Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ và Đời sống: Một số vấn đề quan điểm
     

GS HOÀNG PHÊ

1. “Ngôn ngữ và đời sống” không phải là một vấn đề mới. Trước đây trên 60 năm, Charles Bally đã từng viết một cuốn sách về vấn đề này: Le langage et la vie (Paris, 1926), trong đó có nhiều ý kiến sâu sắc, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Theo Bally, ngôn ngữ “đơn giản phục vụ cho đời sống, không phải là đời sống của một số, mà là của tất cả, trong mọi biểu hiện của nó” (tr. 18). Bally đặc biệt chú ý đến những biểu hiện cảm xúc, tình cảm, và dành cả một chương cho tu từ học. Ông đặt vấn đề: “Phải hiểu đời sống là gì, về mặt ngôn ngữ?”, và trả lời: “Đó không phải là đời sống xét ở tự thân nó, mà là ý thức sống và ý chí sống, không phải là đời sống như nhà sinh học hình dung, trong cái thực tế khách quan của nó, mà là cái ý nghĩa sống mà chúng ta mang trong người của chúng ta.” (tr. 18-19).

Ch. Bally gợi ý cho chúng ta một vấn đề cơ bản: nói “ngôn ngữ và đời sống” thì trước tiên phải quan niệm rõ “đời sống” ở đây là gì và “ngôn ngữ” ở đây là gì.

Cái đời sống chúng ta nói ở đây là đời sống chỉ con người mới có, chỉ con người mới có khả năng tạo ra, nó là đời sống có ý nghĩa với con người, gắn với những giá trị mà xã hội con người sáng tạo, đó là đời sống văn hoá. Đó là hoạt động của con người trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo dục..., nói chung là các lĩnh vực văn hoá, hiểu văn hoá với nghĩa rộng nhất của nó. Và như vậy, ngôn ngữ chúng ta nói ở đây là ngôn ngữ - công cụ văn hoá, thường được gọi là “ngôn ngữ văn học”. Nhưng gọi là “ngôn ngữ văn học” chỉ đúng với nhiều thế kỉ trước, khi nó trước tiên và chủ yếu được dùng trong văn học. Ngày nay nó được dùng rộng rãi hơn nhiều, trong những phong cách đa dạng, gọi là ngôn ngữ văn hoá thì đúng với nội dung khái niệm hơn.

2. Ngôn ngữ văn hoá là một dạng tồn tại của ngôn ngữ tự nhiên. Nhưng khác với ngôn ngữ dân gian, là dạng tồn tại tự nhiên của ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ văn hóa là dạng tồn tại có gia công, có chịu tác động có ý thức của con người trong quá trình sử dụng ngôn ngữ tự nhiên để đáp ứng những yêu cầu xây dựng và phát triển văn hoá. Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, cần có sự phân biệt ngôn ngữ văn hoá và ngôn ngữ dân gian, tuy cả hai đều là đối tượng của ngôn ngữ học. Với mỗi đối tượng này, quan điểm của người nghiên cứu có khác nhau, phương pháp nghiên cứu cũng có khác nhau.

Chúng ta đồng ý với A. Martinet rằng “ngôn ngữ học là sự nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ tự nhiên”. Nhưng từ đó, lại không thể chỉ khẳng định một cách đơn giản rằng: “Nghiên cứu gọi là khoa học khi nó dựa trên sự quan sát các sự kiện và tránh đề nghị một sự lựa chọn giữa các sự kiện ấy”, (nhà ngôn ngữ học) “về phần mình, tránh đứng về một phía nào đó.” (A. Martinet. Elements de linguistique générale. Paris, 1967, tr. 6-7). Hoặc, nói như Bloomfield, “nhà ngôn ngữ học quan sát mọi hình thức ngôn ngữ một cách vô tư” (L. Bloomfield. Language. London, 1955, tr. 22). Điều khẳng định trên đây chỉ đúng khi đối tượng của ngôn ngữ học chỉ là ngôn ngữ dân gian, ngôn ngữ nói sử dụng trong lĩnh vực đời sống hằng ngày, ngôn ngữ tồn tại dưới dạng phương ngữ, thổ ngữ, hoặc ngôn ngữ chưa có chữ viết. Ngôn ngữ dân gian được học tập trực tiếp trong giao tiếp hằng ngày, qua thực tiễn nói năng, và được sử dụng một cách hoàn toàn tự nhiên, người nói không hề có những băn khoăn về đúng - sai về mặt ngôn ngữ, chuẩn - không chuẩn, đúng ngữ pháp - không đúng ngữ pháp. Nhưng ngôn ngữ văn hoá thì phải học tập ở nhà trường, qua đọc và viết là chính, và phải thường xuyên trau dồi. Người sử dụng ngôn ngữ văn hoá luôn luôn đứng trước vấn đề: chuẩn - không chuẩn, vì chuẩn là khái niệm trung tâm của ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ văn hoá khác với ngôn ngữ dân gian chính là ở vấn đề chuẩn. B. Havranek đã nói rất đúng: “Sự quen dùng quy định chuẩn của ngôn ngữ dân gian (..., nhưng) không thể nói rằng chỉ sự quen dùng quy định chuẩn của ngôn ngữ văn hoá (...). Sự hình thành và phát triển của chuẩn của ngôn ngữ văn hoá, tính chất và cấu trúc của nó (ở các thời đại khác nhau) khác với sự hình thành và phát triển, với tính chất và cấu trúc của chuẩn của ngôn ngữ dân gian. Chuẩn của ngôn ngữ văn hoá được xây dựng, hình thành và phát triển nhờ có sự can thiệp của lí thuyết ngôn ngữ và phi ngôn ngữ (...). Như vậy, nhà lí thuyết về ngôn ngữ, nhà ngôn ngữ học, không bao giờ can thiệp trực tiếp vào sự phát triển của ngôn ngữ dân gian, bởi vì đối với họ ngôn ngữ dân gian chỉ là đối tượng nhận thức, nhưng họ có thể can thiệp, đang can thiệp và sẽ tiếp tục can thiệp vào sự phát triển của ngôn ngữ văn hoá” (B. Havránek, Nhiệm vụ của ngôn ngữ văn hoá và sự trau dồi ngôn ngữ văn hoá. Trong: Pragskij lingvisticheskij kruzhok. Moskva, 1967, tr. 340-341). Đối với nhà ngôn ngữ học, ngôn ngữ văn hoá không chỉ là đối tượng nhận thức, mà còn là đối tượng tác động trực tiếp. Muốn sự tác động này đúng đắn và có hiệu quả, cần nhận thức rõ đối tượng. Cần nhận thức ngôn ngữ văn hoá không phải trong sự tĩnh tại, mà trong sự phát triển; không chỉ quan sát ở nó cái đã hình thành, mà còn quan sát cái đang hình thành. Đồng thời, không nghiên cứu nó một cách cô lập, mà nghiên cứu nó một mặt trong những quan hệ không thể tách rời với ngôn ngữ dân gian, và mặt khác trong những chức năng xã hội - văn hoá của nó, để thấy rõ những yêu cầu và quy luật nội tại của nó với tư cách là một ngôn ngữ tự nhiên, vừa thấy rõ những yêu cầu của xã hội, của thời đại đối với nó với tư cách là một ngôn ngữ - công cụ văn hoá. Điều quan trọng là cần có cái nhìn tổng hợp, thấy rõ yêu cầu và xu thế phát triển của ngôn ngữ văn hoá, trên cơ sở đó có một sự đánh giá đối với các hình thức ngôn ngữ cụ thể của nó. Nhà ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá tự đặt mình vừa ở vị trí của người đứng ngoài quan sát, vừa ở tư cách của một người sử dụng ngôn ngữ văn hoá, một mặt đấu tranh có trách nhiệm chống những nhận thức sai lầm, những điều mà F. de Saussure đã từng gọi là những “ý kiến kì quặc”, những “định kiến”, những “ảo giác”, những “hư cấu” (F. de Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Hà Nội, 1973, tr. 27), và mặt khác ủng hộ đầy nhiệt tình những yếu tố mới, những chuẩn mới có giá trị tích cực, góp phần làm cho những chuẩn mới đó sớm được xác định. Nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá phải đứng trên quan điểm phát triển, có sự đánh giá tốt - không tốt, nên - không nên và có thái độ ủng hộ - không ủng hộ. Không phải hễ có một sự đánh giá thì tức là thiếu vô tư và không khoa học. Vấn đề là ở chỗ: Sự đánh giá có căn cứ khoa học hay không, có được thực tiễn chứng minh là đúng hay không. Thật ra, khi cần phải có một sự đánh giá, mà tránh không đánh giá, thì đó cũng đã là một sự đánh giá rồi, một sự đánh giá san bằng các giá trị.

Ngôn ngữ văn hoá hình thành trên cơ sở ngôn ngữ dân gian, ngôn ngữ dân gian là nguồn sinh lực của ngôn ngữ văn hoá. Nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá mà có được nhận thức về ngôn ngữ dân gian làm chỗ dựa thì sẽ tốt hơn. Ngôn ngữ dân gian là dạng tự nhiên nhất của ngôn ngữ tự nhiên. Qua nghiên cứu ngôn ngữ dân gian sẽ nhận thức được nhiều vấn đề về bản chất cũng như về quy luật của ngôn ngữ tự nhiên, nhờ đó sẽ soi sáng được nhiều vấn đề của ngôn ngữ văn hoá. Ở nước ta, nghiên cứu về tiếng Việt trước nay chủ yếu là nghiên cứu qua tác phẩm văn học, qua sách báo, cũng tức là nghiên cứu tiếng Việt văn hoá. Tiếng Việt dân gian hầu như chưa được nghiên cứu. Đó là một thiếu sót. Ngày nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ dân gian có nhiều thuận lợi, nhờ có các phương tiện ghi âm hiện đại. Thiết nghĩ nên có những công trình thu thập tư liệu về tiếng Việt dân gian, ghi lại những đối thoại tự nhiên trong gia đình, ngoài đường phố, trong các cửa hàng, trên các tàu xe, ở các sân chơi trường học, v.v., và những công trình miêu tả, nghiên cứu tiếng Việt dân gian trong mọi tầng lớp người một cách có hệ thống. Chắc chắn là chúng ta sẽ có những hiểu biết sâu sắc hơn về tiếng Việt, giúp giải quyết những vấn đề của tiếng Việt văn hoá có cơ sở hơn.

3. Chuẩn của ngôn ngữ văn hoá là một khái niệm phức tạp. Nó là kết quả của một sự đánh giá, lựa chọn đã có được một sự nhất trí ở một mức nhất định. Sự nhất trí này nhiều khi không dễ dàng, bởi vì khi đánh giá, lựa chọn thì có những yêu cầu khác nhau, quan điểm khác nhau, có khi mâu thuẫn với nhau, trái ngược nhau. Chính trong những trường hợp này cần có sự can thiệp của nhà ngôn ngữ học để xác định chuẩn của ngôn ngữ văn hoá, thực hiện việc chuẩn hoá ngôn ngữ văn hoá.

Trong công tác chuẩn hoá ngôn ngữ văn hoá, điều cần tránh là quan điểm đơn giản, máy móc, tuyệt đối. Khi xác định chuẩn không nên chỉ chú ý một yêu cầu, mà phải thấy đầy đủ các yêu cầu. Mức đòi hỏi của mỗi yêu cầu có khác nhau, và có thể thay đổi cùng với thời gian. Có yêu cầu trước đây là quan trọng, nay đã trở thành thứ yếu, và trái lại có yêu cầu trước đây là thứ yếu, thậm chí không thấy có, nay là quan trọng và ngày càng quan trọng. Cho nên yêu cầu đối với hệ thống chuẩn của một ngôn ngữ văn hoá có khác nhau khi ngôn ngữ văn hoá chỉ được dùng chủ yếu trong sáng tác văn học với khi nó được dùng ngày càng nhiều trong nghiên cứu và phổ cập khoa học; có khác nhau trước với sau khi giáo dục phổ thông phát triển, các phương tiện media hiện đại phát triển, tin học phát triển, giao lưu văn hoá giữa các nước phát triển. Trước những yêu cầu đa dạng đối với hệ thống chuẩn của ngôn ngữ văn hoá, khi giữa các yêu cầu có mâu thuẫn và không thể đồng thời đáp ứng được mọi yêu cầu, thì không thể có sự đòi hỏi tuyệt đối, mà chỉ có thể chọn giải pháp tối ưu, đáp ứng yêu cầu chủ yếu, cơ bản. Ở đây cần có sự nhạy cảm với cái mới, chú ý những yêu cầu mới và ngày càng quan trọng. Mặt khác, cũng nên tránh một sự chuẩn hoá quá đáng. Chuẩn không phải là một cái gì tuyệt đối. Nó thường tồn tại ở dạng có hai ba biến thể, đáp ứng yêu cầu của những phong cách khác nhau. Chuẩn là kết quả của một sự lựa chọn, nhưng nó không loại trừ sự lựa chọn. Chuẩn không loại trừ hoàn toàn sự vi phạm chuẩn, lắm khi chuẩn cũ và chuẩn mới cùng tồn tại, mà chuẩn mới được hình thành thường chính là từ một sự vi phạm chuẩn hiện có một cách có ý thức. Cho nên có những trường hợp không nên xác định chuẩn một cách vội vàng, mà phải biết chờ đợi.

Việc xác định những quan điểm đúng đắn đối với chuẩn hoá ngôn ngữ văn hoá có ý nghĩa quan trọng quyết định. Nhưng những quan điểm này không thể xác định một lần, bất di bất dịch. Ngôn ngữ văn hoá phát triển, chức năng xã hội - văn hoá của nó được mở rộng, nó đứng trước những yêu cầu mới, thì quan điểm chuẩn hoá có thể phải có thay đổi.

Trước đây một thời, khi phương châm xây dựng văn hoá mới ở nước ta là dân tộc, khoa học, đại chúng, thì có thể nghĩ rằng đó cũng là những phương châm chuẩn hoá và phát triển tiếng Việt văn hoá. Thuật ngữ khoa học mượn của tiếng nước ngoài cũng như tên riêng tiếng nước ngoài dùng vào tiếng Việt đều được phiên âm bằng các vần của chữ quốc ngữ để Việt hoá (phương châm dân tộc), cho quần chúng đông đảo “dễ đọc, dễ nhớ” (phương châm đại chúng).

Nhưng ngày nay, với sự phát triển của khoa học, giáo dục, với sự mở rộng giao lưu văn hoá và mở rộng quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội với nhiều nước trên phạm vi toàn thế giới, hằng ngày chúng ta tiếp xúc với hàng loạt từ ngữ có tính quốc tế, dùng phổ biến trong nhiều ngôn ngữ lớn, và hàng loạt tên riêng nước ngoài, thì việc phiên âm loại từ ngữ này ngày càng bộc lộ có nhiều nhược điểm và bất tiện.

Hiện tượng phổ biến là trên sách báo, tên nhiều nhân vật xưa và nay nổi tiếng trên thế giới có nhiều cách viết phiên âm trong tiếng Việt, lắm khi khác nhau khá xa, và cũng khác khá xa với cách viết trong nguyên ngữ hoặc với cách viết phổ biến trong các ngôn ngữ lớn trên thế giới. Gần đây nhất, khi các báo đưa tin về các trận đấu bóng đá vô địch thế giới Italia - 90, tên các cầu thủ bóng đá thường được viết phiên âm không thống nhất. Thí dụ, chỉ riêng trên báo tờ báo hằng ngày lớn ở Hà Nội, số ra cùng ngày 19 - 6 - 1990, đã thấy có ba cách viết phiên âm tên của cầu thủ Ceuleman của đội Bỉ: Cu-lơ-man (Nhân dân), Cu-lê-man (Quân đội Nhân dân), Sơ-lê-man (Hà Nội mới). Có khi, ở những số khác nhau của cùng một tờ báo, thậm chí ở những bài khác nhau trên cùng một số báo, tên một cầu thủ viết cũng không thống nhất.

Trong khi đó, những năm gần đây, cách viết tôn trọng dạng chính tả trong nguyên ngữ hoặc dạng chính tả phổ biến trên quốc tế của các tên riêng nước ngoài đang có xu hướng ngày càng phổ biến. Đã có một số tờ báo, tạp chí, từ điển khoa học, tác phẩm văn học dịch của nước ngoài áp dụng nhất quán cách viết tên riêng nước ngoài gọi là “theo nguyên dạng” như vậy. Trên các báo và tạp chí khác chủ trương viết phiên âm, cũng lác đác có những tên nước ngoài viết nguyên dạng. Đáng chú ý là những cách viết: UNESCO, UNICEF, TASS, ASEAN, v.v., đã thành quen thuộc. Đồng thời cũng đã thành quen thuộc một số từ, phần lớn là thuật ngữ khoa học, viết theo dạng phổ biến trên quốc tế: festival, stress, sida (theo tiếng Pháp), marketing, telex, v.v. Trên các đường phố ở Hà Nội, các biển cửa hàng đều viết: VIDEO, PHOTOCOPY. Và một hiện tượng phổ biến là hàng loạt hãng và công ti Việt Nam, thành lập 10 năm lại đây, đều được đặt những tên rất “Âu”: Seaprodex, Culturimex, Artexport, Petrovietnam, Vietnam Concert, v.v. Những điều này phản ánh một yêu cầu của thời đại: sự thống nhất về chính tả giữa các ngôn ngữ trên phạm vi quốc tế đối với một mảng từ ngữ nhất định: các tên riêng, một số thuật ngữ khoa học, kĩ thuật... Chính tả là chính, phát âm là phụ. Chính tả cần có sự thống nhất, còn phát âm thì không đòi hỏi mà thực ra cũng không thể đòi hỏi được. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Điện Biên Phủ, các ngôn ngữ có chữ viết bằng chữ cái La tinh trên thế giới đều viết nguyên dạng như vậy chỉ bỏ các dấu phụ (gạch ngang ở chữ Đ, các dấu thanh). Khi chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ban hành hệ thống phiên âm tiếng Hán bằng chữ cái La tinh, năm 1979, theo đó, lấy một thí dụ, Bắc Kinh viết Beijing, thì chỉ sau đó ít lâu, sách báo các tiếng Anh, Pháp, v.v., cũng viết nguyên dạng theo như vậy (thay cho các lối viết Peking, Pékin, trước đây). Và trong các từ điển (thí dụ: Webster ' s New World Dictionary, The American Heritage Dictionary, chú Beijing phát âm “beijing” theo trên chữ viết, không theo phát âm “pậy-ching” trong tiếng Hán. Stress, marketing, video, tiếng Nga cũng viết như vậy bằng cách chuyển tự: stress, marketing, video (CTPECC, Tiếng Nga).

Như vậy, chuẩn hoá tiếng Việt không thể chỉ theo phương châm dân tộc một cách đơn giản, cứng nhắc. Dân tộc ngày nay không thể tách rời với quốc tế. Có những yêu cầu của thời đại, chung cho các ngôn ngữ văn hoá trên thế giới, có những xu thế chung, chúng ta chú ý để có sự giải quyết thoả đáng càng sớm chừng nào thì cái lợi càng lớn chừng ấy, cho thế hệ chúng ta và cho các thế hệ mai sau.

Trên đây là một thí dụ cho thấy ngày nay chuẩn hoá tiếng Việt văn hoá có những vấn đề quan điểm cũng cần có sự xem xét lại. Ở đây cũng vậy, cũng cần có một sự đổi mới cách nhìn, cách suy nghĩ.

4. Ngôn ngữ và đời sống là một vấn đề lớn. Không nên coi đây là một khẩu hiệu kêu gọi đem ngôn ngữ học ứng dụng vào đời sống xã hội. Việc này dĩ nhiên là rất cần thiết, trước nay làm chưa được tốt lắm, cần được đẩy mạnh. Nhưng muốn giải quyết tốt những vấn đề ngôn ngữ và đời sống thì những vấn đề cơ bản về tiếng Việt nói chung, về tiếng Việt văn hoá nói riêng, và những vấn đề về lí thuyết ngôn ngữ học, chúng ta phải có sự đầu tư nghiên cứu thích đáng. Nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng khoa học không thể tách rời, ứng dụng khoa học chỉ có thể làm tốt trên cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản cũng làm tốt.

1990

 

 

Bài đăng trước:

  • Người ta có phải chỉ là... Người ta?
  • Ngôn ngữ thời mở cửa, hội nhập: nên có và nên không?
  • Đâu - Đây - Đấy
  • Lại chuyện I ngắn, Y dài
  • Đến công sở mở quán “buôn dưa”