Ngôn ngữ học

VẤN ĐỀ CHUẨN CHÍNH TẢ
     

GS HOÀNG PHÊ

Một ngôn ngữ văn hoá dân tộc không thể không có chính tả thống nhất. Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp, bằng ngôn ngữ viết, mới không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thời đại, đời trước và đời sau.

Chính tả muốn thống nhất thì phải có chuẩn chính tả, được quy định rõ ràng và được mọi người tuân theo. Chuẩn chính tả, có khi được hình thành dần dần trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ viết, được phản ánh trên sách báo và được ghi lại trong các từ điển, có khi được quy định bởi một cơ quan có quyền uy về mặt nhà nước hoặc về mặt học thuật. Và nhà trường là nơi phổ biến và duy trì chuẩn chính tả một cách có hiệu lực nhất. Trong những trường hợp đang có lưỡng lự, không có chuẩn chính tả rõ ràng và nhất trí, thì nhà trường có thể có một tác dụng lớn trong việc xác định, góp phần tiến tới chính thức quy định chuẩn chính tả. Vì vậy, việc áp dụng một chính tả thống nhất trong các sách giáo khoa, và giảng dạy chính tả thống nhất ấy trong nhà trường, bao giờ cũng là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, được giới giáo dục và nói chung mọi người quan tâm.

Nhìn chung thì chính tả tiếng Việt thống nhất ở phần rất cơ bản: cách viết các âm tiết - hình vị. Chuẩn chính tả đã hình thành dần dần trong lịch sử, một cách ít nhiều tự phát, căn cứ vào những lối viết được ghi lại trong các từ điển, đặc biệt là từ giữa thế kỉ XIX lại đây. Nhưng giữa các từ điển không tránh khỏi có những trường hợp chính tả thiếu nhất trí. Mặt khác, tiếng Việt ngày nay đã phát triển khác trước khá nhiều, có nhiều hiện tượng mới, nhiều yêu cầu mới, đòi hỏi về mặt chữ viết cũng phải có những thay đổi và những phát triển tương ứng. Tình hình đó tạo ra tình trạng chính tả thiếu nhất trí, gây khó khăn cho nhiều mặt công tác, đặc biệt là công tác giảng dạy ở nhà trường.

Vấn đề chính tả bao gồm nhiều vấn đề cụ thể. Những vấn đề này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cần được giải quyết một cách nhất quán, theo những nguyên tắc chung.

 

I. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Nguyên tắc chính tả

Mỗi chữ viết cụ thể được xây dựng trên cơ sở một (hoặc vài) nguyên tắc chính tả. Điều quan trọng là nguyên tắc chính tả cơ bản đó là gì, và nó đã được quán triệt đến đâu.

Chữ viết của tiếng Việt là một chữ viết ghi âm bằng chữ cái. Do đặc điểm của tiếng Việt (ngôn ngữ âm tiết tính, không biến hình), nguyên tắc chính tả cơ bản của chữ Việt đơn giản là nguyên tắc ngữ âm học: phát âm như nhau thì viết giống nhau, và viết giống nhau thì đọc như nhau, giữa phát âm và chính tả có mối quan hệ trực tiếp.

Nhưng nói chính tả dựa trên phát âm không có nghĩa là bất cứ phát âm nào cũng có thể là cơ sở của chính tả. Trán (cái trán), mà viết TRÁNG theo phát âm miền Nam, hoặc viết CHÁN theo phát âm miền Bắc, thì đều là sai chính tả. Chúng ta phát âm tiếng Việt không hoàn toàn thống nhất, có những từ phát âm có khác nhau giữa các địa phương, giữa các phương ngữ. Dựa vào những cách phát âm khác nhau đó mà viết thì chính tả cũng sẽ không thống nhất. Phát âm là cơ sở cho chính tả tiếng Việt không phải là phát âm thuần tuý của một phương ngữ nào. Phương ngữ miền Nam không phân biệt trán với tráng, đều phát âm là “tráng”; trong khi đó phương ngữ miền Bắc không phân biệt trán với chán, đều phát âm là “chán”. Phát âm làm cơ sở cho chính tả tiếng Việt vừa phân biệt -n với -ng như phát âm miền Bắc, vừa phân biệt tr- với ch- như phát âm miền Nam, nên phân biệt trán, một mặt với tráng, một mặt với chán (và do đó cả với cháng). Những sự phân biệt -n với -ng, tr- với ch-, có tác dụng làm phân biệt những âm tiết-hình vị trán, tráng, chán, cháng, gọi là những sự phân biệt âm vị học (phân biệt thành các âm vị đối lập -n với -ng, tr- với ch-). Những sự phân biệt âm vị học có tác dụng tích cực như vậy trong các phương ngữ đã được triệt để tận dụng. Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng phát âm làm cơ sở cho chính tả tiếng Việt là một sự tổng hợp các sự phân biệt âm vị học có trong các phương ngữ. So với phát âm của phương ngữ miền Nam, thì phát âm của phương ngữ miền Bắc có những sự phân biệt âm vị học phong phú hơn rõ rệt, cho nên thực tế đây là một sự tổng hợp trên cơ sở phát âm của phương ngữ miền Bắc. Hoặc có thể nói đây là phát âm hình thành trên cơ sở phát âm miền Bắc, mà tiêu biểu là phát âm của thủ đô Hà Nội, có bổ sung những sự phân biệt âm vị học đặc trưng của phát âm miền Nam và các miền khác của đất nước; cụ thể là có bổ sung các phụ âm đầu tr-, đối lập với ch-; s- đối lập với x-; r- đối lập với z- (viết bằng D-/GI-); và các khuôn -ưu, đối lập với -iu; -ươu đối lập với -iêu.

Dạng tồn tại tự nhiên của ngôn ngữ là phương ngữ, cho nên phát âm tự nhiên của tiếng Việt chỉ có thể là các phát âm phương ngữ. Người Việt Nam chúng ta phát âm tiếng Việt một cách tự nhiên, chỉ có thể nói (cái) “chán”, nếu là người miền Bắc, hoặc (cái) “tráng” nếu là người miền Nam, phát âm cái  “trán” vốn không tồn tại một cách tự nhiên. Nhưng dần dần chúng ta ý thức được rằng tiếng Việt chúng ta là một ngôn ngữ thống nhất, sự thống nhất đó thể hiện rõ rệt ở chính tả, đồng thời cũng cần được thể hiện ở phát âm; cần có một phát âm chung của cả nước, của dân tộc, một phát âm thống nhất của tiếng Việt, hay nói cách khác, một phát âm chuẩn, một chính âm của tiếng Việt. Trong trường hợp cụ thể này, nhiều người nghĩ một cách tự nhiên rằng phát âm chuẩn không thể là “tráng”, cũng không thể là “chán”, mà chỉ có thể là “trán”, vừa phân biệt -n với -ng, vừa phân biệt tr- với ch-. Nói cách khác, một khi chúng ta đã thừa nhận rằng chỉ có viết TRÁN mới đúng chính tả, thì chúng ta cũng mặc nhiên thừa nhận rằng chỉ có phát âm “trán” mới là đúng chính âm. Một khi chúng ta đã thừa nhận chính tả hiện nay của tiếng Việt, thì mặc nhiên chúng ta cũng thừa nhận rằng chính âm của tiếng Việt chính là phát âm đã làm cơ sở cho chính tả đó, hay nói cách khác, đã được phản ánh trên chính tả đó. Chính âm và chính tả có quan hệ trực tiếp với nhau, chính âm là cơ sở cho chính tảchính tả phản ánh chính âm. Vấn đề chính âm của tiếng Việt đã từng là một đề tài tranh luận, nhưng trên thực tế nó đã được giải quyết về nguyên tắc từ lâu rồi và đơn giản như vậy. Và trên thực tế, cũng đã hình thành một lớp người, tuy hiện nay đang còn là số ít, có ý thức không những viết đúng chính tả mà còn cố gắng nói đúng chính âm, ít nhất là trong những trường hợp nhất định: một số người miền Nam cố gắng phát âm phân biệt v- với d-/gi-, -n với -ng, -t với -c, phân biệt các thanh điệu hỏi và ngã, v.v.; cũng như một số người miền Bắc cố gắng phát âm phân biệt tr- với ch-, s- với x-, v.v. Cùng với sự phát triển của văn hoá giáo dục, số người đó ngày một tăng. Tuy nhiên, phổ biến chính âm và thống nhất phát âm là cả một quá trình lâu dài, khó khăn hơn rất nhiều so với chuẩn hoá và thống nhất chính tả. Đi đôi với chính tả, nhà trường cũng cần dạy chính âm cho học sinh, nhưng yêu cầu có khác nhau: nếu yêu cầu viết đúng chính tả là tuyệt đối, thì yêu cầu nói đúng chính âm, ít nhất là hiện nay, chỉ có thể là tương đối. Nên giới thiệu chính âm cho học sinh, và yêu cầu học sinh cố gắng đọc đúng chính âm trong những trường hợp nhất định, như trong giờ tập đọc chẳng hạn. Ý thức coi trọng chính tả, và cùng với chính tả là chính âm của tiếng Việt, là biểu hiện của ý thức coi trọng tiếng Việt, một nhân tố quan trọng làm nên sự thống nhất của dân tộc ta.

2. Chuẩn chính tả

Chuẩn chính tả có một số đặc điểm khác những chuẩn khác (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của ngôn ngữ.

a) Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối. Yêu cầu viết đúng chính tả là yêu cầu phổ biến đối với mọi người. Một cách viết rõ ràng là không hợp lí, thậm chí vô lí nhưng đã được công nhận là chuẩn chính tả, thì ai cũng phải theo. Về mọi mặt, viết NGỀ NGIỆP hợp lí hơn viết NGHỀ NGHIỆP, vừa khoa học hơn lại vừa giản tiện hơn, tiết kiệm hơn, thế nhưng trong chữ Việt cho đến ngày nay chỉ có viết NGHỀ NGHIỆP mới là đúng chính tả. Về mặt chính tả, không có sự phân biệt hay - dở, mà chỉ có sự phân biệt đúng sai (với chuẩn). Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là sự thống nhất. Một chữ viết không thật hợp lí, nhưng có chính tả thống nhất, quy đến cùng, vẫn tốt hơn, tiện lợi hơn là một chữ viết có phần hợp lí hơn nhưng chính tả lại không thống nhất. Để bảo đảm sự thống nhất của chính tả, cần có những chuẩn chính tả được xác định rõ ràng. Và với những điều kiện như nhau, thì quy tắc chính tả tốt nhất là những quy tắc rõ ràng và đơn giản, vừa không có trường hợp mập mờ, vừa dễ áp dụng cho số đông.

b) Chuẩn chính tả có tính ổn định cao, rất ít thay đổi. Chuẩn chính tả thường được giữ nguyên trong một thời gian dài, nên cũng thường tạo thành thói quen ít nhiều lâu đời, tạo nên một tâm lí bảo thủ khá phổ biến. Ngày nay chúng ta đã quá quen với những hình thức chính tả như YÊU GHÉT, đến mức nếu có người chủ trương viết (hợp lí hơn) IÊU GÉT chẳng hạn, thì phản ứng đầu tiên ở nhiều người là thấy chướng mắt, thậm chí khó chịu. Mặt khác, khi ngôn ngữ đã phát triển thành ít nhiều khác trước, đặc biệt là về mặt ngữ âm, mà chính tả (ghi âm) vẫn giữ nguyên không thay đổi, thì có thể phát sinh những mâu thuẫn nhất định, tạo nên những bất hợp lí hoặc rắc rối của chính tả. Tiếng Việt trước kia phát âm phân biệt hai phụ âm d-gi-, nhưng từ ít nhất hơn một thế kỉ nay, sự phân biệt đó trong phát âm thực tế không còn nữa. Thế nhưng trên chính tả thì vẫn viết phân biệt D- với GI- như cũ, tạo nên một khó khăn về chính tả: nên viết (trau) DỒI hay GIỒI, (già) DẶN hay GIẶN? Gần đây có một số từ mượn của tiếng nước ngoài, chúng ta viết GI (gilê), GIĂM (giămbông), với GI- chỉ vì không có cách nào khác, chứ thật ra chúng ta đâu có phát âm “gi”, “giăm”, mà ở đây là một âm mới chúng ta tiếp thu của tiếng nước ngoài, “ji”, “jăm” (nếu tạm ghi bằng J). Bằng cải tiến chính tả có thể xoá bỏ những bất hợp lí như vậy. Nhưng điều cần thiết là sau một thời gian lại có mâu thuẫn mới phát sinh, cho nên thường chỉ có thể đòi hỏi ở chính tả một tính hợp lí tương đối (dĩ nhiên là trong phạm vi tương đối đó, một chính tả hợp lí vẫn tốt hơn).

c) Nhưng dù có tính ổn định cao, chuẩn chính tả cũng như các chuẩn ngôn ngữ khác, cũng không phải là bất di bất dịch. Ban đầu là có một số hình thức chính tả mới nảy sinh, hoặc để nhằm thay thế cho những chuẩn chính tả đã rõ ràng trở thành lỗi thời, hoặc để đáp ứng những yêu cầu mới của ngôn ngữ. Hình thức chính tả mới này có thể dần dần được nhiều người tán thành, đến mức được công nhận là chuẩn. Trước đây, viết ĐÀY TỚ, TRẰM TRỒ là chuẩn; ngày nay phổ biến hơn nhiều là viết ĐẦY TỚ, TRẦM TRỒ, phản ánh phát âm đã có biến đổi. Trước đây chỉ ít chục năm, viết PA, XTA là xa lạ đối với chính tả tiếng Việt; ngày nay, viết PIN (so sánh BIN), PARI (so sánh BA LÊ), APATIT, XTALIN (so sánh A-PA-TÍT, XÍT-TA-LIN) là bình thường. Tình hình nói trên thường tạo ra, trong một giai đoạn nào đó, tình trạng có thể gọi là lưỡng khả: có hai ba hình thức chính tả khác nhau cùng tồn tại, những hình thức chính tả này có thể có giá trị như nhau (đều là chuẩn), hoặc có giá trị khác nhau (có một hình thức là chuẩn phổ biến, còn những hình thức khác chỉ được sử dụng một cách hạn chế là những biến thể chính tả cũ, hoặc phương ngữ, ít dùng, v.v.). Lưỡng khả là một tình trạng quá độ trong quá trình hình thành của chuẩn ngôn ngữ, cũng như trong quá trình chuyển biến biện chứng từ cái không chuẩn trở thành chuẩn, và ngược lại. Trong những trường hợp nhất định, tính lưỡng khả còn đáp ứng yêu cầu của các phong cách, cung cấp những biến thể phù hợp với những phong cách khác nhau. Chuẩn chính tả không chỉ đơn giản là xác định (hoặc quy định) chuẩn chính tả, mà còn là xác định những trường hợp thật sự có lưỡng khả, và trong từng trường hợp, xác định giá trị khác nhau của mỗi hình thức chính tả.

d) Cũng như các chuẩn ngôn ngữ khác, chuẩn chính tả là kết quả của một sự lựa chọn: lựa chọn giữa nhiều hình thức chính tả đang cùng tồn tại. Những hình thức chính tả này có thể phản ánh những cách phát âm khác nhau: có khi đó là một phát âm cũ bên cạnh phát âm ngày nay, thí dụ, so sánh chỗi/trỗi (dậy), uý/uỷ (lạo); có khi đó là hai ba cách phát âm khác nhau đang cùng tồn tại trong phạm vi cả nước, khó xác định một chuẩn phát âm duy nhất, thí dụ, so sánh chưng/trưng (bày), (eo) sèo/xèo; có khi đó là một cách phát âm tuy là phổ biến, nhưng có ý kiến cho là “sai”, bên cạnh một cách phát âm khác, được một số người đánh giá là “đúng”, nhưng lại không phổ biến, thí dụ, so sánh (khoái) trá/chá, mãn/mạn (tính). Cũng có những trường hợp tuy rằng để phản ánh một phát âm duy nhất, nhưng lại đang tồn tại hai ba hình thức chính tả, hoặc là do bất hợp lí của bản thân chữ viết, thí dụ, so sánh HI/HY (sinh), QUÍ/QUÝ; hoặc là do đây là một từ phương ngữ, với một phát âm phương ngữ có thể viết hai ba cách khác nhau, thí dụ, so sánh MẮC/MẮT (rẻ), MẢNG/MÃNG/MÃN (cầu) (viết khác nhau, nhưng đều đọc giống nhau, trong phương ngữ miền Nam).

Giữa những hình thức chính tả khác nhau đang cùng tồn tại như vậy, qua thực tiễn sử dụng ngôn ngữ viết của số đông, đặc biệt là của lớp người có văn hoá, có ảnh hưởng về mặt chuẩn hoá ngôn ngữ, dần dần thấy rõ một sự lựa chọn của xã hội, có khi có ý thức, có khi không hoàn toàn có ý thức. Sự lựa chọn này dựa trên những tiêu chí nhiều khi khác nhau: tiêu chí ngữ âm (căn cứ vào phát âm ngày nay), tiêu chí thói quen (căn cứ vào thói quen đã hình thành của số đông), tiêu chí lịch sử (căn cứ vào phát âm hoặc hình thức chính tả đã có từ lâu trong lịch sử của ngôn ngữ, như đã được phản ánh trong sách cũ, từ điển cũ), tiêu chí từ nguyên (căn cứ vào phát âm hoặc hình thức chính tả phản ánh đúng nhất nguồn gốc của từ), v.v. Trong ngôn ngữ không thể đòi hỏi một tính hệ thống tuyệt đối, cho nên cũng không thể máy móc dựa vào một tiêu chí duy nhất trong mọi trường hợp, nhưng dựa trên tiêu chí nào là chính, coi trọng tiêu chí nào hơn những tiêu chí khác, phản ánh những quan điểm khác nhau, có khi đối lập nhau. Chuẩn chính tả phải lấy chuẩn phát âm làm cơ sở, và ngược lại, trong những trường hợp nhất định, nó phải có tác dụng trở lại phát âm, góp phần nhanh chóng xác định, củng cố và phổ biến chuẩn phát âm. Mặt khác, đối với sự hình thành cũng như sự duy trì, củng cố của chuẩn ngôn ngữ, thói quen của số đông thường có ý nghĩa quyết định cuối cùng. Khi đã là thói quen của số đông, nhất là một thói quen ngày một ăn sâu lan rộng, bất chấp mọi ý kiến phản bác, thì ở đây đã có tác động của một quy luật khách quan nào đó. Khi một phát âm mới đã trở thành thói quen như thế của số đông, thì chứng tỏ thực tế đã hình thành một chuẩn phát âm mới, làm cơ sở cho một chuẩn chính tả mới. Tiêu chí ngữ âm kết hợp với tiêu chí thói quen, phải là quan trọng nhất, là quyết định, vì chỉ khi nào, vì những lí do nào đó, không thể vận dụng được hai tiêu chí ấy kết hợp với nhau, thì mới vận dụng đến một số tiêu chí khác.

Hơn các chuẩn ngôn ngữ khác, chuẩn chính tả có thể chịu tác động trực tiếp và có ý thức của con người, và thường là kết quả trực tiếp của công tác chuẩn hoá. Chữ viết do con người đặt ra một cách có ý thức, cho nên con người hoàn toàn có thể quy định chuẩn chính tả một cách có ý thức, nhằm làm cho chính tả đạt cái mức tối đa thực tế cho phép của một sự hợp lí tương đối, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của ngôn ngữ.

 

II. CHÍNH TẢ ÂM TIẾT-HÌNH VỊ CỦA TIẾNG VIỆT

1. Về cách viết các âm tiết-hình vị của tiếng Việt, chúng ta có một chính tả về cơ bản thống nhất. Mặc dầu giữa các phương ngữ vẫn tồn tại những sự khác nhau đáng kể trong phát âm, các âm tiết-hình vị của tiếng Việt nói chung đều có chuẩn chính tả rõ ràng, ổn định và thống nhất cho cả nước.

2. Ở diện cách viết các âm vị, chính tả tiếng Việt không thật quán triệt nguyên tắc ngữ âm học (âm vị học): có nhiều trường hợp dùng hai ba kí hiệu (con chữ) khác nhau để ghi cùng một âm vị (như dùng C, K hoặc Q để ghi âm vị /k/). Nhưng điều đáng chú ý là việc dùng những con chữ khác nhau tuân theo những quy tắc chặt chẽ (thí dụ, nếu đã viết CA, KE, QUY, thì không viết KA, CE, CUY, KUY), trong sự thiếu nhất quán lại vẫn có được một sự nhất quán, cho nên mặc dầu trong nhiều trường hợp không có được sự tương ứng một đối một chặt chẽ giữa chữ và âm ở cách viết các âm vị, nhưng lại vẫn bảo đảm được sự tương ứng đó ở cách viết các âm tiết: nói chung mỗi âm tiết của tiếng Việt chỉ có một cách viết (một vần) nhất định, và ngược lại, mỗi vần chỉ có một cách đọc nhất định. Cho nên chỉ cần nắm cách phát âm chuẩn làm cơ sở cho chính tả (hoặc nói cách khác, nắm những sự khác nhau giữa cách phát âm phương ngữ với cách phát âm chuẩn), và một số quy tắc không nhiều lắm, là nói chung có thể viết căn bản không sai chính tả.

Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ, với cùng một âm tiết lại có hai cách viết khác nhau, tuỳ từng hình vị, từng từ cụ thể, tạo nên những khó khăn về chính tả và tình trạng chính tả thiếu nhất trí. Đó là trường hợp D- và GI-, vẫn viết phân biệt, tuy phát âm không còn phân biệt nữa, như đã nói ở trên. Ngoài ra, còn có trường hợp quy, có thể viết QUI hoặc QUY; và trường hợp chỉ riêng mấy âm tiết hi, ki, li, mi, ti, tuỳ từng hình vị, từng từ cụ thể mà viết khác nhau HI hoặc HY, KI hoặc KY, LI hoặc LY, MI hoặc MY, TI hoặc TY (so sánh HỈ (mũi) và (báo) HỶ, LI (bì), LI (ti) và LY (kỳ), (biệt) LY, v.v.). Đây là kết quả của một thói quen không rõ từ đâu, chỉ bắt đầu hình thành một cách tự phát từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Điều này tạo ra một bất hợp lí và những lộn xộn thấy rõ khi so sánh chẳng hạn cách viết một số từ trong bốn quyển từ điển tiếng Việt xuất bản trong vòng ba mươi năm lại đây (Tự điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập, viết tắt ĐVT; Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị, viết tắt TN; Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, viết tắt LVĐ; và Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên, viết tắt VT):

Bỏ sự phân biệt D- và GI- (như thay nhất loạt bằng Z- chẳng hạn), là việc làm hợp lí, nhưng chỉ có thể thực hiện trong phạm vi một cải tiến chính tả. Còn nếu quy định viết HI, KI, LI, MI, TI (thống nhất với cách viết BI, CHI, DI, v.v.) trong mọi trường hợp, chứ không viết HY, KY, LY, MY, TY; đồng thời viết QUY (và do đó QUYT) (thống nhất với cách viết UY, DUY, HUY, SUY, và HUYT, SUYT, v.v.), chứ không viết QUI (và QUIT), thì đó chỉ là trong phạm vi chuẩn hóa chính tả: một việc có thể làm và nên làm để hợp lí hoá một bước chính tả.

3. Vấn đề quan trọng nhất là xác định chuẩn chính tả khi đang có hiện tượng chính tả không nhất trí. Cần so sánh mức phổ biến của các hình thức chính tả để có được một căn cứ khách quan đáng tin cậy. Muốn vậy, tốt nhất là tiến hành một công tác điều tra về tình hình chính tả thực tế trên sách báo trong cả nước và qua các thời kì (trong những trường hợp cần thiết, cần có sự phối hợp với một công tác điều tra về phát âm). Không có điều kiện làm việc này, những người biên soạn từ điển trước đây, kể cả biên soạn từ điển chính tả, ngoài việc tham khảo chính tả trong các từ điển xuất bản trước, chỉ có thể dựa vào những hiểu biết cá nhân rất hạn chế và khó tránh khỏi chủ quan của mình về phát âm, về chính tả trên sách báo, và có khi cả về từ nguyên, để quyết định chọn một hình thức chính tả nào đó. Kết quả là chính trong những trường hợp cần xác định rõ ràng, có căn cứ và nhất trí một chuẩn chính tả, thì giữa các từ điển thường có mâu thuẫn, và nhiều khi sai lầm ở một từ điển này được lặp lại ở các từ điển khác.

Gần đây chúng ta đã có được một cơ sở để nghiên cứu tình hình chính tả thực tế trên sách báo. Đó là tư liệu phiếu từ điển (mỗi phiếu ghi một câu chọn trích ở sách báo, chủ yếu là ở các tác phẩm văn học) của Viện Ngôn ngữ học thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, với số lượng hiện nay đã đạt khoảng hai triệu rưỡi phiếu. Chúng tôi đã sử dụng tư liệu đó để so sánh mức độ phổ biến của các hình thức chính tả khác nhau của cùng một âm tiết hình vị, trong khoảng 1400 trường hợp, với từng trường hợp đều có đối chiếu với các hình thức chính tả trong các từ điển, chủ yếu là những từ điển xuất bản trong vòng 50 năm lại đây. Kết quả cho thấy rằng:

1. Có những trường hợp trong hai hình thức chính tả ghi không nhất trí giữa các từ điển, có một hình thức phổ biến hơn rõ rệt. Thí dụ, nhiều từ điển viết DA DIẾT, (láng) GIỀNG, nhưng các từ điển cũ, từ từ điển của A de Rhodes (1651) cho đến nói chung những từ điển xuất bản từ trước 1930, và một vài từ điển sau 1930, lại viết GIA GIẾT, (láng) DIỀNG; so sánh số phiếu từ điển (cho đến tháng 12-1982): GIA GIẾT: 1 phiếu; DA DIẾT: 202 phiếu; (láng) DIỀNG: 1 phiếu; (láng) GIỀNG: 84 phiếu. Như vậy có thể xác định chuẩn chính tả ngày nay là DA DIẾT, (láng) GIỀNG, còn GIA GIẾT, (láng) DIỀNG là những chuẩn chính tả cũ. Hoặc so sánh (chối) ĐAY ĐẢY: 4 phiếu; ĐÂY ĐẨY: 54 phiếu; ĐẴM (máu): 10 phiếu; ĐẪM: 241 phiếu; có thể xác định chuẩn chính tả ngày nay là ĐÂY ĐẨY, ĐẪM, còn ĐAY ĐẢY, ĐẴM vốn là những chuẩn chính tả cũ, ngày nay chỉ tồn tại như là những biến thể chính tả có tính chất phương ngữ (miền Nam).

2. Có những trường hợp có một hình thức chính tả mới, không thấy có trong các từ điển (trước kia bị đánh giá là “sai”), nhưng lại phổ biến hơn rõ rệt, gấp nhiều lần hình thức chính tả đã được ghi nhất trí trong các từ điển cho đến gần đây. Thí dụ: TRẦM (trồ): 212 phiếu, so với (chuẩn theo các từ điển) TRẰM (trồ): 10 phiếu; ĐẦY (tớ): 54 phiếu, so với ĐÀY (tớ): 3 phiếu; đề (kháng): 99 phiếu, so với để (kháng): 4 phiếu; hoặc (trường hợp phức tạp hơn) RUN RỦI: 40 phiếu, so với (hình thức chính tả ghi không nhất trí trong các từ điển) DUN DỦI: 14 phiếu, DUN GIỦI: 0 phiếu, DUN RỦI: 0 phiếu, GIUN GIỦI: 1 phiếu. Như vậy, có thể xác định chuẩn chính tả ngày nay là TRẦM (trồ), đầy (tớ), đề (kháng), RUN RỦI; cònTRẰM (trồ), DÀY (tớ) là những hình thức chuẩn chính tả cũ, ngày nay chỉ còn tồn tại như là những biến thể chính tả phương ngữ, ít dùng; ĐỂ (kháng) là hình thức chuẩn chính tả cũ, ngày nay thực tế không dùng nữa; DUN DỦI có thể là chuẩn chính tả cũ, hoặc biến thể phương ngữ, còn DUN GIỦI, DUN RỦI, GIUN GIỦI chỉ là những lối viết sai lầm, theo chủ quan của người biên soạn từ điển.

Khi một hình thức chính tả mới, phản ánh một cách phát âm mới, đã trở thành phổ biến đến mức được công nhận là chuẩn, thay thế cho chuẩn chính tả cũ thì điều đó có nghĩa là ngữ âm đã có biến đổi, một thói quen phát âm mới của từ đã hình thành, trở thành chuẩn, thay thế cho chuẩn cũ, làm cho vỏ ngữ âm của từ có thể biến đổi thành khác hẳn, hoặc thành càng xa hơn cái dạng gốc, từ nguyên của nó. Đây là một hiện tượng ngôn ngữ bình thường, có tính quy luật.

3. Nhưng cũng có những trường hợp đang có sự giằng co, nếu có thể nói được như vậy, giữa hai hình thức chính tả. Có khi một trong hai hình thức chính tả này phản ánh một phát âm phù hợp với từ nguyên, và cái căn cứ từ nguyên tương đối rõ làm cho phát âm (và hình thức chính tả tương ứng) ấy được một số người có văn hoá, duy trì, bảo vệ một cách có ý thức trước sự phổ biến của một phát âm khác, bị đánh giá là “sai”. Do đó mà trên chữ viết, hình thức chính tả phản ánh phát âm phù hợp với từ nguyên có thể vẫn tương đối phổ biến hơn (và thường đó cũng là hình thức chuẩn được ghi lại trong các từ điển). Thí dụ, so sánh HẰNG (trong “hằng ngày, hằng tháng”, từ gốc Hán; so sánh: “hằng nghĩ tới”, “vĩnh hằng”): 60 phiếu; HÀNG: 37 phiếu. Trong những điều kiện như vậy, nên xác định HẰNG vẫn là chuẩn chính tả (và phân biệt vớiHÀNG trong “hàng mấy ngày”, “đợi hàng giờ”, tuy không loại trừ khả năng có sự thay đổi về sau này, nếu quả phát âm “hàng ngày” và cả hình thức chính tả tương ứng, vẫn cứ tiếp tục ngày càng phổ biến. Nhưng những trường hợp như thế không nhiều, chỉ là cá biệt. Thường là khi có hai hình thức chính tả phổ biến tương đương như nhau, thì phải chấp nhận cả hai, thừa nhận sự tồn tại đồng thời của hai chuẩn chính tả có giá trị như nhau, hoặc căn bản như nhau, tuy rằng có thể một hình thức sẽ có khả năng dần dần trở thành chuẩn phổ biến duy nhất. Thí dụ (eo) SÈO: 37 phiếu, và (eo) XÈO: 34 phiếu; NHỎM (dậy): 119 phiếu, và NHỔM: 110 phiếu; (sinh) MẠNG: 46 phiếu và (sinh) MỆNH: 49 phiếu; (chuẩn theo các từ điển) ĐÀY (đoạ): 43 phiếu, và ĐẦY (đoạ): 47 phiếu; (chuẩn theo các từ điển) (trôi) GIẠT: 94 phiếu, vàDẠT: 104 phiếu.

4. Sự diễn biến của chính tả tiếng Việt trong mấy chục năm gần đây cho thấy rõ một vài xu thế biến đổi của chuẩn chính tả tiếng Việt ngày nay. Đáng chú ý là trong nhiều trường hợp, hình thức chính tả vốn là biến thể phương ngữ miền Bắc đã dần dần trở nên phổ biến thành chuẩn chính tả của tiếng Việt văn hoá ngày nay, thay thế cho chuẩn chính tả trước đây, nay bị coi là cũ, hoặc bị đẩy xuống địa vị biến thể phương ngữ (miền Nam). Quá trình này đã diễn ra với ĐÂY ĐẨY, ĐẪM, TRẦM (trồ), ĐẦY (tớ) đã nêu ở trên; và với (ôm) CHẦM: 99 phiếu, thay cho (ôm) CHẰM: 5 phiếu; CHÂY (lười): 35 phiếu, thay cho TRÂY (lười): 8 phiếu; (nuốt) CHỬNG: 87 phiếu, thay cho TRỬNG: 9 phiếu; ĐẦM (đìa): 155 phiếu, thay cho ĐẰM (đìa): 3 phiếu; NHẤM (nháp): 103 phiếu, thay cho NHẮM (nháp): 12 phiếu; (công) XÁ: 35 phiếu, thay cho (công) SÁ: 12 phiếu, v.v.; quá trình này đang tiếp tục diễn ra với một số từ khác. Hiện tượng này xảy ra với loại từ nào và trong những điều kiện như thế nào, là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, nhưng có điều tương đối rõ là phần lớn đây là những trường hợp phương ngữ miền Bắc phát âm với -â-, mà không có sự đối lập với -ă-, trong khi phương ngữ miền Nam phát âm với -ă-, (viết Ă hoặc A, trong AU, AY) có đối lập với -â-. Xu thế trên đây chứng tỏ vai trò và ảnh hưởng của phương ngữ miền Bắc đối với sự hình thành và phát triển của tiếng Việt văn hoá.

Một xu thế khác đáng chú ý là viết D- thay cho (chuẩn theo các từ điển) GI: không kể trường hợp DA DIẾT trong lịch sử, hiện tượng này đã xảy ra với: (già) DẶN: 153 phiếu, thay cho (già) GIẶN: 24 phiếu; DÂY (máu ăn phần): 48 phiếu, thay cho GIÂY: 26 phiếu; (mái) DẦM: 20 phiếu, thay cho GIẦM: 3 phiếu; DỀNH DÀNG: 103 phiếu, thay cho GIỀNH GIÀNG: 0 phiếu, v.v.; xu thế này đang tiếp tục diễn ra với một số từ khác. Điều này chứng tỏ sự phân biệt trên chữ viết D- với GI- đã không còn có cơ sở ngữ âm nữa, và khi lưỡng lự thì dễ có xu hướng viết D-, vì là đơn giản hơn.

5. Trên đây chỉ là một số nhận xét chung. Chuẩn chính tả cần được xác định một cách cụ thể, từng trường hợp một. Một quyển từ điển chính tả mới là cần thiết, để thiết thực chuẩn hoá chính tả.

 

III. CHÍNH TẢ TÊN RIÊNG

Trên sách báo hiện nay, tình trạng chính tả thiếu nhất trí có nhiều nhất ở cách viết tên riêng (tên người, tên địa lí, tên cơ quan, tổ chức xã hội, v.v.) tiếng Việt và không phải tiếng Việt (tiếng nước ngoài và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số anh em).

Trong ngôn ngữ, tên riêng làm thành một lớp từ đặc biệt, và do đó chính tả cũng có những đặc điểm riêng.

1. Đặc điểm của tên riêng

Tên riêng nói chung không có nghĩa, và cũng không có quan hệ hệ thống với nhau. Tên riêng là dùng để chỉ một cá thể (một con người cụ thể, một sự vật cụ thể, một tổ chức cụ thể,...). Khi cá thể x mang tên riêng A, thì hễ đọc thấy, hoặc nghe thấy A, là người ta biết rằng nói x, chứ không phải một cá thể nào khác; và hễ muốn nói x, là người ta dùng A, chứ không một tên riêng nào khác. Ở đây đòi hỏi phải có sự tương ứng một đối một chặt chẽ giữa A và x, để tránh mọi sự lẫn lộn. Do đó yêu cầu chủ yếu đối với tên riêng là có một hình thức âm - chữ xác định, riêng biệt, bảo đảm không lẫn với những tên khác. Tức là yêu cầu tên riêng giữ được sự đồng nhất với bản thân nó trong mọi trường hợp.

Trên nguyên tắc cho phép tên riêng có những đặc trưng hết sức cá biệt về ngữ âm - chính tả. Tên riêng có thể là những âm nghe rất lạ tai, và có thể có một hình thức chính tả không bình thường, không theo một quy tắc nào cả (thí dụ, những tên riêng tiếng Việt Tchya, Hồ Dzếnh, Nguỵ Như Kontum).

2. Chính tả tên riêng tiếng Việt

Những năm gần đây, qua nhiều cuộc thảo luận và qua sự thử nghiệm trên sách báo, dần dần nhiều người đã tán thành lối viết nhân danh địa danh tiếng Việt bằng cách viết hoa tất cả các âm tiết, thí dụ: Trần Quốc Tuấn, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hà Nội, Bình Trị Thiên. Còn tên các cơ quan, tổ chức xã hội, v.v.. thì chỉ viết hoa âm tiết đầu của cả tổ hợp từ, thí dụ: Trường đại học bách khoa Hà Nội, Đảng cộng sản Việt Nam. Ưu điểm của giải pháp này là nó cho những quy tắc đơn giản, dễ quán triệt, do đó dễ dàng đảm bảo một chính tả thống nhất.

Nhưng phức tạp hơn nhiều là vấn đề chính tả tên riêng không phải tiếng Việt.

3. Chính tả tên riêng không phải tiếng Việt

a) Khi một ngôn ngữ này sử dụng những tên riêng ở ngôn ngữ khác, thì yêu cầu cơ bản vẫn là mỗi tên riêng phải giữ được sự đồng nhất với bản thân nó trong mọi trường hợp, không lẫn lộn với những tên riêng khác, để khỏi gây trở ngại cho sự giao tiếp. Ở đây không chỉ đòi hỏi sự thống nhất của một tên riêng trong nội bộ ngôn ngữ đang xét, mà còn đòi hỏi một sự thống nhất, rộng hơn, của tên riêng đó trong ngôn ngữ đang xét với bản thân nó trong nguyên ngữ và cả trong các ngôn ngữ khác nữa, tức là sự thống nhất trong phạm vi quốc tế. Sở dĩ như vậy, là do yêu cầu sự giao lưu văn hoá ngày một mở rộng giữa các dân tộc. Ở thời đại ngày nay, trong ngôn ngữ dần dần đã hình thành một mảng những từ có tính chất quốc tế, đó là một số không ít thuật ngữ khoa học - kĩ thuật, nói chung các tên riêng, và cả một số từ thường dùng trong sinh hoạt thường ngày. Những tên riêng như Thales Newton, Beethoven, Marx, Washington, Paris, Moskva, bất cứ người gọi là có văn hoá nào trên thế giới cũng đều phải biết, đều thường ngày có thể đọc đến hoặc nghe nói đến. Những từ Việt Nam, Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh cũng đã trở thành quốc tế.

Cho nên khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau, thật ra không có vấn đề gọi là mượn tên riêng của nhau, mà chỉ có vấn đề một ngôn ngữ này sử dụng như thế nào những tên riêng của các ngôn ngữ khác, bảo đảm như thế nào một tính thống nhất với trong nguyên ngữ và trong các ngôn ngữ khác.

b) Ở nước ta, xu hướng chỉ đạo trước đây, đối với tên riêng không phải tiếng Việt (chủ yếu là tên riêng nước ngoài), là phiên âm: trước kia là phiên âm gián tiếp, qua tiếng Hán đọc âm gọi là Hán-Việt, kiểu Luân Đôn), rồi sau đó, qua tiếng Pháp (kiểu Ăng ghen). Có ý kiến rằng, vì ngôn ngữ thì trước hết là âm, cho nên hợp lí nhất, tốt nhất là dựa vào cách phát âm chuẩn trong nguyên ngữ, dùng chữ viết của ta, phiên thành những tên có âm na ná; như vậy sẽ tạo nên những tên riêng nước ngoài đã được Việt hoá, nhân dân ta dễ đọc, dễ nhớ. Chủ trương này thật ra không phù hợp với lí luận ngôn ngữ học, mà cũng không thực tế.

1) Đúng là ngôn ngữ trước hết là ngôn ngữ nói, và chữ viết là để ghi lại ngôn ngữ nói. Đối với những ngôn ngữ có chữ viết ghi âm, thì quan hệ giữa âm và chữ là ngữ âm quyết định chính tả. Nói chung là như vậy. Nhưng nói chung tức có nghĩa là không phải bao giờ cũng như vậy. Quan hệ giữa âm và chữ là một quan hệ biện chứng, và có những trường hợp ngôn ngữ ở dạng viết lại quan trọng hơn ngôn ngữ ở dạng nói, và chính tả quyết định trở lại phát âm.

Ngôn ngữ viết đáp ứng yêu cầu giao tiếp rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động văn hoá, khoa học, kinh tế, xã hội, chính trị, cả khi con người ở cách xa nhau, hoặc không sống cùng một thời đại với nhau. Chức năng đó đòi hỏi ngôn ngữ viết phải có một tính thống nhất và một tính ổn định rất cao. Phát âm có thể thay đổi, và nhiều khi thay đổi khá nhiều, giữa địa phương này với địa phương khác, giữa thế hệ này với thế hệ khác, nhưng chính tả thì phải thống nhất. Chúng ta phát âm khác nhau “chần quốc tuấn”, “trầng quốc tuứng”, “trầng guức tứng”..., nhưng viết thì mọi người đều thừa nhận là chỉ có thể TRẦN QUỐC TUẤN. Thí dụ trên đây cho thấy rằng ngay đối với tên riêng trong nội bộ ngôn ngữ, như Trần Quốc Tuấn trong tiếng Việt, chính tả cũng là quan trọng hơn phát âm. Nó là nhân tố chính bảo đảm sự thống nhất. Đối với tên riêng nước ngoài lại càng như vậy. Người Mĩ viết LOS ANGELES, và nhiều ngôn ngữ trên thế giới cũng viết LOS ANGELES thống nhất với người Mĩ. Nhưng tên cái thành phố Mĩ này, ngay trong bản thân người Mĩ cũng đã có ít nhất bốn cách phát âm khác nhau (các từ điển Mĩ thường chú ba hoặc bốn cách phát âm, mà không ghi chú một phát âm nào là chuẩn, có thể phiên âm “na ná” là: “loxanjơlơs”, “loxanjơlax”, “loxanggơlơx”, “loxanggơliz”...) và không ai tính được thực tế trên thế giới còn có bao nhiêu cách phát âm khác nữa (một số từ điển Anh Pháp chú phát âm “loxanjiliz”, “loxangghiliz”...). Phát âm có thể khác nhau, thậm chí khác nhau khá nhiều, nhưng chính tả chỉ là một. Nếu viết phiên âm thì biết lấy phát âm nào làm cơ sở?

2) Dựa vào phát âm trong nguyên ngữ mà phiên âm vào trong tiếng Việt, thì không những không phải là khoa học, mà còn vấp phải những khó khăn trên nguyên tắc không thể khắc phục được. Có nhiều trường hợp rất khó biết, thậm chí không thể nào biết được thực sự phát âm trong nguyên ngữ, nếu nguyên ngữ ở đây không phải là một ngôn ngữ quen thuộc. Có khi biết được rồi, vẫn cứ lúng túng, vì có nhiều biến thể phát âm, không có một chuẩn phát âm xác định rõ ràng và ổn định. Đó là chưa kể có những ngôn ngữ phát âm chưa được chuẩn hoá. Và cũng chưa kể lắm khi ngay việc xác định nguyên ngữ của một tên riêng cũng là cả một vấn đề.

Ngay trong những trường hợp thuận lợi nhất, tức là biết đích xác chuẩn phát âm trong nguyên ngữ, thì phiên âm để có được một phát âm na ná sẽ cho phép có nhiều kiểu phiên âm khác nhau, bởi vì na ná không phải là một khái niệm chính xác. Thế nào là “na ná”, na ná như thế nào thì chấp nhận được, và có một cơ sở ngữ âm nào cho một sự na ná nào đó hay không, những câu hỏi như thế rất khó trả lời. Tên nhà văn Anh (John) Galsworthy, có người đã tính rằng phiên âm (na ná) sang tiếng Nga thì trên nguyên tắc có thể có đến 144 kiểu phiên âm khác nhau (có 4 cách viết phiên âm -al, 2 cách viết phiên âm -s, 2 cách viết phiên âm w-, 3 cách viết phiên âm -or, và 3 cách viết phiên âm th-, tổng cộng 4´2´2´3´3=144). Và trên thực tế, người ta đã ghi lại được đến 15 cách viết phiên âm khác nhau tên nhà văn Anh này trên sách báo tiếng Nga! Có lẽ nếu viết phiên âm sang tiếng Việt thì tình hình cũng sẽ tương tự. Chỉ trên báo Nhân Dân và báo Văn Nghệ, hạ tuần tháng 10-1982, tên nhà thơ Pakistan Faiz Ahmed Faiz có đến 5 kiểu phiên sang tiếng Việt khác nhau: Pha-ít ác-mét Pha-ít, Pha-ít At-mét Pha-ít, Phết A-khơ-mét Phết, Pha-ít A-mét Pha-ít, Pha-ít A-mết Pha-ít!

Để khắc phục tình trạng thiếu nhất trí, có thể định ra một số quy tắc phiên âm. Nhưng những quy tắc này sẽ rất phức tạp, nhất là cần phải dự kiến tất cả những trường hợp tên riêng ở tất cả các ngôn ngữ, một việc thực tế không ai có thể làm được. Kết quả không thể tránh khỏi là tạo ra nhiều kiểu viết phiên âm tên riêng nước ngoài, trên chữ viết thì có thể xa lạ với tên trong nguyên ngữ, mà cách đọc thì cũng có thể khác phát âm trong nguyên ngữ khá nhiều, về chữ cũng như về âm không bảo đảm được sự thống nhất với tên trong nguyên ngữ; tạo ra cái tình trạng cùng một tên riêng nước ngoài mà có nhiều kiểu viết phiên âm khác nhau hoặc ngược lại, có nhiều tên riêng nước ngoài khác nhau, nhưng chỉ viết phiên âm cùng một kiểu trong tiếng Việt. Đó là chưa kể khi phát âm trong nguyên ngữ có biến đổi (phát âm dễ có biến đổi, khác với chính tả, ổn định hơn), thì trên nguyên tắc tên viết phiên âm trong tiếng Việt cũng phải biến đổi theo, càng tạo thêm sự thiếu nhất trí.

c) Trước đây, các ngôn ngữ phương Tây cũng từng có xu hướng đồng hoá tên riêng nước ngoài, do đó mà Moskva vào tiếng Pháp thành Moscou, tiếng Anh Moscow, tiếng Đức Moskau; Espana vào tiếng Pháp thành Espagne, tiếng Anh Spain, tiếng Italia Spana; Eukleidês vào tiếng Pháp thành Euclide, tiếng Anh Euclid, v.v. Nhưng đó là từ giữa hoặc cuối thế kỉ XIX về trước, chứ còn ngày nay thì xu hướng chung, xu hướng chủ đạo là không đồng hoá vào trong ngôn ngữ của mình những tên riêng nước ngoài, mà cố gắng tôn trọng cái dạng vốn có ở ngôn ngữ nước ngoài của nó. Đối với những ngôn ngữ không có chữ viết ghi âm cùng một hệ chữ cái như nhau, thì sự tôn trọng này biểu hiện ở biện pháp chuyển tự: chuyển từng con chữ viết này sang con chữ viết tương đương ở hệ thống chữ viết kia, theo những quy tắc đối ứng chặt chẽ. Những ngôn ngữ có chữ viết không phải bằng chữ cái Latin, như các tiếng Nga, Arập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, thì nói chung tên riêng (nhất là những tên mới, ở thời đại ngày nay) thường đều có dạng viết bằng chữ cái Latin, ít nhiều dùng phổ biến và thống nhất trên thế giới. Và các tên riêng của ta, như Việt Nam, Điện Biên Phủ, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh,... đều được viết y nguyên như thế trong các ngôn ngữ có chữ viết bằng chữ cái Latin, thường chỉ lược bỏ đi những dấu phụ mà chữ viết của người ta không có. Sự trung thành đến mức từ điển Mĩ Webster's Geographical Dictionary (bản 1971) ghi ba kiểu viết tên nước ta: Việtnam, Việt-Nam, Việt Nam, phản ánh chính tả thiếu nhất trí của chúng ta.

Trên sách báo của ta, càng ngày cũng càng có nhiều tên riêng không phải tiếng Việt được viết nguyên dạng, chứ không viết phiên âm. Thí dụ, trên báo Nhân Dân, một vài năm gần đây, chúng ta thường gặp những tên riêng như TASS, UNESCO, ASEAN, v.v. Trong những bài viết về Tây Nguyên, thỉnh thoảng lại gặp những tên riêng như: Ami H'lem, Nahria Ya Đuk, suối Krông Buk, xã Ea Tul, tổ chức Fulro, v.v. Danh sách đại biểu Quốc hội khoá VII có tên các đồng chí Ksor Krơn, Y Pak, Kpă Thìn, Y-Blôk E-Ban, Ka H'Yiêng, Príu Prăm. Những tin về “Giải vô địch bóng đá thế giới 82” đã đổi thành những tin về “Espana 82”, và cũng vậy, những tin về “Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 9” đã đổi thành những tin về “Asiad 82”. Trong quyển Sách trắng “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam” của Bộ Ngoại giao nước ta, những tên riêng nước ngoài đều viết hoàn toàn nguyên dạng: Paul Doumer, J. B. Chaigneau, Gutzlaff, hội nghị San Francisco, tàu La Malicieuse. Những tên riêng nước ngoài viết nguyên dạng như thế rõ ràng là “khó đọc”, thế nhưng không thấy ai phản đối. Mặc nhiên chúng ta thừa nhận rằng phải như thế, không thể nào làm khác được. Chứng tỏ rằng đây là một yêu cầu của thời đại đối với các ngôn ngữ nói chung, yêu cầu đó ngày càng rõ, càng mạnh, và tiếng Việt cũng không thể đứng ngoài.

Là những người đi sau, chúng ta có một thuận lợi: có thể tiếp thu những kinh nghiệm mới nhất của những người đi trước. Trong các ngôn ngữ “lớn” như Anh, Pháp, Đức,... (chỉ nói những ngôn ngữ có chữ viết bằng chữ cái Latin như tiếng Việt), có một khối lượng rất lớn những tên riêng nước ngoài trước kia ít nhiều đã được đồng hoá, cái dạng đồng hoá ấy đã dùng quen rồi, thành truyền thống lâu đời, bây giờ thấy bất tiện, có muốn đổi cũng không dễ gì (đáng chú ý là trong một số từ điển tiếng nước ngoài gần đây, cạnh những hình thức tên riêng nước ngoài đã được đồng hoá có chú đầy đủ cả những hình thức viết nguyên dạng hoặc chuyển tự: chú London bên cạnh Londres, chú Moskva bên cạnh Moscou, Moscow, chú Beijing, dạng Latin hoá chính thức của Bắc Kinh, bên cạnh Pékin, Peking...). Trong tiếng Việt, về cơ bản, không có cái tình hình đó. Tức là chúng ta có khả năng giải quyết vấn đề tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt theo kinh nghiệm mới nhất của các nước, và một cách quán triệt hơn, hợp lí hơn, tốt hơn rất nhiều so với nhiều ngôn ngữ khác.

Dựa vào chữ viết, giữ nguyên dạng hoặc chuyển tự tên riêng không phải tiếng Việt, chúng ta sẽ tạo được dễ dàng một sự nhất trí không những trên sách báo của chúng ta, mà còn giữa sách báo tiếng Việt với nói chung sách báo nước ngoài, giữa chúng ta với quốc tế, một sự nhất trí mang lại nhiều tiện lợi cho học tập, nghiên cứu, cho các công tác văn hoá, khoa học, báo chí, xuất bản, công tác thư viện, thư mục, thông tin khoa học, v.v. nói tóm lại cho sự nghiệp phát triển văn hoá và khoa học - kĩ thuật của chúng ta.

d) Điều bất tiện duy nhất là sẽ có những tên riêng khó đọc. Và sẽ có trường hợp cùng một tên riêng nước ngoài mà nhiều người phát âm khác nhau. Nhân dân ta ngày nay phần lớn không biết tiếng nước ngoài, sẽ không khỏi bỡ ngỡ trước những tên riêng mới lạ. Mà đã không đọc được, thì cũng rất khó nhớ. Trước khó khăn này, có ý kiến rằng phải chăng là trong sách báo phổ cập, và nói chung trong sách giáo khoa các cấp phổ thông, nên viết phiên âm tên riêng nước ngoài, còn trong tài liệu khoa học - kĩ thuật có tính chất chuyên môn và trong sách giáo khoa bậc đại học thì mới viết nguyên dạng? Giải pháp này có vẻ hấp dẫn. Nhưng thật ra, đó là một biện pháp vá víu, nửa vời. Trong tiếng Việt sẽ hình thành hai hệ thống tên riêng nước ngoài, mỗi tên riêng nước ngoài sẽ có hai dạng, có thể rất khác nhau, và trong nhiều trường hợp chúng ta bắt buộc phải biết, phải nhớ cả hai dạng ấy. Ranh giới giữa cái phổ cập với cái chuyên môn là một ranh giới rất tương đối, không dễ xác định, và sẽ không tránh khỏi có nhiều trường hợp hai tài liệu cùng một loại như nhau, nhưng ở đây thì là những tên riêng nước ngoài viết phiên âm, còn ở kia thì cũng là những tên riêng ấy, nhưng viết nguyên dạng.

Vấn đề là cần xem lại và đánh giá cho đúng cái khó khăn ở đây.

Sở dĩ có cái khó khăn “khó đọc, khó nhớ”, là do bản thân tên riêng nước ngoài nó như vậy. Đối với một người Pháp, chẳng hạn, cũng có nhiều tên riêng nước ngoài lạ mắt, khó đọc, như: Szczecin (Ba Lan), Szent Gyorgyi (Hungary), Nguyễn Trãi, Hậu Giang, thế nhưng người ta vẫn tôn trọng cái dạng trong nguyên ngữ của những tên riêng đó, không tuỳ tiện sửa đổi. Bởi vì người ta đã có kinh nghiệm rằng đây là khó khăn không thể tránh được, lẩn tránh nó bằng cách viết khác đi sẽ đẻ ra những khó khăn khác, còn lớn hơn nhiều.

Cái khó khăn gọi là “khó đọc, khó nhớ” của tên riêng nước ngoài chẳng phải là khó khăn riêng gì cho chúng ta. Có khác chăng chỉ là do bản thân chính tả các tiếng như Anh, Pháp vốn đầy rẫy những bất hợp lí, cho nên người ta không lấy làm lạ lắm trước hình thức chính tả đặc biệt của một tên riêng nước ngoài nào đó, còn chúng ta thì dễ ngỡ ngàng, do đã quá quen với chính tả tương đối đơn giản và hợp lí của tiếng Việt.

Cũng có ý kiến rằng: trình độ văn hoá chung của nhân dân ta còn thấp, nên tạm thời dùng biện pháp viết phiên âm tên riêng nước ngoài, chờ sau này khi nào trình độ chung được nâng cao, nhân dân ta phần đông ít nhiều đều cũng có làm quen với các tiếng nước ngoài, rồi hẵng hay. Giải pháp này về thực chất không khác giải pháp phân biệt hai loại tài liệu: phổ cập (viết phiên âm tên riêng nước ngoài) và chuyên môn (viết nguyên dạng). Nó sẽ dẫn đến việc tạo ra hai hệ thống tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt ở hai thời đại khác nhau, ngày nay và ngày mai. Hơn nữa, nó sẽ để lại nhiều khó khăn cho tương lai, bởi vì những tên riêng viết phiên âm một khi đã dùng quen rồi thì không dễ gì sửa đổi được hàng loạt: chúng ta sẽ tự tạo cho mình những khó khăn mà các ngôn ngữ phương Tây đã có kinh nghiệm là nên tránh.

Trong thực tế, nhân dân ta cũng đã có tiếp xúc, từ lâu rồi, với một số tên riêng nước ngoài, với cái nguyên dạng của nó. Đó là tên một số hãng phương Tây: ô tô và xe đạp Peugeot, máy khâu Singer, v.v. Mọi người coi đó là chuyện bình thường. Nhiều người chỉ mới biết đọc, biết viết, khi cần cũng nhanh chóng làm quen với những tên như Peugeot, và sẽ là buồn cười nếu có ai đó nghĩ rằng nên viết phiên âm, chẳng hạn, thành PƠGIÔ, hoặc BƠGIÔ cho dễ đọc, dễ nhớ. Cũng giống như Joule mà đi viết phiên âm thành GIUN vậy. Trên nguyên tắc, không có sự khác nhau gì hết giữa tên riêng hãng Peugeot với những tên riêng nước ngoài khác, và thật là vô lí nếu dễ dàng chấp nhận (xe) Peugeot, (xe) Ford, (máy khâu) Singer nhưng lại không chấp nhận những tên nguyên dạng Armand Peugeot (người chế tạo kiểu ô tô Peugeot), Henry Ford (người sáng lập hãng ô tô Ford), Isaac Singer (người sáng chế ra máy khâu), mà viết, chẳng hạn: “xe Ford mang tên của Henri Pho” (hoặc “Henri Phót”, như thực tế đã gặp trên báo).

Chúng ta cũng đã có được một thực tế: trước ngày miền Nam giải phóng, phổ biến trên sách báo miền Nam là viết nguyên dạng tên riêng nước ngoài, và cũng không thấy có ai phản ứng gì đối với việc đó. Trái lại, có người không khỏi ngỡ ngàng, khó chịu khi sau ngày miền Nam giải phóng mới lần đầu đọc những tên riêng nước ngoài viết phiên âm. Đó là một thực tế đáng cho chúng ta suy nghĩ.

Cho nên ở đây có một vấn đề: đừng đánh giá quá thấp cái khả năng tiếp nhận của quần chúng, của học sinh, và cũng nên nhận thức cái khả năng ấy một cách biện chứng. Quả là có những người nhất định, trong những trường hợp nhất định, có lúng túng khi lần đầu tiếp xúc với một số tên riêng nước ngoài nào đó. Nếu là những tên sẽ còn gặp nhiều lần thì dần dần người ta sẽ quen đi. Và khi đã quen rồi, thì sẽ dễ dàng làm quen với một số tên riêng khác, có hình thức chính tả ít nhiều tương tự.

Chúng ta thường không ngạc nhiên hoặc thấy khó chịu khi nghe thấy người nước ngoài phát âm rất lạ tai, khác hẳn chúng ta, những tên riêng Việt Nam nào đó. Vậy thì, tên riêng nước ngoài, chúng ta phát âm không được thống nhất và có khác với người ta, thì cũng là chuyện bình thường. Chúng ta không đòi hỏi mọi người Việt Nam chúng ta phải phát âm Nguyễn Trãi cho thật đúng với phát âm chuẩn của tiếng Việt, thì không có lí gì lại đòi hỏi nhất thiết ai cũng phải biết phát âm Shakespeare đúng, hoặc na ná, như người Anh. Vả lại, chúng ta thường đọc bằng mắt nhiều hơn là đọc bằng miệng, cho nên có gặp những tên riêng mới lạ thì thường cũng không nhất thiết phải biết rõ ngay cách phát âm cụ thể. Đối với người chỉ ngẫu nhiên gặp một đôi lần tên của Shakespeare, gặp rồi có thể quên ngay đi, thì có đọc sai thành “sa-ke-spe-a-re” chẳng hạn, thậm chí không đọc được, cũng không quan trọng gì. Nhưng đối với những ai biết Shakespeare, có nhiều dịp đọc hoặc học về Shakespeare trên sách báo, ở thư viện, trong nước, ngoài nước, đối với một học sinh đã học qua các cấp phổ thông, thì viết đúng hay không đúng tên của nhà thơ vĩ đại ấy của nhân loại lắm khi không phải là chuyện nhỏ.

Dĩ nhiên, nói về nguyên tắc, thì tôn trọng một tên riêng không phải tiếng Việt, tốt hơn cả là không những viết đúng như nguyên dạng, mà đồng thời còn phát âm đúng chuẩn trong nguyên ngữ. Nhưng ở đây cũng có một giới hạn, và không phải lúc nào phát âm thật đúng như trong nguyên ngữ cũng là tốt. Mỗi ngôn ngữ có những đặc trưng ngữ âm riêng, và những đặc trưng ngữ âm này định một giới hạn cho những yếu tố ngữ âm ngoại lai có thể chấp nhận (nghe không chối tai) trong một chuỗi lời nói bằng ngôn ngữ ấy. Từ trong tiếng Việt không có trọng âm như từ trong tiếng Nga, tiếng Anh: nếu nói tiếng Việt mà phát âm Lê nin hoàn toàn như trong tiếng Nga “liê nhin”, với trọng âm ở “liê”, thì trừ trường hợp đặc biệt, sẽ rất khó nghe, và chắc là không ai tán thành.

Trên thực tế, đối với những tên riêng nước ngoài thường gặp, thường nghe, dần dần sẽ hình thành những cách phát âm phổ biến. Những cách phát âm này dựa vào phát âm trong nguyên ngữ, nhưng đồng thời cũng có chịu tác động của chính tả, và nó hình thành trên cơ sở cái nền của phát âm tiếng Việt. Mozart, phát âm trong tiếng Đức là “môtxart”, nhưng người Pháp quen phát âm là “môzar” theo kiểu tiếng Pháp, và coi là chuyện bình thường (trước nay chúng ta thường viết MÔDA, chính là phiên âm theo phát âm của tiếng Pháp), Paris, Robespierre, người Anh có kiểu phát âm của họ, khác với tiếng Pháp: “parix”, “rôbzpia” (so sánh Shakespeare, “secxpia”). Đó là những kinh nghiệm cần nghiên cứu để dần dần xây dựng trong tiếng Việt những cách phát âm tên riêng nước ngoài thích hợp, và hướng dẫn cách phát âm đó*.

1983

Nguồn: HOÀNG PHÊ - Tuyển tập Ngôn ngữ học.
NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2008.

 


*Bài này được viết dựa theo những bài sau đây của cùng tác giả: Vấn đề cải tiến và chuẩn hoá chính tả, Vấn đề chuẩn hoá chính tả, Một số vấn đề quan điểm trong vấn đề tên riêng không phải tiếng Việt.

 

 

Bài đăng trước:

  • THUYỀN NAN hay THUYỀN LAN?
  • QUÁN trong câu ca dao “CÓ QUÁN TÌNH PHỤ CÂY ĐA” là cái gì?
  • TIẾNG VIỆT CÓ PHẢI LÀ MỘT NGÔN NGỮ KHÓ KHÔNG?
  • Việc định nghĩa các hư từ trong TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH dành cho học sinh tiểu học
  • CÂU CHUYỆN KHÔNG NHỎ VỀ HAI CON CHỮ I, Y TRONG CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT