Ngôn ngữ học

Chuẩn của tiếng Việt văn hoá
     

GS HOÀNG PHÊ

1. Trên sách báo, chúng ta không dùng ngôn ngữ ở dạng tồn tại tự nhiên, mà ở dạng có tác động có ý thức của con người để đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hoá, xây dựng và phát triển văn hoá, hiểu văn hoá với nghĩa rộng. Tức là chúng ta sử dụng ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ văn hoá, chúng ta sử dụng tiếng Việt văn hoá. Nói trau dồi tiếng Việt, chuẩn hoá tiếng Việt, thì phải ngầm hiểu rằng đây là tiếng Việt văn hoá.

Trong đời sống thường ngày, chúng ta dùng ngôn ngữ ở dạng tồn tại tự nhiên, gọi là ngôn ngữ dân gian. Ngôn ngữ dân gian được học tập trực tiếp trong đời sống thường ngày, qua thực tiễn nói năng, và được sử dụng một cách hoàn toàn tự nhiên, người nói không hề băn khoăn về đúng – sai về mặt ngôn ngữ, về chuẩn – không chuẩn. Nhưng ngôn ngữ văn hoá thì phải học tập ở nhà trường và phải luôn luôn trau dồi. Người sử dụng ngôn ngữ văn hoá luôn luôn đứng trước vấn đề chuẩn – không chuẩn, vì chuẩn là khái niệm trung tâm của ngôn ngữ văn hoá. B. Havránek đã nói rất đúng: “Chuẩn của ngôn ngữ văn hoá được xây dựng, hình thành và phát triển nhờ có sự can thiệp của lí thuyết ngôn ngữ và phi ngôn ngữ”. Muốn sự can thiệp này được đúng đắn, cần có sự nghiên cứu nghiêm túc, nhận thức ngôn ngữ văn hoá không phải trong sự tĩnh tại, mà trong sự phát triển; không chỉ quan sát ở nó cái đã hình thành, mà còn quan sát cái đang hình thành, không nghiên cứu nó một cách cô lập, mà nghiên cứu nó trong những quan hệ không thể tách rời với ngôn ngữ dân gian để thấy rõ những quy luật nội tại của nó với tư cách là một ngôn ngữ tự nhiên và mặt khác trong những chức năng xã hội – văn hoá của nó để thấy rõ những yêu cầu của xã hội, của thời đại đối với nó với tư cách là một ngôn ngữ - công cụ văn hoá. Phải có những nhận thức đúng đắn để đấu tranh chống những nhận thức sai lầm, những điều mà F. de Saussure đã từng gọi là “những ý kiến kì quặc”, “những định kiến”, “những ảo giác”, “những hư cấu” trong lĩnh vực ngôn ngữ, đồng thời ủng hộ những nhân tố mới, những chuẩn mới có giá trị tích cực, góp phần làm cho những chuẩn mới đó sớm được xác định.

2. Chuẩn của ngôn ngữ văn hoá là một khái niệm phức tạp. Nó là kết quả của một sự đánh giá lựa chọn của xã hội đã có sự nhất trí ở một mức nhất định. Sự nhất trí này nhiều khi không dễ dàng, bởi vì có thể có những yêu cầu và quan điểm khác nhau, có khi mâu thuẫn với nhau, trái ngược nhau.

Ngôn ngữ văn hoá đáp ứng những nhu cầu của đời sống văn hoá. Những nhu cầu này rất đa dạng, có yêu cầu của những lĩnh vực hoạt động khác nhau, yêu cầu của những lớp người khác nhau về nghề nghiệp, kiến thức, trình độ văn hoá. Có yêu cầu trước đây là quan trọng, nay đã trở thành thứ yếu, và trái lại, có yêu cầu trước đây là thứ yếu, thậm chí không có, nay là quan trọng và ngày càng quan trọng. Cho nên yêu cầu đối với hệ thống chuẩn của một ngôn ngữ văn hoá có khác nhau khi ngôn ngữ văn hoá chỉ được dùng chủ yếu trong sáng tác văn học với khi nó đồng thời còn được dùng ngày càng nhiều trong nghiên cứu và phổ cập khoa học; có khác nhau trước với sau khi giáo dục phổ thông phát triển, các phương tiện media (báo chí, radio, tivi) phát triển, tin học phát triển, giao lưu văn hoá giữa các nước phát triển; có khác nhau khi mỗi dân tộc có thể tồn tại độc lập với các dân tộc khác, bế quan toả cảng, với khi giao lưu quốc tế, hội nhập với thế giới là điều kiện sống còn của mọi dân tộc. Khi giữa các yêu cầu có mâu thuẫn, thì không thể đồng thời đáp ứng mọi yêu cầu, mà chỉ có thể chọn giải pháp tối ưu, đáp ứng những yêu cầu chủ yếu, cơ bản, và không chỉ đáp ứng những yêu cầu trước mắt mà còn chú ý đáp ứng những yêu cầu lâu dài, những yêu cầu đang ngày một quan trọng, nhìn cái hướng tiến lên. Mặt khác, cũng nên tránh một sự chuẩn hoá cứng nhắc, tuyệt đối. Chuẩn là kết quả của một sự lựa chọn, nhưng nó không loại trừ sự lựa chọn. Chuẩn không loại trừ hoàn toàn sự vi phạm chuẩn, lắm khi chuẩn cũ và chuẩn mới song song tồn tại trong một thời gian, có hiện tượng gọi là “lưỡng khả”. Mà chuẩn mới được hình thành thường chính là từ một sự vi phạm chuẩn hiện có một cách có cân nhắc, có ý thức. Vì vậy khi đang có nhiều ý kiến khác nhau thì không nên xác định chuẩn một cách vội vàng, chỉ dựa trên cảm tính, trên một tình cảm hoặc một định kiến nào đó, chứ không phải dựa trên kết quả của một sự nghiên cứu khoa học nghiêm túc, trên cơ sở thực tiễn đầy đủ.

3. Một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi trong ngót hai mươi năm nay và được nhiều người quan tâm, là cách viết tên riêng tiếng nước ngoài (1) và cách viết một số từ, phần lớn là thuật ngữ khoa học, kĩ thuật, ít nhiều có tính chất quốc tế.

a. Có hai quan điểm đối lập: chủ trương lấy âm là chính, dựa vào phát âm ở tiếng nước ngoài mà phiên âm; hoặc chủ trương lấy chữ viết là chính, tôn trọng đến mức tối đa dạng chính tả ở tiếng nước ngoài.

Đúng là tiếng nói có trước, chữ viết có sau, nhưng phải sau khi có chữ viết thì mới thực sự có ngôn ngữ văn hoá. Với ngôn ngữ văn hoá thì chữ viết là chính, chứ không phải phát âm. Phát âm có thể thay đổi, nhưng chữ viết vẫn có thể giữ nguyên thế kỉ này sang thế kỉ khác. Phát âm có thể khác nhau, nhưng viết thì phải thống nhất. Chúng ta phát âm tiếng Việt không thống nhất, Nguyễn Trãi chẳng hạn, miền Bắc, miền Nam, nhiều tỉnh miền Trung, mỗi nơi phát âm một khác. Thử hình dung nếu dựa trên phát âm, sách báo miền Bắc viết Nguyễn Chãi, sách báo miền Nam viết Nguyểng Trải, thì còn gì là tiếng Việt văn hoá? Với các ngôn ngữ khác cũng vậy, yêu cầu thống nhất chính tả là chính. Và trên phạm vi quốc tế, ở thời đại ngày nay, cũng có yêu cầu nhất trí hoá tối đa cách viết tên riêng (nhân danh, địa danh) ở dạng chính tả bằng chữ cái Latin. Từ ba mươi năm nay, Liên Hợp Quốc đã thành lập những tổ chức gọi là nhóm chuyên gia về địa danh cho toàn thế giới và cho từng khu vực địa lí – ngôn ngữ lớn, đã có nhiều hội nghị quốc tế về vấn đề nhất trí hoá tối đa cách viết bằng chữ cái Latin địa danh của tất cả các nước. Chúng ta có một thuận lợi rất lớn là chữ Việt dùng chữ cái Latin. Đã là tên riêng thì không thể có sự tuỳ tiện thay đổi cách viết, mà phải tôn trọng chính tả, dù chính tả có gì đó “không bình thường”, như Nguỵ Như Kontum, Hồ Dzếnh. Đã là tên riêng thì không có vấn đề gọi là “dân tộc hoá”, cho nên tên riêng (nhân danh, địa danh) của chúng ta chẳng hạn, các ngôn ngữ có chữ viết bằng chữ cái Latin trên thế giới thảy đều ghi như trong tiếng Việt, chỉ bỏ dấu gạch trên chữ Đ và các dấu thanh. Giả dụ không phải thế, mà lại có đủ các dạng gọi là “Pháp hoá”, “Anh hoá”, “Đức hoá”, v.v., rất khác nhau và rất khác với trong tiếng Việt, có khi làm cho tên riêng của mình mà chúng ta cũng không nhận ra được nữa, thì chắc là chúng ta khó chấp nhận, thấy khó chịu, và sẽ gây cho chúng ta lắm sự phiền phức (chẳng hạn trong giao dịch), vậy không có lí nào chúng ta lại đặt vấn đề phải phiên âm để “Việt hoá” tên riêng nước ngoài. Ngay trong nước ta, bên cạnh tiếng Việt, còn có ngôn ngữ các dân tộc thiểu số anh em, chúng ta cũng phải tôn trọng cách viết tên riêng của các ngôn ngữ này, không thể có vấn đề gọi là “Việt hoá”. Gần đây, Thông báo “Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khoá X” vừa qua của Hội đồng bầu cử ghi tên các địa phương Đăk Lăk, Đăk Glei, Pleiku, ..., và công bố tên một số vị trúng cử: Kbang, Chư Păk, Ayun Pa, Anũk, v.v., phản ánh một quan điểm đúng đắn về vấn đề này.

b. Giải quyết vấn đề viết tên riêng tiếng nước ngoài, chúng ta đứng trước nhiều yêu cầu khác nhau, nhưng có một yêu cầu chủ yếu, cơ bản, nhất thiết phải đáp ứng: đó là bảo đảm một sự thống nhất trong tiếng Việtmột sự nhất trí tối đa với quốc tế. Hai yêu cầu này chỉ có thể đạt được trên văn tự, bằng giải pháp tôn trọng tới mức tối đa chính tả của tên riêng trong nguyên ngữ, đối với các ngôn ngữ có chữ viết bằng chữ cái Latin, và với dạng chính tả bằng chữ cái Latin dùng thống nhất trên quốc tế, đối với các ngôn ngữ khác. Mong muốn có một sự nhất trí nào đó về phát âm với nguyên ngữ chỉ là một ảo tưởng. Bằng giải pháp phiên âm chỉ đưa đến kết quả gây sự hỗn loạn. Thực tế là trong rất nhiều trường hợp, khó biết được đích xác cái gì là “phát âm trong nguyên ngữ”, ngay đối với những ngôn ngữ quen thuộc. Tiếng Anh đã phải có từ điển riêng hướng dẫn cách phát âm các nhân danh tiếng Anh. Thường ngày chúng ta lại tiếp xúc với nhiều tên riêng mới lạ, báo thì phải đưa tin cho kịp thời, không biết trong nguyên ngữ phát âm như thế nào cũng phải nhanh chóng tạo ra một lối viết phiên âm trong tiếng Việt. Rốt cuộc, mỗi người phiên âm một cách. Reagan, một thời báo này viết Ri-gân, báo kia viết Rê-gân, có từ điển lại viết phiên âm Ri-gơn, vậy biết thế nào là “đúng”? Tra từ điển Mĩ, lại thấy chú âm “rê-gơn”! Victo Hugo, trên báo Văn nghệ có lần có người phiên âm đúng với phát âm trong tiếng Pháp Uy-gô, đã bị phê phán là phiên âm sai (vì nghĩ phải là Huy-gô mới đúng!). Còn nhớ cách đây 15 năm, trong thời gian Ban chấp hành Hội nhà văn Á - Phi họp ở Hà Nội, chỉ trong vòng một tuần lễ mà nhà văn Faiz Admad Faiz đã thấy mình có đến sáu tên phiên âm sang tiếng Việt, ba tên khác nhau trên báo Văn Nghệ và ba tên khác nữa trên báo Nhân Dân (Faiz chẳng hạn đã được ghi thành Pha-ít, Pha-i-dơ, Phết)! Ghi Faiz thì dĩ nhiên là khó đọc, và mấy ai biết bản thân ông Faiz Admad Faiz phát âm tên mình như thế nào, nhưng ta có phát âm “pha-it”, “phêt”, “pha-i-dơ” thì cũng không sao, miễn là tên người ta chúng ta tôn trọng và viết cho đúng. Tên nhà cách mạng Pháp trong Cách mạng Pháp 1789 Robespierre, các từ điển tiếng Anh thường chú phát âm “rôp-spia, rôp-spi-e, rô-be-spi-e” (rôp-spia là đọc theo kiểu Shakespeare, phát âm “sêch-xpia”, còn rô-be-spi-e là phát âm trong tiếng Pháp). Bắc Kinh, tiếng Anh, tiếng Pháp vốn viết Peking, Pékin, nhưng gần đây khi Trung Quốc chính thức ghi phiên âm Bắc Kinh bằng chữ cái Latin là Beijing (viết như vậy người Trung Quốc đọc là “pậy ching”), thì ngay sau đó tiếng Anh, tiếng Pháp cũng đều chuyển sang viết Beijing cho có sự nhất trí, và các từ điển tiếng Anh, tiếng Pháp đều chú âm là “bây jinh”, đọc theo kiểu tiếng Anh, tiếng Pháp, không câu nệ; một số quyển từ điển có ghi chú thêm: “đọc theo tiếng Hán pây ching”); có nghĩa là viết thì phải viết thống nhất Beijing, còn phát âm có thể tuỳ, “bây jing”, “pây ching” đều được. Tên nhà văn Somerset Maugham, có sách báo viết nguyên dạng, có sách báo phiên âm Xo-mơ-xét Môm, người không biết có thể nghĩ là hai người khác nhau. Thật ra, viết Somerset Maugham, có lẽ nhiều người sẽ đọc là “xo-mơ-xét mao-gam”, nhưng cũng chẳng sao, cũng như Nguyễn Du, tiếng Anh, tiếng Pháp viết Nguyen Du, nhiều người nước ngoài đọc là “guen đu”, “guen đuy” mà không chút gì thắc mắc vậy.

Có thể có điều băn khoăn: viết nguyên dạng tên riêng tiếng nước ngoài có gây khó khăn cho đông đảo những người có trình độ văn hoá thấp hay không? Khó khăn này là có thật. Nhưng nó không ghê gớm lắm như chúng ta tưởng. Thực tế là từ nhiều năm nay trên sách báo nhan nhản những kiểu viết rất xa lạ với tiếng Việt, như UNICEF, Sea Games, nhưng không hề nghe có ai phàn nàn. Ngày nay, trong cuộc sống hằng ngày người dân bình thường cũng thường xuyên tiếp xúc với hàng loạt tên riêng nước ngoài, qua sách báo, tivi, radio, qua cả một số đồ dùng thường ngày, và nhiều người ít học cũng làm quen rất nhanh với những tên như Honda, Dream, v.v. Nhưng cái chính ở đây là đối với những người năm thì mười hoạ đọc sách báo gặp cái tên riêng Somerset Maugham, không biết là ai, không để ý, đọc rồi cũng dễ dàng quên đi, thì tên riêng đó viết như thế nào không có gì là quan trọng, còn đối với những người biết rõ, hoặc muốn biết, cần biết Somerset Maugham là ai, thì tên riêng này viết như thế nào trong tiếng Việt và như thế nào trong sách báo tiếng Anh và sách báo nước ngoài nói chung là một vấn đề không thể không quan tâm. Không thể coi trọng cái gọi là “yêu cầu” của những người thật ra không yêu cầu gì, và coi thường, hi sinh yêu cầu chính đáng của những người thật sự có yêu cầu, những người thường xuyên sử dụng tiếng Việt văn hoá.

c. Vấn đề chính tả của thuật ngữ khoa học, kĩ thuật ít nhiều có tính chất quốc tế có mặt phức tạp hơn. Để diễn đạt cùng một khái niệm khoa học, các ngôn ngữ có thể dùng những thuật ngữ khác nhau. Nhưng đồng thời, cũng đã hình thành một mảng những thuật ngữ có tính quốc tế, có dạng chính tả bằng chữ cái Latin thống nhất hoặc căn bản thống nhất trong các ngôn ngữ. Đây là một sự tiến bộ. Nhiều thuật ngữ mới trong mấy chục năm lại đây ngay sau khi được đặt ra đã được dùng thống nhất trong nhiều ngôn ngữ và có tính quốc tế. Tiếng Việt không nên là một ngôn ngữ tự đặt mình ra ngoài cái xu thế chung đó.

4. Những vấn đề vừa nêu trên đây chắc rằng trong cuộc hội thảo này cũng được đề cập đến. Ý kiến chưa dễ nhất trí. Những ý kiến tôi vừa trình bày thật ra cũng không có gì mới. Và tôi nghĩ rằng những ý kiến trái lại cũng khó có gì mới. Đã có quá nhiều cuộc tranh luận. Có thể nghĩ rằng: bàn đi bàn lại mãi rồi, không nên để tình trạng này kéo dài, Nhà nước nên sớm có một quy định. Dĩ nhiên, đó là cách giải quyết đơn giản nhất. Đơn giản, nhưng có thể không ổn. Vấn đề ngôn ngữ này không phải là một vấn đề nhỏ, giải quyết đúng hay sai sẽ có tác dụng đến nhiều mặt hoạt động của chúng ta, không chỉ trong lĩnh vực văn hoá, khoa học, vì ngôn ngữ gắn liền với mọi mặt của đời sống. Tốt nhất là nên để tiếng nói cuối cùng cho đời sống. Nên để cho thực tiễn đời sống tự nói ra kết luận. Sự thật là thực tiễn trong những năm qua, theo tôi nghĩ, cũng đã nói lên một điều gì rồi: càng ngày càng có thêm nhiều trường hợp trên sách báo chúng ta đều nhất trí viết thống nhất với thiên hạ: nào là UNESCO, UNICEF, ASEAN, World Cup, Sea Games, nào là fax, telex, stress, AIDS, interpol, internet, v.v. Gần đây nhất, trên các báo của ta, kể cả báo xưa nay vẫn chủ trương viết phiên âm tên riêng nước ngoài, có đăng thông báo Lịch thi đấu bóng đá Sea Games 19, trong đó viết: Myanmar, Philipines, Singapore, Brunei, Indonesia, v.v. Tuy vậy ý kiến không tán thành hình như vẫn đang còn nhiều, tốt nhất là nên có thêm một thời gian chờ đợi. Khi nào đời sống đã có tiếng nói cuối cùng rõ ràng, thì một quy định của Nhà nước chỉ đơn giản là làm việc chính thức hoá một kết luận được đa số, qua thực tiễn, tán thành.

1997

Chú thích:
(1) Ở đây không nói về tên riêng tiếng Hán, trong tiếng Việt vốn có dạng chính tả ghi âm Hán – Việt, như Bắc Kinh, Đỗ Phủ, v.v.; cũng không nói đến một số địa danh (tên các châu, các nước) mà tiếng Việt đã quen gọi qua tiếng Hán (với âm Hán – Việt), như (châu) Phi, Pháp, Tây Ban Nha, v.v. Với những tên riêng đã quen dùng từ lâu đó, nói chung không có nhu cầu thay đổi.
 

 

Bài đăng trước:

  • Vấn đề thống nhất tiếng Việt ở dạng ngôn ngữ văn hoá
  • Ngôn ngữ và Đời sống: Một số vấn đề quan điểm
  • Người ta có phải chỉ là... Người ta?
  • Ngôn ngữ thời mở cửa, hội nhập: nên có và nên không?
  • Đâu - Đây - Đấy