hoá học của các nguyên tố).

Về các lớp từ, TĐTV có chú ý thu thập từ ngữ phương ngữ và thuật ngữ khoa học các ngành. Việc thu thập (cũng như định nghĩa) thuật ngữ các ngành đã dựa vào các tiểu ban chuyên môn gồm một số chuyên gia đầu ngành, nên nói chung đã làm được tốt, khắc phục được một khó khăn ở nước ta là chưa có từ điển bách khoa, cũng chưa có đầy đủ từ điển chuyên môn các ngành để tham khảo. Việc thu thập từ ngữ phương ngữ dựa vào phiếu từ điển, lấy tư liệu chủ yếu ở những sách báo xuất bản ở miền Bắc những năm 50, 60, trong hoàn cảnh đất nước chưa thống nhất, nên việc thu thập từ ngữ phương ngữ miền Nam có hạn chế nhất định. Thiếu sót này cần được bổ khuyết.

TĐTV không thu thập tên riêng (không kể tên các thiên thể). Ở nước ta cho đến nay chưa có từ điển tên riêng, và trong các từ điển tiếng Việt thiếu các tên riêng (Việt Nam và thế giới) được thu thập một cách có hệ thống, đó là một thiếu sót cần sớm được bổ khuyết. Dĩ nhiên việc này đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng, cả về thời gian.

Cấu trúc vĩ mô của nhiều từ điển tường giải các nước còn bao gồm những bảng, ảnh, hình vẽ, hoặc bố trí xen kẽ trong bảng từ, hoặc làm thành phụ lục. Bảng, ảnh, hình vẽ cung cấp một số thông tin bổ sung, giúp cho việc hiểu nghĩa từ ngữ đầy đủ, cụ thể, chính xác hơn hoặc một cách có hệ thống hơn. Chúng ta cũng nên có những từ điển tường giải tiếng Việt có bảng, ảnh, tranh vẽ.

4. Vấn đề cấu trúc vi mô của từ điển

Cũng như cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô của từ điển phụ thuộc vào loại, cỡ, mục đích, yêu cầu, đối tượng của quyển từ điển. Mục từ cung cấp tri thức về từng đơn vị của bảng từ, qua giải thích nghĩa và những chú thích về chính tả, ngữ âm, ngữ pháp, từ nguyên, phạm vi sử dụng, khả năng tổ hợp, v.v. của từ ngữ, những chú thích về quan hệ của từ ngữ trong hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa (quan hệ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, v.v.), và qua những thí dụ minh hoạ. Những tri thức này tuỳ từng ngôn ngữ có thể có yêu cầu khác nhau, nên cấu trúc vi mô của từ điển cũng có mặt phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi ngôn ngữ.

Chữ viết của tiếng Việt là chữ ghi âm tương đối hợp lí, ở cấp độ âm tiết có sự tương ứng một đối một giữa âm và chữ, nên trong từ điển tiếng Việt không cần có chú thích về ngữ âm. Về ngữ pháp, vì khái niệm từ, ranh giới từ, từ loại trong tiếng Việt đều là những vấn đề cực kì phức tạp, nên các từ điển tiếng Việt trước đây hoặc không chú từ loại, hoặc nếu có chú (các từ điển của Đào Văn Tập, Thanh Nghị, Văn Tân (chủ biên), Lê Văn Đức) thì chú một cách không có hệ thống. Căn cứ vào đặc điểm của tiếng Việt (rất khó xác định ranh giới của từ), TĐTV đã chú “từ loại” một cách rộng rãi, không chỉ cho những đơn vị rõ ràng là từ, với một khái niệm rộng nhất về từ, mà còn cho những tổ hợp từ cố định có chức năng cú pháp tương đương từ khi sử dụng trong câu. Mặt khác, khi có hiện tượng tạo từ theo lối chuyển từ loại mà nghĩa từ vựng về căn bản không thay đổi, thì không tách thêm một đơn vị đồng âm, mà dùng lối chú thích đơn giản cả hai từ loại, kiểu: “d. (hoặc đg.)”. Những trường hợp đang có sự lưỡng lự giữa hai khả năng quy từ loại (thường là giữa động từ và tính từ), thì dùng lối chú thích cả hai khả năng, kiểu “đg. (hay t.)”.

Hiện tượng láy là một đặc điểm của tiếng Việt. Dạng láy của từ, trừ trường hợp lặp âm hoàn toàn một cách đơn giản (kiểu xanh xanh), được ghi chú ở cuối mục từ, kèm theo chú thích về sắc thái nghĩa (nêu ở dạng khái quát) của dạng láy.

Phần quan trọng nhất, hạt nhân của cấu trúc vi mô, là phần giải thích nghĩa. Khi tách các nghĩa của một đơn vị đa nghĩa, cũng như khi giải thích nghĩa, TĐTV chú ý đến những quan hệ ngữ nghĩa có tính hệ thống trong từ vựng, cố gắng giải thích nghĩa theo cùng một kiểu, một mẫu thống nhất những từ ngữ thuộc cùng một lớp từ vựng (như: từ tượng thanh, hư từ, v.v.) và những trường hợp nghĩa của từ ngữ có cấu trúc giống nhau. Với trường hợp có hiện tượng chuyển nghĩa đều đặn (như: tên gọi cây đồng thời dùng để chỉ quả, củ, hoa, lá, gỗ, v.v., nói chung là những bộ phận của cây, hay sản phẩm thu được từ cây), TĐTV không tách thêm nghĩa.

Cũng như ở các từ điển tường giải tiếng Việt trước đây, cấu trúc vi mô ở TĐTV tương đối đơn giản. Theo kinh nghiệm từ điển các nước, chúng ta cần có những từ điển tường giải với cấu trúc vi mô phong phú hơn, cung cấp những thông tin bổ sung về từ nguyên, về từ đồng nghĩa, trái nghĩa, về phạm vi sử dụng của từ ngữ, v.v.

5. Vấn đề chuẩn ngôn ngữ

Tiếng Việt đang ở một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, do đòi hỏi của sự phát triển văn hoá, khoa học, kinh tế, xã hội của nước ta và do kết quả của giao lưu quốc tế, của tiếp xúc với ngôn ngữ các nước ngày càng mở rộng. Hằng ngày có nhiều hiện tượng mới nảy sinh, có những chuẩn mới hình thành bên cạnh những chuẩn cũ đã lỗi thời nhưng vẫn còn tồn tại. Trong khi đó, nước nhà thống nhất đòi hỏi một sự thống nhất cao hơn của tiếng Việt văn hoá, với một hệ thống chuẩn được xác định rõ ràng.

Từ điển, loại sách công cụ ngôn ngữ quan trọng nhất, có tác dụng lớn đối với chuẩn hoá ngôn ngữ. Từ điển phải phản ánh đầy đủ, trung thực trạng thái của ngôn ngữ ở vào một thời gian nhất định; nhưng không chỉ phản ánh cái tĩnh, mà điều không kém phần quan trọng là phản ánh cái động, cái xu thế phát triển.

TĐTV đã quán triệt quan điểm nói trên. Các từ ngữ phương ngữ mà trong tiếng Việt văn hoá có từ ngữ hoàn toàn tương đương, cũng như các biến thể phương ngữ của những từ ngữ tiếng Việt văn hoá đều được chú rõ là phương ngữ, định nghĩa đơn giản bằng từ ngữ tương đương của tiếng Việt văn hoá, hoặc chuyển chú sang từ ngữ tương đương ấy.

Về chính tả, có vấn đề -i/-y cuối âm tiết, sau h-, k-, l-, m-, t-, nhưng chỉ ở một số từ. TĐTV tán thành lối viết nhất quán bằng -i, đơn giản và hợp lí hơn, coi đó là dạng chính tả chuẩn, nhưng vẫn phản ánh lối viết bằng -y đang còn khá phổ biến.

Về chính tả, còn có vấn đề vị trí của dấu giọng trong một số vần: oa, oe, uê, uy. Nên đánh dấu giọng trên con chữ nào, trên o, u hay trên a, e, ê, y? Vấn đề này trước nay ít được quan tâm, vì thực tế khi viết, chỉ cần viết đúng dấu, đặc biệt là dấu hỏi/ngã, còn vị trí đặt ở đâu thì không ai chú ý. Và vì vậy nên khi đọc sách báo cũng không mấy người để ý. Ngay trong nhiều từ điển chính tả cũng vậy. Nhưng ngày nay với sự phát triển của công nghệ tin học, với việc sử dụng máy tính ngày càng phổ biến, ở đây cũng cần có sự chuẩn hoá. Giữa hai dạng chính tả đang tồn tại, nên tán thành dạng chính tả nào hợp lí hơn, tạo được một sự nhất quán cao hơn. Các vần oa, oe, uê, uy viết các âm tiết [wa], [w*], [we], [wi], dấu giọng đánh trên các con chữ nguyên âm (âm chính) a, e, ê, y (viết: hoả, quả, hoè, què, huệ, quệ, uỷ, quỷ, v.v.) là hợp lí (so sánh với các dạng chính tả: hỏa, qủa, hòe, qùe (nhưng lại không “hụê, qụê”); và so sánh qủa với của). TĐTV áp dụng dạng chính tả này một cách nhất quán.

Trong tiếng Việt có một vấn đề nổi lên từ nhiều năm nay, được nhiều người quan tâm, đã từng gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi, đến nay chưa có được sự nhất trí: chính tả của những tên riêng nước ngoài và của những từ ngữ có tính quốc tế, phần lớn là thuật ngữ khoa học - kĩ thuật, nhập vào tiếng Việt qua một tiếng nước ngoài, gần đây chủ yếu là qua tiếng Anh. TĐTV tán thành chủ trương gọi là “viết nguyên dạng”, tôn trọng đến mức tối đa dạng chính tả có tính quốc tế (đối với tên riêng nước ngoài thì đó là dạng chính tả bằng chữ cái Latin dùng phổ biến trong các ngôn ngữ chính trên thế giới); viết nguyên dạng như vậy đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hoá với các nước đang ngày một tăng, để có chính tả thống nhất và tạo ra được sự thống nhất với quốc tế. Trong những vấn đề ngôn ngữ như vấn đề này, thực tiễn, cuộc sống có tiếng nói quyết định. Mà thực tế mấy năm gần đây là chính tả “viết nguyên dạng” có xu thế ngày càng phổ biến rõ rệt, những lối viết phiên âm như “tê-lếch” (telex), “phắc” (fax), “vi-đê-ô” (video), “ao-xơ” (ounce), hoạ hoằn mới gặp trên sách báo. TĐTV giới thiệu dạng chính tả nguyên dạng, đồng thời vẫn thu thập đầy đủ, nhất là trong lần tái bản, các dạng chính tả phiên âm tương đối phổ biến. Trong các dạng chính tả nguyên dạng cũng như phiên âm, dùng thêm các con chữ f, j, w, z, vốn không có trong bảng chữ cái của chữ quốc ngữ, nhưng đã được dùng quen trên sách báo.

TĐTV thực hiện lối viết liền các âm tiết đối với những từ đa tiết mượn của tiếng nước ngoài bằng phiên âm chưa được Việt hoá. Việc này coi như một thử nghiệm. Thật ra đây là một cải tiến chính tả, nó có sự hợp lí, nhưng cũng tạo ra một số khó khăn nhất định, ít nhất là trong buổi đầu. Cuối cùng tiện hay không tiện, nên hay không nên, thực tiễn sẽ trả lời. 6. Dựa trên cơ sở lí luận từ điển học và vào đặc điểm của tiếng Việt, TĐTV đã cố gắng giải quyết một loạt vấn đề. Có vấn đề giải quyết còn thiếu triệt để, có vấn đề cần được nghiên cứu tiếp tục. Và cũng có vấn đề có thể sẽ phải đặt lại.

Các loại từ điển khác lại có những vấn đề khác. Thí dụ các từ điển song ngữ. Không thể nghĩ đơn giản rằng chỉ cần giỏi ngoại ngữ là có thể biên soạn tốt từ điển song ngữ; hoặc chỉ cần chọn dịch một từ điển tiếng nước ngoài tốt là có thể có ngay một từ điển song ngữ tốt. Biên soạn từ điển là một công tác khoa học. Nó đòi hỏi phải có một sự nghiên cứu nhất định. Qua thực tiễn biên soạn các loại từ điển, nếu việc này được tiến hành nghiêm túc, chúng ta sẽ dần dần xây dựng ngành từ điển học ở nước ta. Nhưng mặt khác cũng phải đồng thời tiến hành nghiên cứu một số chuyên đề từ điển học. Cho đến nay chúng ta chưa xây dựng được một giáo trình từ điển học và cũng chưa tổng kết kinh nghiệm công tác từ điển ở nước ta, đó là một sự chậm trễ đáng tiếc.

Quá trình biên soạn từ điển phải đồng thời là một quá trình đào tạo chuyên gia và kĩ thuật viên từ điển học. Biên soạn từ điển đòi hỏi phải có kiến thức ngôn ngữ học, kiến thức chuyên môn về từ điển học, những hiểu biết có hệ thống về ngôn ngữ, những kiến thức rộng về văn hoá và cả một vốn sống nhất định nữa. Đào tạo một chuyên gia từ điển học không phải là việc một vài năm. Cho nên cán bộ từ điển cần được chuyên môn hoá. Và cũng cần chuyên môn hoá để đào tạo kĩ thuật viên từ điển học. Thời gian qua chúng ta đã không nhận thức vấn đề này một cách đầy đủ, và đây là một thiếu sót lớn.

Đã từ vài ba chục năm nay, công tác từ điển ở các nước phát triển ứng dụng công nghệ điện toán, sử dụng rộng rãi máy tính điện tử, thực hiện việc tự động hoá hoàn toàn hoặc một phần tất cả các khâu, từ thu thập và xử lí tư liệu đến soạn thảo, in ấn, nhờ vậy không những đã rút ngắn được rất nhiều thời gian, mà còn nâng cao được đáng kể chất lượng biên soạn và in ấn. Ngày nay từ điển không chỉ xuất bản thành sách, mà còn ở dạng đĩa máy tính; một bộ từ điển cỡ rất lớn, như bộ The Oxford English Dictionary 13 tập nổi tiếng, có thể thu gọn vào trong một đĩa compact có khả năng chỉ trong ít phút cung cấp những thông tin tổng hợp phức tạp theo yêu cầu. Không nên nghĩ rằng đối với ta đó là những chuyện xa vời. Chúng ta lạc hậu thì phải biết nhanh chóng tiếp thu những cái hiện đại nhất để tiến vượt lên, chuẩn bị trước cho ngày mai, nếu không thì mãi mãi vẫn cứ phải lạc hậu. Cần mạnh dạn đầu tư vào việc hiện đại hoá, máy tính hoá công tác từ điển học của chúng ta.

Để có cơ sở cho việc biên soạn các loại từ điển, có hai việc cụ thể lớn phải làm: xây dựng ngân hàng dữ liệu tiếng Việt và biên soạn một từ điển tường giải tiếng Việt cỡ lớn. Một ngân hàng dữ liệu tiếng Việt xây dựng bằng máy tính sẽ phong phú hơn gấp bội, bảo đảm tính chính xác của tư liệu, cung cấp nhiều thông tin và đáp ứng nhiều yêu cầu tìm tòi, nghiên cứu hơn gấp nhiều lần kho tư liệu ba triệu phiếu từ điển chúng ta hiện có. Những dữ liệu của nó lại dễ bảo quản, có thể nhân bản tuỳ ý, có thể được xử lí theo yêu cầu một cách cực kì nhanh chóng. Nó là cơ sở tư liệu cần thiết cho việc biên soạn quyển từ điển tiếng Việt lớn. Đáng tiếc là do thiếu nhìn xa, sau khi hoàn thành việc biên soạn quyển TĐTV, chúng ta đã không bắt đầu chuẩn bị cho công trình khoa học lớn này, bỏ phí mất 7 - 8 năm.

Chúng ta đang đứng trước nhu cầu về từ điển các loại ngày càng tăng của xã hội. Cũng tức là đứng trước nhiệm vụ nặng nề đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu đó. Không phải chỉ biên soạn một vài quyển từ điển, theo nhu cầu trước mắt của thị trường, mà cần có cái nhìn toàn diện, với một kế hoạch nhiều năm và những dự kiến cho một tương lai tương đối lâu dài.

Thực hiện những việc đề ra trên đây, cần một tổ chức thích hợp. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, cần có những trung tâm biên soạn và xuất bản từ điển, những trung tâm từ điển học. Trên thế giới, có những trung tâm như vậy tồn tại từ trên dưới một thế kỉ nay, mỗi trung tâm có truyền thống riêng của mình, như nhà xuất bản Larousse ở nước Pháp, nổi tiếng với các từ điển đủ loại, đủ cỡ xuất bản và tái bản liên tục từ trên một thế kỉ nay.

1993

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Rey-Debove J. Etude linguistique et sémiotique des dictionnaires français contemporains. La Haye - P. 1971.

[2] Zgusta L. Manual of Lexicography. The Hague - Prague, 1971.

[3] Huình Tịnh Paulus Của. Đại Nam quấc âm tự vị. S., 1895.

[4] Hội Khai trí Tiến đức (khởi thảo). Việt Nam tự điển. H., 1931; tái bản, S. -H., 1954. [5] Đào Văn Tập. Tự điển Việt Nam phổ thông. S., 1951.

[6] Thanh Nghị. Việt Nam tân tự điển. S., 1952; tái bản, S., 1991.

[7] Văn Tân (chủ biên). Từ điển tiếng Việt. H. 1967; tái bản, có sửa chữa, bổ sung, H., 1977, 1991.

[8] Lê Văn Đức. Việt Nam tự điển. S., 1970.

[9] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt phổ thông, tập I. H. 1973.

[10] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt. H., 1988; tái bản có sửa chữa, bổ sung, H., 1992.

[11] Bùi Đình Mỹ. Vấn đề lượng thông tin của từ điển ngữ văn. “Ngôn ngữ”, 1991, s. 2.

[12] Bùi Khắc Việt. Một số kinh nghiệm biên soạn từ điển ngôn ngữ ở các nước xã hội chủ nghĩa. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2.

[13] Đặng Chấn Liêu. Vài kinh nghiệm làm từ điển hai thứ tiếng. “Ngôn ngữ”, 1977, s. 3.

[14] Đỗ Hữu Châu. Một số ý kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong từ điển tiếng Việt. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2.

[15] Đỗ Hữu Châu. Điểm sách: Đọc “Từ điển tiếng Việt phổ thông”, tập I. “Ngôn ngữ”, 1977, s. 3.

[16] Hoàng Phê. Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2.

[17] Hồng Dân. Vấn đề miêu tả từ hư trong việc biên soạn từ điển giải thích. “Ngôn ngữ”, 1971, s. 1.

[18] Nguyễn Quang. Việc chọn và giải thích từ ngữ miền Nam trong một quyển từ điển tiếng Việt loại phổ thông. “Ngôn ngữ”, 1971, s. 4.

[19] Nguyễn Văn Tu. Về việc giải thích từ nhiều nghĩa trong từ điển tiếng Việt. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2.

[20] Vương Lộc. Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2.

 

 

Bài đăng trước:

  • Thị trường từ điển: Quá nhiều lộn xộn
  • Vì sự phát âm cho trúng
  • Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ quốc ngữ và phải viết cho đúng?
  • Những tiếng xưa dùng mà nay không dùng nữa
  • Hai dấu hỏi ngã cũng cần phải phân biệt