Ngôn ngữ học

Khắc phục tình trạng đa nghĩa của THUẬT NGỮ trong từ điển tiếng Việt
     

GS. TS. LÊ QUANG THIÊM

ABSTRACT
The paper discusses an issue in relation to the quality of Vietnamese dictionaries in general and explanatory dictionaries of languages, linguistics and other areas in particular. That is their polysemy. The outcome of an analysis from three special dictionaries points out there are many words containing more than one meaning. That breaks the rule that terms need to contain one meaning to avoid ambiguity and misunderstanding.

Anh

GS Lê Quang Thiêm

1. Ngày nay, do nhu cầu cung cấp tri thức cho đông đảo người sử dụng ngày càng tăng cho nên nhiều loại từ điển (TĐ) được biên soạn xuất bản. Mặc dầu trong hoàn cảnh công nghệ thông tin phát triển, internet, thế giới phẳng giúp cho việc tra cứu tri thức có thêm nhiều nguồn, nhiều phương tiện thì việc cung cấp thông tin, nguồn tri thức qua sách báo, qua các loại từ điển đủ kích cỡ vẫn có một vị trí vô cùng quan trọng. Từ điển, trường hợp đang nói đây, là từ điển ngôn ngữ (ngữ văn) và từ điển chuyên môn không chỉ là công cụ tra cứu, là cẩm nang cung cấp thông tin tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực mà còn là giáo khoa, là vật phẩm văn hoá, kỉ vật chiêm ngưỡng cho những ai yêu chuộng sách vở, trân trọng tri thức, yêu quý chất xám.

Thực tế, lĩnh vực hoạt động về từ điển đã trở thành một khoa học - Khoa Từ điển học. Công việc tổ chức, biên soạn xuất bản các loại từ điển chất lượng, đẹp, bền là công việc cần nhiều nguồn nhân lực có tay nghề, cần có chuyên gia thực sự tâm huyết, yêu nghề. Đây là một loại hình hoạt động có tính tập thể cao mang tính đa ngành, liên ngành; cần có sự kết tạo khoa học, công nghệ với kĩ thuật, nghệ thuật sáng tạo và cả kinh doanh, tiếp thị hiệu quả nữa. Chính vì vậy mà lịch sử biên soạn xuất bản, lưu hành đã chứng tỏ ngày càng có nhiều kiểu loại từ điển đủ loại kích cỡ được ưa chuộng. Trong các hiệu sách lớn, trong các thư viện, trong bộ sưu tập của nhiều gia đình có sự hiện diện nhiều từ điển. Các loại từ điển giá trị của các nhà xuất bản, nhà sách danh tiếng đã trở thành tài sản quý, thành thương hiệu quốc tế được đông đảo thức giả, người sử dụng sành điệu tín nhiệm như Larousse, Robert, Oxford, Webster, v.v. Ở nước ta trước đây và đặc biệt là từ khi có chủ trương mở cửa, hội nhập, đã có rất nhiều kiểu loại TĐ được biên soạn, xuất bản. Theo số liệu thống kê sơ bộ, số lượng tăng lên đến 5, 6 lần so với trước. Nhiều từ điển đơn ngữ, đa ngữ, đơn ngành, đa ngành được xuất bản. Đã có những thử nghiệm và hiện đang khẩn trương chuẩn bị xây dựng, biên soạn Bách khoa thư và Bách khoa toàn thư. Nhiều nhà in, nhà kinh doanh trở thành đại gia nhờ in ấn xuất bản trong đó không ít nhờ vào TĐ... Chúng ta trân trọng đánh giá cao những thành quả, những đóng góp của các soạn giả, những nhà hoạt động tâm huyết và hi vọng đón nhận, được sử dụng những thành quả mới trong thời gian tới, trong đó có việc tổ chức và thành quả hoạt động của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.

2. Trong công việc nghiên cứu khảo sát, sử dụng từ điển, chúng tôi bắt gặp một hiện tượng ngữ nghĩa nhỏ có liên quan đến chất lượng từ điển, xin dẫn ra đây và sơ bộ đề xuất giải pháp khắc phục. Đó là tình trạng đa nghĩatrong từ điển giải thích ngôn ngữ và chuyên môn hiện hành. Hiện tượng đa nghĩa và cụ thể là từ đa nghĩalà một biểu hiện của sự phát triển ngôn ngữ văn hoá Việt. Thành tựu phân tích miêu tả nghĩa của từ đa nghĩa đã được Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (TĐTV - HP) thực hiện khá thành công. Với một từ điển cỡ nhỏ gồm 39.924 mục từ mà TĐ đã cung cấp đến 54,04% từ đơn đa nghĩa, từ ghép đa nghĩa chiếm 43,21%. Đi vào phân tích phân bố từ loại đa nghĩa cho thấy: danh từ chiếm 50,09% động từ 32,15%, tính từ 17,75%. Kết quả phân tích dung lượng nghĩa (số lượng nghĩa trong mỗi từ) chỉ rõ: số lượng 2 nghĩa chiếm 74,32%, 3 nghĩa chiếm 15,57%, 4 nghĩa: 5,42%, 5 nghĩa 2,48%, 6 nghĩa 0,97%, 7 nghĩa: 0,55%, 8 nghĩa: 0,25%, 9 nghĩa 0,26%. Và các từ có từ 10 nghĩa trở lên chiếm 0,11% [dẫn theo 4,161] số liệu định lượng cho thấy sự phân tích và định nghĩa từ đa nghĩa thật tỉ mẩn, công phu. Từ đa nghĩa trong từ điển ở cấu trúc vĩ mô không chú phân biệt từ thường với thuật ngữ. Tuy nhiên trong văn bản của cấu trúc vi mô cũng đã có sự phân biệt rõ. Đó là việc định nghĩa nghĩa thường của từ đa nghĩa phân biệt rõ ràng chính xác với nghĩa khái niệm của thuật ngữ (TN). Việc miêu tả nghĩa theo tuyến tính có đánh dấu phân biệt bằng chữ số Ả Rập như các từ điển ngôn ngữ thường thấy. Mặc dầu vậy, việc miêu tả nghĩa, với yêu cầu cao hơn, thì TĐ còn để lại những mơ hồ, ngộ nhận về hiện tượng đa nghĩa của thuật ngữ. Tình trạng này không chỉ bộc lộ ở từ điển ngôn ngữ mà cả ở từ điển chuyên môn, từ điển kĩ thuật công nghệ. Hạn chế về chức năng biểu đạt, cung cấp tri thức dẫn đến sự vận dụng sai hẳn là không nhỏ. Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật công nghệ như đã biết, là biểu đạt khái niệm, nó có tính chính xác, khoa học, quốc tế. Nghĩa thuật ngữ không được hiểu nước đôi, mơ hồ, thế nào cũng được. Nghĩa thuật ngữ về nguyên tắc là có tính đơn nghĩa, chính xác, thuần lí. Nếu như trong định nghĩa hoặc thể hiện nội dung định nghĩa còn mang tính mơ hồ, tình trạng đa nghĩa là chưa chính xác thiếu chuẩn mực cần phải khắc phục. Dưới đây là một số biểu hiện trong các loại từ điển ngôn ngữ và chuyên môn cần có giải pháp.

3. Trước hết có thể nhận thấy ở từ điển giải thích ngôn ngữ chuẩn mực. Trường hợp điển hình, TĐ tốt nhất loại này ở ta là TĐTV - HP. Đây là loại TĐ giải thích cỡ nhỏ. Mục tiêu chính của TĐ là cung cấp tri thức phổ thông, dễ hiểu nhằm phục vụ cho người dùng có trình độ học vấn bậc trung theo tinh thần chuẩn hoá và giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt. Tri thức chuyên môn được cung cấp trong TĐ qua các thuật ngữ được định nghĩa khá sáng rõ, tường minh, dễ hiểu. Điều đáng chú ý, cần được đánh giá cao là sự chú thích chuyên môn (chm) trong phần văn bản cấu trúc vi mô của nghĩa mục từ. VD. chuỗi d, từ này có 4 nghĩa được định nghĩa trong đó có nghĩa số: “4. (chm). Dãy số hoặc biểu thức lập nên theo một quy tắc nào đó và nối liền với nhau bằng những dấu cộng”. Rõ ràng sự phân biệt nghĩa kèm theo sự chú thích chuyên môn (chm) giúp cho việc hiểu chính xác nội dung nghĩa khái niệm của TN. Cách xử lí này là một biện pháp nghề nghiệp từ điển học cần được đánh giá cao và cần tiếp tục phát huy vận dụng trong các từ điển giải thích ngôn ngữ cỡ lớn hơn, quy mô hơn.

Tuy nhiên, cần chú ý có giải pháp khắc phục đa nghĩa TN trong trường hợp sau đây. Đó là thiếu sự phân biệt chuyên môn cụ thể ở mục từ có miêu tả định nghĩa thuộc nhiều chuyên môn khác nhau. Ví dụ:  điểmid. Danh từ này được định nghĩa tách thành 7 nghĩa trong đó có những 2 nghĩa chuyên môn khác nhau là: nghĩa “2 (chm) đối tượng cơ bản của hình học, mà hình ảnh trực quan là một chấm nhỏ đến mức không có bề dài, bề rộng, bề dày”. Và nghĩa: “7 (chm) nhiệt độ ở đó xảy ra một biến đổi vật lí. Điểm sôi của nước là 100°C”. Phải chăng ở định nghĩa chuyên môn vừa dẫn cần phân biệt nghĩa “2 (chm) toán học (T) còn nghĩa “7 (chm) vật lí (VL) mới tránh được tình trạng đa nghĩa của TN. Tình hình cần phân biệt rõ hơn ở các mục từ có đến 3, 4 nghĩa khái niệm thuộc TN. VD. “Trường d. hiện trong TĐ định nghĩa 5 nghĩa riêng biệt được đánh số Ả Rập từ 1 đến 5 trong đó có 3 nghĩa khái niệm thuộc TN khoa học là các nghĩa số 3, nghĩa số 4 và số 5. Nếu ngày nay, trong Ngôn ngữ học thừa nhận khái niệm trường tự vựng, trường ngữ nghĩa, trường cấu tạo từ, trường diễn ngôn v.v. thì còn có thêm nghĩa chuyên môn số 6 của mục từ này. Vì vậy, sự phân biệt chuyên môn nào trong mục từ có nhiều chuyên môn (chm) là cần thiết. Ta có thể dẫn ra không ít các mục từ có hai nghĩa chuyên môn trở lên như : “trọng tâmd.”. “giống d.”. “chiết đg.”, “biểu diễn d.”. “cạnhd.”, “chuỗi d.”, “chu kì d.”, “điểm d.”, “dữ liệu d.”, “dựng đg.”, v.v.

4. Tình trạng trình bày dẫn đến ngộ nhận đa nghĩa của TN cũng gặp không ít trong các TĐ chuyên môn. Kết quả phân tích sơ bộ của chúng tôi trên 3 TĐ chuyên môn (TĐCM) cho kết quả sau:

Anh

Tình trạng trình bày ngộ nhận đa nghĩa của TN trong TĐCM cho thấy không chỉ có 2 nghĩa mà cả 3 nghĩa, có trường hợp trên 3 nghĩa. Tỉ lệ số lượng đa nghĩa ngộ nhận tuy không lớn, chỉ trên 2 hoặc 3 phần trăm mục TĐ thôi, song việc trình bày này về các định nghĩa ngộ nhận thành đa nghĩa là trái với nguyên tắc đơn nghĩa của TN. Hơn nữa, trong 3 TĐ được khảo sát, có thể thấy tỉ lệ đa nghĩa ngộ nhận thuộc cuốn TĐKTCN (từ điển kĩ thuật công nghệ), là ngành chuyên môn cần chính xác cao, lại càng quan tâm tìm giải pháp khắc phục. Xin dẫn vài VD về trường hợp định nghĩa và tách nghĩa không thoả đáng. “Nhiệt phân 1. Sự phân huỷ một hợp chất bằng nhiệt. 2- Sự chuyển hoá hoá học hợp chất hữu cơ xẩy ra ở nhiệt độ cao (400-1.200°C) không có sự tham gia của không khí và chất khác, ngoài phân huỷ còn có thể xẩy ra phản ứng đồng phân hoá, sắp xếp lại phân tử. VD. Quá trình kết tinh dầu mỏ, chưng khô gỗ, than bùn... là NP hợp chất hữu cơ” (TĐHHPT, 210). Một biểu hiện thứ hai là việc tách nghĩa bằng kí hiệu chữ số Ả Rập. VD “Dãy phóng xạ: Dãy các đồng vị phóng xạ trong đó mỗi đồng vị bị phân rã phóng xạ thành đồng vị đứng sau cho tới khi tạo thành đồng vị bền. Trong tự nhiên có 3 DPX: 1/ Dãy Urani 238 bắt đầu từ 238U và phân rã đến 206Pb; 2/ Dãy thori từ 232Th đến 208Pb; 3/ dãy actini hay urani từ 235 từ 235U đến 207Pb”. (TĐHHPT, 92). Thuật ngữ “chuyển mạch: 1) Sự thay đổi các mối nối trong mạch điện: đóng, ngắt và đổi nối các bộ phận của mạch điện nhờ các thiết bị điều khiển, rơle, contac, khoá và các cơ cấu khác. 2) Phương pháp cung cấp dịch vụ truyền thông qua một thiết bị CM, như hệ thống điện thoại, bằng cách tạo ra liên kết vật lí giữa bên phát và bên nhận. Nối mạch điện thực hiện ở trung tâm CM, duy trì nối vật lí hai bên chừng nào còn cần thiết. CM dùng trong truyền dữ liệu qua modem ở các mạng điện thoại thuê bao... 3) Quá trình thay đổi chiều dòng điện trong cuộn dây ứng của máy điện cổ góp. Nhờ sự CM, có được dòng điện một chiều ở đầu ra của máy điện một chiều mặc dầu dòng điện trong cuộn dây phản ứng là xoay chiều” (TĐKTCN, 119). Hoặc thuật ngữ “độ nhạy: 1- Mức độ phản ứng của một dụng cụ đối với một biến thiên nhỏ của tín hiệu vào. 2- Độ nhạy của một dụng cụ là tỉ số giữa độ biến thiên của độ lệch (của bộ phận chuyển động) và độ biến thiên của đại lượng cần đo ứng với độ lệch ấy. 3- Độ nhạy của phim ảnh (hoặc kính ảnh) và giấy ảnh được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được đo bằng đơn vị khác nhau ...” (TĐVL, 119). Có thể dẫn nhiều trường hợp nữa, song xin dừng để tránh dài dòng.

5. Vẫn biết mỗi loại từ điển, mỗi kích cỡ từ điển đều có mục đích, yêu cầu hướng đến người dùng khác nhau và nhóm soạn giả có giải pháp định nghĩa khác nhau. TĐ ngôn ngữ (hay ngữ văn) phân biệt rõ với TĐ chuyên môn, chuyên ngành là cần thiết không chỉ trong lời định nghĩa mà cả cách trình bày trong phần văn bản cấu trúc vi mô. Từ điển chuyên môn thường cũng cần phân biệt với Bách khoa thư và Bách khoa toàn thư. Để tránh tình trạng đa nghĩa của nghĩa TN trong định nghĩa và trình bày văn bản, chúng tôi đề nghị:

Trong từ điển ngôn ngữ không chỉ phân biệt nghĩa chuyên môn (chm) với nghĩa thường mà cần chú thêm nghĩa chuyên môn cụ thể cho nghĩa tương ứng. Nghĩa ngành, chuyên ngành nào thì chú rõ ngành, chuyên ngành ấy. Ví dụ Chm. T, Chm. VL, chm. HH,... Trong từ điển chuyên môn thường thì nên định nghĩa phân biệt dứt khoát khái niệm và triệt để đồng âm hoá để mỗi thuật ngữ (TN) chỉ có một nghĩa (đơn nghĩa). Như vậy cũng có nghĩa là chuyển nhiệm vụ miêu tả mục từ (giải nghĩa) từ cấu trúc phạm vi vi mô qua cấu trúc phạm vi vĩ mô của TĐ. Trong trường hợp nếu nội dung khái niệm bao hàm các nội dung chi tiết thì cách trình bày phần văn bản vi mô không nên phân thành số (Ả Rập) chỉ nghĩa mà chỉ dùng kí hiệu chữ cái a, b, c hoặc dấu gạch ngang phân biệt mà thôi.

Xử lí được như thế không những bảo đảm nguyên tắc đơn nghĩa của thuật ngữ mà còn tránh hiểu nhầm, hiểu sai nội dung khoa học, kĩ thuật, công nghệ dẫn đến vận dụng sai, gây tác hại trong thực tiễn.

 

TỪ ĐIỂN VÀ TÀI LIỆU KHẢO SÁT

[1] Nguyễn Thạc Cát (chủ biên) (2009), Từ điển hoá học phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[2] Vũ Thanh Khiết (chủ biên) (2010), Từ điển Vật lí, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[3] Phạm Văn Khôi (chủ biên) (2009), Từ điển Kĩ thuật công nghệ, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.

[4] Phan Thị Nguyệt Hoa (2012), Từ đa nghĩa từ vựng trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 1 (33), 1-2015.

 

 

Bài đăng trước:

  • Trong Sáng cùng Tiếng Việt: BÁC SĨ NÓI ÍT
  • NGUYÊN TẮC DẠY và HỌC NGÔN NGỮ
  • CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT QUỐC GIA ÚC
    (Australian Curriculum: Vietnamese)
  • NGHỈ ĐẺ
    SAO VẪN CỨ ĐẺ?
  • Trong Sáng cùng Tiếng Việt: NGÔN NGỮ TRÊN MẠNG