Ngôn ngữ học

Vấn đề thống nhất tiếng Việt ở dạng ngôn ngữ văn hoá
     

GS HOÀNG PHÊ

Việc thành lập nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, đòi hỏi và đồng thời cũng tạo điều kiện sớm hoàn thành thống nhất nước nhà về tất cả các mặt khác của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá. Trong hoàn cảnh đó, việc thống nhất tiếng Việt ở mức cao hơn, để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn lịch sử mới, trở thành một vấn đề thời sự, một nhiệm vụ cấp bách. Do tầm quan trọng của vấn đề ngôn ngữ, do ngôn ngữ là công cụ sử dụng hằng ngày trong mọi lĩnh vực hoạt động, việc giải quyết vấn đề này tốt hay không tốt ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của nhiều ngành, nhất là văn hoá, giáo dục, cho nên đây là vấn đề đáng được mọi người, mọi ngành quan tâm. Trước khi đi vào những giải quyết cụ thể, thiết nghĩ nên có sự trao đổi ý kiến để thống nhất nhận thức trên những vấn đề nguyên tắc.

Lê nin từng nói: “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người; sự thống nhất và sự phát triển không bị trở ngại của ngôn ngữ là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho việc lưu thông buôn bán thật sự tự do và rộng rãi, phù hợp với chủ nghĩa tư bản ngày nay (...)” (1).

Điều Lê nin nói trên đây với chủ nghĩa tư bản càng đúng với chủ nghĩa xã hội. Nước nhà đã thống nhất, cả nước ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, không qua phát triển tư bản chủ nghĩa, thì sự thống nhất của tiếng Việt và sự phát triển không bị trở ngại của nó là một trong những điều kiện quan trọng cho mọi hoạt động có tính toàn quốc của chúng ta, không riêng trong lĩnh vực kinh tế, mà nói chung trong tất cả các lĩnh vực xã hội, chính trị, văn hoá, khoa học, giáo dục, v.v. Sự thống nhất và sự phát triển của tiếng Việt lại quan hệ mật thiết với nhau: tiếng Việt có thống nhất thì mới có thể phát triển mạnh mẽ, và ngược lại sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt tác động tích cực đến quá trình thống nhất của nó.

Nhưng quan niệm thế nào là sự thống nhất của một ngôn ngữ dân tộc như tiếng Việt? Quá trình thống nhất này diễn ra như thế nào và chúng ta có thể làm gì để tác động đến nó?

Tiếng Việt từ nghìn xưa vốn là một ngôn ngữ thống nhất. Nhưng trong quá trình phát triển lịch sử trước kia, nó dần dần phân chia thành nhiều tiếng địa phương đặc biệt phát triển trong thời đại phong kiến. Kết quả là, cũng như mọi ngôn ngữ dân tộc khác ở thời đại ngày nay, tiếng Việt tồn tại dưới dạng những tiếng địa phương, giữa những tiếng địa phương này có những sự khác nhau nhất định, tạo ra tình trạng tuy cùng một ngôn ngữ nhưng không thật sự thống nhất. Có điều là đối với tiếng Việt, những sự khác nhau giữa các tiếng địa phương thật ra không nhiều, có thể nói không có về mặt ngữ pháp, mà chỉ hạn chế ở một số yếu tố từ vựng và ngữ âm, trong nhiều trường hợp không ngăn cản sự giao tiếp, tuy rằng thực tế ít nhiều có làm trở ngại. Từ đầu thế kỉ này, nhất là sau Cách mạng Tháng Tám, do sự phát triển kinh tế và văn hoá ở nước ta làm tăng sự giao lưu giữa các miền, và thêm nữa do những biến động lớn trong đời sống xã hội (cách mạng, chiến tranh), dẫn đến những sự di chuyển và biến đổi lớn về dân cư (với sự điều động cán bộ, bộ đội trong phạm vi cả nước, việc tản cư, “di cư”, tập kết, v.v.), sự tiếp xúc hàng ngày, trong mọi lĩnh vực hoạt động, giữa những người nói những tiếng địa phương rất khác nhau trong cả nước ngày một thêm rộng rãi. Kết quả là một mặt những sự khác biệt giữa các tiếng địa phương bị “mài mòn” trong quá trình tiếp xúc, có chiều hướng giảm dần, một mặt khác có hiện tượng có thể gọi là pha trộn giữa các tiếng địa phương, hình thành những lớp người ngày một thêm đông nói những tiếng địa phương ít nhiều “lai”, ít nhiều đã biến đổi do ảnh hưởng của một tiếng địa phương khác. Những hiện tượng này mà được điều tra, nghiên cứu kĩ sẽ cho chúng ta những nhận xét lí thú, đặc biệt là về xu thế và quy luật phát triển của tiếng Việt hiện đại. Điều chắc chắn là trong tác động qua lại giữa các tiếng địa phương, ảnh hưởng của các tiếng địa phương không đồng đều như nhau. Tuy không có số liệu điều tra cụ thể, nhưng chúng tôi nghĩ rằng một thực tế khá rõ, có lẽ ai cũng phải thừa nhận, là về từ vựng cũng như về ngữ âm, tác động của tiếng địa phương Bắc Bộ đến các tiếng địa phương khác rõ rệt hơn, mạnh hơn là tác động ngược lại. Điều này chứng tỏ trong tâm lí chung của nhân dân ta, của dân tộc ta, tiếng địa phương Bắc Bộ có một sức hấp dẫn mạnh hơn các tiếng địa phương khác.

Tiếng địa phương thường là nền tảng của ngôn ngữ sử dụng tự nhiên trong đời sống gia đình, trong sinh hoạt hằng ngày, của khẩu ngữ. Vì vậy, quá trình giảm dần những sự khác biệt giữa các tiếng địa phương của tiếng Việt thực tế cũng tức là quá trình tiếng Việt dần dần tiến tới thống nhất ở dạng khẩu ngữ. Nhưng quá trình này diễn ra một cách hoàn toàn tự phát và rất chậm chạp, còn phải qua một thời kì lịch sử lâu dài trong tương lai mới có thể kết thúc. Chúng ta không hi vọng có thể tác động trực tiếp đến nó, càng không hi vọng có thể nhanh chóng xoá bỏ những sự khác biệt giữa các tiếng địa phương để thực hiện một sự thống nhất có tính lí tưởng của tiếng Việt. Mà thật ra thì một sự thống nhất ngôn ngữ như thế không phải là đòi hỏi của đời sống, của nhân dân ta trong thời đại ngày nay.

Nhưng cũng như các ngôn ngữ dân tộc khác, tiếng Việt còn có một dạng tồn tại nữa, hình thành dần dần khi nền văn hoá dân tộc phát triển đến một trình độ nhất định, đó là dạng ngôn ngữ văn hoá (có người cũng gọi là ngôn ngữ văn học, hiểu “văn học” với một nghĩa rất rộng). Ngôn ngữ văn hoá là ngôn ngữ đã chịu tác động có ý thức của con người để trở thành công cụ đáp ứng những yêu cầu giao tiếp hết sức rộng rãi trong nội bộ một dân tộc, những yêu cầu của sự giao tiếp vượt khỏi phạm vi một địa phương cũng như phạm vi một thời đại. Từ hơn một thế kỉ nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du được nhân dân ta trong cả nước, thế hệ này tiếp thế hệ khác, đọc, hiểu, thích. Sở dĩ như vậy, ngoài giá trị nghệ thuật của tác phẩm, còn có nguyên nhân ngôn ngữ dùng trong Truyện Kiều không phải là một tiếng địa phương nào cả, mà là một mẫu mực của tiếng Việt văn hoá. Khác với khẩu ngữ chỉ dùng trong sinh hoạt hằng ngày, ngôn ngữ văn hoá được dùng trong các hoạt động văn hoá, khoa học, giáo dục cũng như trong các hoạt động xã hội, chính trị, nói chung là trong văn chương, trên sách báo, trong các văn kiện chính thức, trong trường học, trên đài phát thanh, trong các hội nghị. Ngôn ngữ văn hoá là dạng được trau dồi và nâng cao của ngôn ngữ nhằm khắc phục những sự khác biệt giữa các tiếng địa phương để đạt đến tính thống nhất toàn dân tộc, đồng thời cũng nhằm khắc phục những hiện tượng dễ dãi của khẩu ngữ để đạt đến tính trong sáng và tính chính xác cao. Ngôn ngữ văn hoá có một hệ thống chuẩn, gồm những chuẩn ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, chính tả, dần dần hình thành qua quá trình đánh giá, lựa chọn giữa những hình thức diễn đạt khác nhau của các tiếng địa phương. Ngôn ngữ văn hoá thường hình thành trên cơ sở một tiếng địa phương nhất định, đó là tiếng địa phương tương đối phát triển và có sức hấp dẫn tương đối mạnh hơn cả; nó sử dụng phần lớn những yếu tố của tiếng địa phương ấy, đồng thời thu hút những yếu tố được đánh giá là có tác dụng tích cực của các tiếng địa phương khác, tận dụng những khả năng diễn đạt của tất cả các tiếng địa phương. Ngôn ngữ văn hoá giàu về những hình thức diễn đạt đồng nghĩa, đáp ứng yêu cầu của mọi phong cách. Mặt khác, ngôn ngữ văn hoá cũng là kết quả của những hoạt động sáng tạo nhằm tạo ra những hình thức diễn đạt mới, đáp ứng yêu cầu diễn đạt trong mọi lĩnh vực hoạt động trí tuệ đa dạng, trong nghệ thuật và khoa học. Do đó nó có khả năng diễn đạt phong phú hơn tất cả các tiếng địa phương. Như vậy ngôn ngữ văn hoá là công cụ thống nhất dân tộc, đồng thời cũng là công cụ văn hoá của dân tộc. Khi Lê nin nói đến sự thống nhất và sự phát triển không bị trở ngại của ngôn ngữ thì ngôn ngữ ở đây phải hiểu là ngôn ngữ văn hoá. Và đối với chúng ta thì nhiệm vụ đang phải giải quyết là hoàn thành sự thống nhất của tiếng Việt ở dạng ngôn ngữ văn hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho tiếng Việt văn hoá phát triển, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước.

Cho đến nay, chúng ta chưa có một công trình nghiên cứu nào về lịch sử hình thành và phát triển của tiếng Việt văn hoá - và đây là một thiếu sót lớn. Nhưng điều chúng tôi nghĩ có thể khẳng định, là tiếng Việt văn hoá đã hình thành từ lâu trong lịch sử, nó đã nảy mầm ngay từ trong thời kì thịnh vượng của chế độ phong kiến, với những tác phẩm văn học đầu tiên viết bằng chữ Nôm. Nhưng trong thời phong kiến, và tiếp theo đó trong ngót một thế kỉ dưới chính quyền thực dân, sự phát triển của tiếng Việt văn hoá bị kìm hãm, nó chỉ được sử dụng một cách hết sức hạn chế, chủ yếu là trong văn thơ. Vì vậy, quá trình hình thành tiếng Việt văn hoá đã kéo dài qua nhiều thế kỉ mà chưa kết thúc, nếu hiểu sự kết thúc của quá trình này là sự xác định một hệ thống chuẩn hoàn chỉnh về tất cả các mặt ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, chính tả, thực hiện một sự thống nhất có tính toàn dân tộc của ngôn ngữ bên trên những sự khác biệt của các tiếng địa phương.

Cách mạng Tháng Tám mở đầu một thời kì mới của sự phát triển của tiếng Việt, thời kì kết thúc quá trình hình thành của tiếng Việt văn hoá - cũng tức là hoàn thành sự thống nhất tiếng Việt ở dạng ngôn ngữ văn hoá - và đồng thời cũng là thời kì tiếng Việt văn hoá phát triển mạnh mẽ một cách không bị hạn chế. Nhưng sự hoàn thành thống nhất tiếng Việt ở dạng ngôn ngữ văn hoá có bị trở ngại trong những năm trước đây đất nước tạm thời bị chia cắt. Do trước đây ở hai miền Nam Bắc tồn tại những tổ chức nhà nước khác nhau, với những chính sách ngôn ngữ khác nhau, và nhất là do chính sách thù địch của chính quyền Mĩ - nguỵ đối với nhân dân ta, ngăn chặn trong nhiều năm sự giao lưu bình thường giữa hai miền, tiếng Việt văn hoá dùng ở hai miền ít nhiều có khác nhau. Những sự khác nhau này một phần bắt nguồn từ những sự khác biệt vốn có từ trước Cách mạng Tháng Tám giữa các tiếng địa phương ở hai miền, một phần là do sự khác nhau của những yếu tố mới phát triển, đặc biệt là của một số từ ngữ mới đặt ra (hoặc mới mượn của các tiếng nước ngoài), nhất là trong các lĩnh vực khoa học – kĩ thuật và hành chính – chính trị. Như vậy, trong hai mươi năm đất nước tạm thời bị ngăn đôi, những sự khác nhau giữa tiếng Việt văn hoá dùng ở hai miền Nam Bắc nhìn chung không giảm, mà có phần tăng. Tình trạng này mâu thuẫn với xu thế phát triển tự nhiên hướng tới thống nhất của tiếng Việt hiện đại, mâu thuẫn với quá trình giảm dần những sự khác biệt giữa các tiếng địa phương, thể hiện rõ trong khẩu ngữ khắp các miền trong cả nước. Sự mâu thuẫn này chỉ là một hiện tượng không bình thường nhất thời, nảy sinh trên cơ sở tình trạng không bình thường trước đây đất nước tạm thời bị chia cắt. Và mặc dù phần nào có tăng, những sự khác nhau của tiếng Việt văn hoá dùng trước đây ở hai miền thực tế vẫn không nhiều, chỉ là những hiện tượng trên bề mặt và không đến mức tạo ra hai dạng khác nhau của tiếng Việt văn hoá.

Ngôn ngữ văn hoá, như ở trên đã nói, thể hiện tác động có ý thức của con người đến công cụ ngôn ngữ, trước hết nhằm thực hiện một sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc. Có thể gọi ngôn ngữ văn hoá là dạng thống nhất của ngôn ngữ dân tộc. Sự thống nhất này không phải là tuỳ tiện, bởi vì không phải con người có thể tác động tuỳ tiện đến ngôn ngữ; muốn có tác dụng tích cực, tác động của con người phải phù hợp với quy luật phát triển của ngôn ngữ. Nếu xu thế phát triển tự nhiên của tiếng Việt hiện đại, biểu hiện ở trong khẩu ngữ, là hướng tới một sự thống nhất trên cơ sở tiếng địa phương Bắc Bộ, có tận dụng những yếu tố tích cực của các tiếng địa phương khác, thì tiếng Việt văn hoá, bắt nguồn từ trong khẩu ngữ của tiếng Việt, biểu hiện tập trung sự phát triển có tính quy luật của tiếng Việt hiện đại, chính là hiện thực của một sự thống nhất như thế. Một khi đã hình thành, tiếng Việt văn hoá có tác dụng ngược trở lại đối với tiếng Việt khẩu ngữ, thúc đẩy quá trình thống nhất tiếng Việt cả ở dạng khẩu ngữ. Quan hệ giữa tiếng Việt văn hoá một mặt với các tiếng địa phương của tiếng Việt, mặt khác với tiếng Việt khẩu ngữ là một quan hệ tác động qua lại biện chứng khá phức tạp.

Điều cần chú ý là ngay trong thời gian đất nước tạm thời bị chia cắt, do đường lối và chính sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, luôn luôn xuất phát từ quyền lợi chung của toàn dân tộc, tiếng Việt văn hoá dùng ở miền Bắc vẫn phát triển lành mạnh hướng tới một sự thống nhất hoàn toàn trong cả nước. Vì vậy, tiếng Việt văn hoá dùng ở miền Bắc tiêu biểu cho tiếng Việt văn hoá dân tộc, và nếu tiếng địa phương Bắc Bộ là cơ sở của tiếng Việt văn hoá thì tiếng Việt văn hoá trước đây dùng ở miền Bắc từ nay sẽ là cơ sở của tiếng Việt văn hoá dùng thống nhất trong cả nước. Nói là cơ sở tức cũng có nghĩa là đồng thời phải có sự tiếp thu để tận dụng những yếu tố tích cực của tiếng Việt văn hoá trước đây dùng ở miền Nam.

Trên đây là nói về phần của tiếng Việt văn hoá có quan hệ với các tiếng địa phương, cũng tức là những yếu tố mà tiếng Việt văn hoá tiếp thu của các tiếng địa phương. Trong tiếng Việt văn hoá còn có phần mới sáng tạo, thực tế là những từ ngữ mới đặt ra (hoặc mượn của các tiếng nước ngoài) trong mấy chục năm lại đây, chủ yếu là trong các lĩnh vực khoa học – kĩ thuật và xã hội – chính trị. Một phần lớn sự khác nhau giữa tiếng Việt văn hoá dùng ở hai miền trong thời gian vừa qua là do sự khác nhau của những từ ngữ này. Riêng trong phần những từ ngữ mới sáng tạo, muốn chọn những từ ngữ nào làm chuẩn dùng thống nhất trong cả nước, không thể dựa trên cơ sở một địa phương, mà phải dựa trên những tiêu chuẩn nhất định, đối chiếu với những yêu cầu nhất định, như tính trong sáng của tiếng Việt, tính chính xác của từ ngữ, v.v., mà xét từng trường hợp cụ thể. Vấn đề này về thực chất không khác vấn đề ngay trong bản thân tiếng Việt văn hoá dùng ở miền Bắc chẳng hạn, luôn luôn có những từ ngữ mới đặt ra khác nhau cho cùng một sự vật mới, khái niệm mới. Hiện tượng này là bình thường trong sự phát triển của một ngôn ngữ. Thực tế sử dụng sẽ kiểm nghiệm và lựa chọn những từ ngữ sáng tạo nào đáp ứng tốt hơn cả yêu cầu của ngôn ngữ. Quá trình kiểm nghiệm và lựa chọn diễn ra thường xuyên. Thông qua công tác chuẩn hoá - xác định một cách có ý thức chuẩn của ngôn ngữ văn hoá, - nó có thể rút ngắn, sự lựa chọn cũng có thể phần nào tốt hơn, nhất quán hơn. Điều có phần nào không bình thường ở đây là do sự giao lưu giữa hai miền trước kia bị ngăn cản, hiện tượng không thống nhất giữa một số từ ngữ mới sáng tạo trong tiếng Việt văn hoá dùng trước đây ở hai miền đã được duy trì và tích luỹ lại trong nhiều năm, ngày nay đòi hỏi một sự giải quyết hàng loạt.

Những điều nói ở trên đây đều chỉ mới là những nguyên tắc. Đi vào cụ thể có nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi được nghiên cứu kĩ. Cần nghiên cứu riêng các vấn đề ngữ âm, từ vựng, chính tả (ở đây không nói đến ngữ pháp, vì thực tế không có hiện tượng ngữ pháp không thống nhất giữa các tiếng địa phương của tiếng Việt), xác định chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn chính tả thống nhất của tiếng Việt văn hoá. Quá trình hình thành, tính rõ nét, mức độ bắt buộc, phạm vi tác động của mỗi loại chuẩn này không giống nhau. Vì chữ viết là do con người đặt ra, cho nên chuẩn chính tả chỉ là những quy tắc, có khi hình thành theo tập quán, có khi do những cơ quan có quyền lực Nhà nước xác định. Chuẩn chính tả rõ nét nhất (không có hoặc ít có trường hợp không rõ ràng), ổn định nhất (không hoặc rất ít thay đổi trong một thời gian dài), mức độ bắt buộc là tuyệt đối, tác động trong mọi trường hợp (yêu cầu viết đúng chính tả là yêu cầu đối với mọi người, trong mọi thể văn). Chính tả thống nhất là bộ mặt sự thống nhất của một ngôn ngữ, có tác dụng giữ gìn và củng cố sự thống nhất đó. Với chữ viết ghi âm căn bản hợp lí như chữ quốc ngữ, chính tả có thể tác động ngược trở lại đối với phát âm, ít nhiều có tác dụng thúc đẩy quá trình chuẩn hoá phát âm. Chính tả tiếng Việt, về căn bản đã thống nhất, nhưng có một số trường hợp chuẩn chính tả chưa được xác định rõ ràng. Vì vậy, chuẩn hoá chính tả vẫn đang là một nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Nhưng, như mọi người đều biết, chính tả của chúng ta có một số chỗ không hợp lí, và từ lâu nhiều người đã đề nghị nên có một sự cải tiến. Chúng tôi nghĩ rằng ngày nay nước nhà đã thống nhất không những thực tế cho phép mà đồng thời cũng yêu cầu thực hiện việc cải tiến chữ quốc ngữ, tạo một điều kiện thuận lợi cho giáo dục và văn hoá phát triển. Nên kết hợp chuẩn hoá chính tả với cải tiến chữ quốc ngữ, và việc này tiến hành càng sớm bao nhiêu sẽ càng lợi bấy nhiêu.

Chuẩn từ vựng có phần phức tạp hơn nhiều, vì bản thân từ vựng là một hệ thống phức tạp, gồm một số rất lớn đơn vị, lại là bộ phận biến động nhất của ngôn ngữ, do có quan hệ trực tiếp với hiện thực và với nhận thức của con người. Hiểu biết về từ vựng ở mỗi người lại đều có khác nhau và ở người nào cũng đều có những mặt hạn chế nhất định (không ai có thể nắm được toàn bộ từ vựng của một ngôn ngữ), do đó có nhiều ý kiến đánh giá rất khác nhau, đôi khi phản ánh những quan điểm và thị hiếu ngôn ngữ khác nhau, không những tuỳ theo trình độ văn hoá, mà còn tuỳ theo lứa tuổi, nghề nghiệp, địa phương sinh trưởng, v.v. Vì vậy chuẩn từ vựng làm thành một hệ thống hết sức phức tạp, có nhiều biến thể, thường xuyên có thay đổi, thường xuyên có cái mới nảy sinh, có hiện tượng chuyển hoá từ không chuẩn trở thành chuẩn và ngược lại, và do đó có khi chuẩn hay không chuẩn tạm thời rất khó xác định. Tác động của chuẩn từ vựng không nhất loạt như nhau trong các hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ, trong các phong cách. Nếu trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước hoặc trong các sách giáo khoa, tính xác định của chuẩn từ vựng phải đạt đến mức rất cao, thì trái lại, trong các tác phẩm văn học, chuẩn từ vựng thường cho phép sự tồn tại của rất nhiều biến thể, kể cả một số biến thể địa phương. Có chú ý tất cả các mặt trên đây thì công tác chuẩn hoá từ vựng mới tránh được lối giải quyết cứng nhắc, máy móc, thoát li thực tế và không đáp ứng những yêu cầu đa dạng của tiếng Việt văn hoá.

Chuẩn ngữ âm tất nhiên chỉ tác động ở dạng nói của ngôn ngữ văn hoá. Mà ngôn ngữ văn hoá thì lại tồn tại chủ yếu ở dạng viết. Ngay ở dạng nói của ngôn ngữ văn hoá, trong thực tế phát âm, chuẩn chỉ thật sự là một yêu cầu đối với một số người làm một số nghề nhất định (như diễn viên sân khấu, phát thanh viên, v.v.), và chỉ trong một số trường hợp nhất định khi hành nghề. Còn đối với số đông thì chuẩn phát âm thường chỉ tồn tại dưới dạng những mẫu mực phát âm thống nhất để mọi người, nếu thấy cần thiết, có thể hướng tới đó mà sửa đổi ít nhiều, có khi tự giác có khi không tự giác, cách phát âm tự nhiên vốn có của mình, khắc phục những sự khác biệt quá rõ nào đó để làm cho sự giao tiếp được tốt hơn. Một số ngôn ngữ chọn cách phát âm của một vùng, thường là vùng thủ đô, làm phát âm chuẩn; còn đối với một số ngôn ngữ khác thì chuẩn phát âm là kết quả của một sự đánh giá chọn lọc, có thể nói là kết hợp giữa những cách phát âm có tính địa phương, thường là dựa trên cơ sở cách phát âm của một vùng nhất định, có đối chiếu với những cách phát âm khác tương đối phổ biến trong nước để ít nhiều có thay đổi, thêm bớt. Chuẩn phát âm hình thành theo con đường nào là do đặc điểm phát triển của từng dân tộc, từng ngôn ngữ quyết định. Chuẩn phát âm thường hình thành chậm hơn chuẩn từ vựng và chuẩn chính tả. Và sau khi chuẩn phát âm đã được xác định, còn phải qua một thời gian lịch sử lâu dài chính âm (cách phát âm chuẩn) mới trở thành cách phát âm thực tế phổ biến; trong suốt thời gian này tồn tại nhiều cách phát âm quá độ dưới những hình thức khác nhau. Đối với tiếng Việt, nên xác định chính âm như thế nào đang còn là một vấn đề phải bàn, ý kiến chưa nhất trí. Nhưng một thực tế không thể bỏ qua là ngữ âm của tiếng Việt đã và đang có những biến đổi có ý nghĩa từ mấy chục năm lại đây. Cách phát âm ngày nay ở hai trung tâm lớn, thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh – có thể coi là tiêu biểu cho phát âm của Bắc Bộ và của miền Nam – có lẽ đã không còn giống hoàn toàn như trước Cách mạng Tháng Tám, mà ít nhiều đã có biến đổi, với mức độ khác nhau, nhưng đều là theo hướng gần lại với nhau hơn. Những cách phát âm đặc địa phương đang nhường chỗ dần dần cho những cách phát âm quá độ, hướng tới một sự thống nhất nào đó. Những hiện tượng như vậy cần được điều tra, nghiên cứu, và rất đáng cho chúng ta suy nghĩ, rút ra những kết luận cần thiết để giải quyết thoả đáng vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt văn hoá về mặt ngữ âm.

1976

Chú thích:
(1) V. I. Lê nin: Về quyền dân tộc tự quyết, Nxb Sự thật, 1958, tr. 7. Chúng tôi có dịch chữa lại một vài chỗ – H. P.
 

 

Bài đăng trước:

  • Ngôn ngữ và Đời sống: Một số vấn đề quan điểm
  • Người ta có phải chỉ là... Người ta?
  • Ngôn ngữ thời mở cửa, hội nhập: nên có và nên không?
  • Đâu - Đây - Đấy
  • Lại chuyện I ngắn, Y dài