Ngôn ngữ học
| Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt) | |
| GS HOÀNG PHÊ, PGS NGUYỄN NGỌC TRÂM | |
1. Những năm gần đây, ở nước ta có tình hình rất nhiều từ điển đủ các loại hằng năm được xuất bản, từ điển đơn ngữ (tiếng Việt) cũng như từ điển song ngữ, từ điển ngữ văn cũng như từ điển có tính bách khoa. Theo thống kê chưa đầy đủ, chủ yếu dựa vào thư mục của Thư viện Quốc gia, trong tổng số 447 quyển từ điển đã xuất bản ở nước ta từ xưa đến nay, có 239 quyển (trên 53%) đã được xuất bản từ sau 1975, bao gồm: 35 quyển từ điển tiếng Việt các loại, 64 quyển từ điển ngữ văn song ngữ, 78 quyển từ điển thuật ngữ đối chiếu và 62 quyển từ điển chuyên môn các ngành.
2. Từ điển học ngày nay đã trở thành một bộ môn ngôn ngữ học ứng dụng quan trọng. Do việc biên soạn và xuất bản từ điển phát triển rất mạnh từ trên một thế kỉ nay, từ điển đã trở thành loại sách có số lượng phát hành lớn nhất ở nhiều nước (riêng ở nước Mĩ, mỗi năm phát hành trung bình 10 triệu cuốn từ điển đủ các loại), nên công tác từ điển học đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm. Sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học mấy thập kỉ gần đây, đặc biệt những thành tựu đã đạt được trong nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa, đã tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở lí luận từ điển học hiện đại. Việc ứng dụng kĩ thuật điện toán, sử dụng rộng rãi máy tính đã tạo một bước phát triển mới của từ điển học. 3. Vấn đề cấu trúc vĩ mô của từ điển
Vấn đề đầu tiên phải giải quyết khi tiến hành biên soạn một quyển từ điển là lập bảng từ, tức là danh sách các mục từ, gồm những đơn vị ngôn ngữ, thường là từ, nhưng cũng có thể là đơn vị nhỏ hơn hoặc lớn hơn từ, được tuyển chọn theo mục đích, yêu cầu, tính chất của quyển từ điển và sắp xếp theo một thứ tự nhất định, thường là theo thứ tự chữ cái (nếu là ngôn ngữ có chữ viết ghi âm bằng chữ cái), tạo thành một cấu trúc chặt chẽ. Đây là cấu trúc có những quan hệ dọc, suốt từ đầu đến cuối quyển từ điển, nên được gọi là cấu trúc vĩ mô, theo thuật ngữ của Rey - Debove (1971), phân biệt với cấu trúc vi mô, cấu trúc của các mục từ, có những quan hệ ngang. 4. Vấn đề cấu trúc vi mô của từ điển
Cũng như cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô của từ điển phụ thuộc vào loại, cỡ, mục đích, yêu cầu, đối tượng của quyển từ điển. Mục từ cung cấp tri thức về từng đơn vị của bảng từ, qua giải thích nghĩa và những chú thích về chính tả, ngữ âm, ngữ pháp, từ nguyên, phạm vi sử dụng, khả năng tổ hợp, v.v. của từ ngữ, những chú thích về quan hệ của từ ngữ trong hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa (quan hệ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, v.v.), và qua những thí dụ minh hoạ. Những tri thức này tuỳ từng ngôn ngữ có thể có yêu cầu khác nhau, nên cấu trúc vi mô của từ điển cũng có mặt phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi ngôn ngữ. 5. Vấn đề chuẩn ngôn ngữ
Tiếng Việt đang ở một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, do đòi hỏi của sự phát triển văn hoá, khoa học, kinh tế, xã hội của nước ta và do kết quả của giao lưu quốc tế, của tiếp xúc với ngôn ngữ các nước ngày càng mở rộng. Hằng ngày có nhiều hiện tượng mới nảy sinh, có những chuẩn mới hình thành bên cạnh những chuẩn cũ đã lỗi thời nhưng vẫn còn tồn tại. Trong khi đó, nước nhà thống nhất đòi hỏi một sự thống nhất cao hơn của tiếng Việt văn hoá, với một hệ thống chuẩn được xác định rõ ràng. 1993 TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH [1] Rey-Debove J. Etude linguistique et sémiotique des dictionnaires français contemporains. La Haye - P. 1971. [2] Zgusta L. Manual of Lexicography. The Hague - Prague, 1971. [3] Huình Tịnh Paulus Của. Đại Nam quấc âm tự vị. S., 1895. [4] Hội Khai trí Tiến đức (khởi thảo). Việt Nam tự điển. H., 1931; tái bản, S. -H., 1954. [5] Đào Văn Tập. Tự điển Việt Nam phổ thông. S., 1951. [6] Thanh Nghị. Việt Nam tân tự điển. S., 1952; tái bản, S., 1991. [7] Văn Tân (chủ biên). Từ điển tiếng Việt. H. 1967; tái bản, có sửa chữa, bổ sung, H., 1977, 1991. [8] Lê Văn Đức. Việt Nam tự điển. S., 1970. [9] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt phổ thông, tập I. H. 1973. [10] Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt. H., 1988; tái bản có sửa chữa, bổ sung, H., 1992. [11] Bùi Đình Mỹ. Vấn đề lượng thông tin của từ điển ngữ văn. “Ngôn ngữ”, 1991, s. 2. [12] Bùi Khắc Việt. Một số kinh nghiệm biên soạn từ điển ngôn ngữ ở các nước xã hội chủ nghĩa. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2. [13] Đặng Chấn Liêu. Vài kinh nghiệm làm từ điển hai thứ tiếng. “Ngôn ngữ”, 1977, s. 3. [14] Đỗ Hữu Châu. Một số ý kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong từ điển tiếng Việt. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2. [15] Đỗ Hữu Châu. Điểm sách: Đọc “Từ điển tiếng Việt phổ thông”, tập I. “Ngôn ngữ”, 1977, s. 3. [16] Hoàng Phê. Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt mới. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2. [17] Hồng Dân. Vấn đề miêu tả từ hư trong việc biên soạn từ điển giải thích. “Ngôn ngữ”, 1971, s. 1. [18] Nguyễn Quang. Việc chọn và giải thích từ ngữ miền Nam trong một quyển từ điển tiếng Việt loại phổ thông. “Ngôn ngữ”, 1971, s. 4. [19] Nguyễn Văn Tu. Về việc giải thích từ nhiều nghĩa trong từ điển tiếng Việt. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2. [20] Vương Lộc. Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta. “Ngôn ngữ”, 1969, s. 2. | |
Bài đăng trước:
