Ngôn ngữ học

PHỦ BIÊN TẠP LỤC một công trình bách khoa thư của Lê Quý Đôn
     

PGS. TS. LẠI VĂN HÙNG

ABSTRACT
The paper introduces the work Phủ biên tạp lục by Lê Quý Đôn (1726-1784) - a great scientist of Vietnam in the feudalistic period. The book consists of 6 volumes on many fields (history, mountains, rivers, roads, talented figures, properties, customs,…) of Vietnam. Particularly, Lê Quý Đôn sufficiently presents the organization, management and exploitation of Paracel Islands in particular and the issue of territorial seas, with which ancestral generations were concerned. That is the definition of frontier, territory of Vietnamese people.

Ngoài Vân đài loại ngữKiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn còn biên soạn Phủ biên tạp lục [1]. Về mặt lịch sử, ta đều biết rằng cuối năm Giáp Ngọ (1774), nhà Lê - Trịnh đã đánh chiếm được Thuận Hoá, mùa hạ năm sau (Ất Mùi - 1775) thì chiếm nốt được Quảng Nam. Đầu năm Bính Thân (1776), Lê Quý Đôn được cử vào làm Hiệp trấn, đến rằm tháng tám thì hoàn thành Phủ biên tạp lục, đúng như lời cuối của bài Tựa bộ sách: “Ngày 15 tháng 8 năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776); phụng sai Thuận Hoá, Quảng Nam đẳng đạo Tham thị, Tham tán quân cơ, Thuận Hoá trấn Hiệp trấn phủ Hữu thắng cơ, Nhập thị Bồi tụng, Hộ bộ Tả thị lang Dĩnh thành hầu, Diên Hà Quế Đường Lê Quý Đôn, Doãn Hậu viết ở các Triêu Dương, thành Phú Xuân”. Như vậy, Phủ biên tạp lục được Lê Quý Đôn biên soạn trong khoảng 6-7 tháng đầu của năm Bính Thân (1776), và ta biết cả nơi biên soạn là toà Triêu Dương các, thành Phú Xuân.

Trước hết, nói về tên sách. “Phủ biên tạp lục” là gì? Hán ngữ đại từ điển cho biết tạp lục là: “Cổ đại sử học thể tài chi nhất chủng. Đường, Cao Ngạn Hưu “Đường khuyết sử tự”: “Cố tự Vũ Đức, Trinh Quan nhi hậu, duyện bút vi tiểu thuyết, tiểu lục, bại sử, dã sử, tạp lục, tạp kí giả đa hĩ”. Cổ nhân đa dĩ thử vi thư danh…” (Là một loại của thể tài sử học thời xưa. Trong bài Tựa bộ Đường khuyết sử, Cao Ngạn Hưu đời Đường viết: “Cho nên từ sau các đời Vũ Đức, Trinh Quan, số người dấp bút viết tiểu thuyết, tiểu lục, bại sử, dã sử, tạp lục, tạp kí là khá nhiều vậy”. Cổ nhân phần nhiều lấy những loại đó đặt tên sách…). Còn phủ biên là: “An biên; trấn thủ biên cương…” (Làm yên ổn vùng biên; giữ gìn, trấn trị vùng biên cương…). Theo chiết tự, lục là “biên, chép”; tạp là “tản mạn, tạp nhạp, lộn xộn, lặt vặt, nhiều thứ khác nhau”; còn phủ là “vỗ về, an ủi, thoa bóp, cầm lấy”; và biên là “bên cạnh, bờ sông, chỗ giáp giới với nước khác”. Do vậy, có tài liệu dịch tên sách là: “Ghi chép tản mạn trong khi đi vỗ yên vùng biên” thì cũng là có lí. Song, ta vẫn rất nên chú ý đến nghĩa mà từ điển đã nêu, nhất là nét nghĩa “là một loại của thể tài sử học” của hai chữ “tạp lục”; còn việc Lê Quý Đôn có làm sử hay không lại là câu chuyện khác.

Mục đích biên soạn được tác giả nói rõ một cách khiêm nhường: “Tôi vụng về, không dám bắt chước cổ nhân mà gọi là quan trung tín, thầy tư huệ đâu. Nhưng từ nhận chức đến nay chỉ mong sao vỗ nuôi trăm họ, yên tập một phương, chưa từng không ngày đêm lo nghĩ để cho Cửu trùng khỏi phải khuya trưa bận lòng. Lại nhờ được Đại tướng đồng liêu vui vẻ, một vài ông Tán lí Đốc thị giúp vầy, cho nên tôi được nhẹ áo, lỏng đai, tiêu dao ở khoảng Hà Khê Thiên Mụ, há dám tự khoe là chính giỏi dân hoà đâu. Trị dân bằng vô sự, không sinh việc cũng không bỏ việc, thì dân tự cho là tiện; dân đã lấy làm tiện thì cũng là vô sự. Kì gián tôi nhân đi dạo núi sông, hỏi di tích, xét xem lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tuỳ bút chép ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục, đó chỉ là vết móng chim hồng tạm ghi nhớ việc bấy giờ thôi. Nhưng các bực quân tử tại triều, có xét sự tích cõi Nam, muốn không ra khỏi sân mà biết việc ngoài nghìn dặm, thì tập này cũng có thể xem qua một lượt vậy”. Qua lời dẫn trên, ta có thể biết tác giả hướng tới việc yên dân ở nơi vừa thu phục được, và giúp cho người sau trị nhậm được kết quả bằng những hiểu biết được ghi lại trong tập sách.

Bộ sách được kết cấu thành 6 quyển:

1- Quyển I. Sự tích khai thiết khôi phục hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam. Danh số phủ, huyện, tổng, xã, phường, thôn, trại.

2- Quyển II. Hình thế núi sông, thành luỹ, trị sở, đường sá, bến đò, nhà trạm.

3- Quyển III. Số ngạch công tư điền trang và hoa châu, lệ cũ và tổng số thóc gạo trưng thu ở hai xứ. Lệ cũ và quan thuộc chức thủ các ti trấn dinh và về thi cử. Lệ cũ và tổng số về số ngạch nhân đinh, duyệt tuyển các hạng, kén chọn lính hạng, chia đặt quân hiệu.

4- Quyển IV. Lệ thuế đầu nguồn, tuần ti, đầm hồ, chợ đò; thuế vàng bạc đồng sắt, và lệ vận tải.

5- Quyển V. Nhân tài, thơ văn.

6- Quyển VI. Vật sản, phong tục.

Xem thế, rõ ràng không phải Lê Quý Đôn chỉ là làm sử, lại cũng không phải chỉ là ghi chép tản mạn. Nếu nói về lịch sử thì đúng nhất phải là quyển I. Tác giả khảo sát rất kĩ về đất Thuận Quảng từ khởi nguồn đến thời điểm hiện tại lúc bấy giờ, tức là đến tận năm Bính Thân (1776).

Trước hết, Lê Quý Đôn nói về kinh đô của ta từ thời Hán: “Hán Vũ Đế đánh Nam Việt, lấy đất ấy chia đặt chín quận, nay sáu quận thuộc về Quảng Đông, Quảng Tây, nước ta chỉ được ba quận, hình như không thăng bằng. Nhưng đem số hộ khẩu chép ở Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Nhật Nam, Cửu Chân, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.828 người; mà tỉnh Quảng Đông ở đời Hán là ba quận Nam Hải, Thương Ngô, Hợp Phố… hộ chẳng qua 59.390 nhà, khẩu chẳng qua 318.511 người. Quảng Tây đời Hán là một quận Uất Lâm, hộ chẳng qua 12.415 nhà, khẩu chẳng qua 71.161 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy ở đời Hán hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế thì đất nước ta ở đời Hán số hộ đã gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba. Huống chi trước khi Ngô Tôn chưa chia Giao Quảng hai châu thì ở đời Lưỡng Hán, Thứ sử Giao Chỉ cai trị cả Lưỡng Quảng, trị sở đóng ở huyện Long Biên, há chẳng phải là lấy đô thành nước ta ngày nay làm nơi trung chính bốn phương tụ họp đấy sao?”.

Kinh đô thì như thế, vậy đất Thuận Hoá, Quảng Nam bấy giờ ở đâu? Tác giả khảo tiếp đến Địa lí chí trong Đường thư để cho biết về vị trí của hai xứ. Đến thời tự chủ, Lê Quý Đôn lược khảo các sự kiện trong sử liệu ở từng đời vua, theo từng năm có liên quan đến Thuận - Quảng. Có thể liệt kê như sau:

- Đời Lý Thánh Tông, 1069

- Đời Lý Nhân Tông, 1075

- Đời Lý Thần Tông, 1132

- Đời Trần Anh Tông, 1306-1312-1313

- Đời Trần Dụ Tông, 1353-1361-1366-1367

- Đời Trần Nghệ Tông, 1371

- Đời Trần Duệ Tông, 1375

- Đời Trần Phế Đế, 1378-1380

- Đời Trần Thuận Tông, 1389-1390-1391

- Đời Hồ, 1402-1403-1404-1406

- Đời Giản Định Đế, 1406-1407

- Đời Trùng Quang Đế, 1410

- Đời Lê Thái Tổ, 1418-1427

- Đời Lê Thái Tông, 1434

- Đời Lê Nhân Tông, 1444

- Đời Lê Thánh Tông, 1466-1469-1470

- Đời Lê Hiến Tông, 1498-1501

- Đời Lê Uy Mục, 1508

- Đời Lê Chiêu Tông, 1517

Đó là các sự kiện có liên quan đến Thuận Quảng trong khoảng 500 năm, từ thời Lý đến hết Lê sơ. Trong đó có các sự kiện đáng nhớ như là:

- Năm 1402, thời Hồ “sửa đường sá tự thành Tây Đô đến Hoá Châu, dọc đường đặt phố xá để truyền thư, gọi là đường thiên lí”.

- Năm 1428, sau khi bình được giặc Minh, Lê Lợi “thấy Hoá Châu là trọng trấn, thường sai trọng thần đến trấn thủ, đặt Lộ Tổng quản và Lộ Tri phủ”.

- Năm 1466, đời Lê thánh Tông, đặt Tuyên chính sứ các đạo, đổi cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, Thuận Hoá thành một trong 12 đạo ấy. Năm 1469, định lại bản đồ toàn quốc “xứ Thuận Hoá 2 phủ, 7 huyện, 4 châu”. Năm 1475 “đặt Thừa huyện sứ ti Quảng Nam và vệ Thăng Hoa, lại đặt Tổng binh và Án Sát, làm tam ti. Hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam đều đặt tam ti là bắt đầu tự đấy”. Lê Quý Đôn lệ dẫn tiếp: “Xét Thiên Nam dư hạ tập của bản triều có chép rằng trong đời Hồng Đức định bản đồ, Thuận Hoá Thừa tuyên sứ ti quản 2 phủ, 8 huyện, 4 châu… Quảng Nam Thừa tuyên sứ ti quản 3 phủ, 9 huyện”; và: “Thời Trung Hưng năm đầu Hoằng Định (tức năm Tân Sửu-1601), đổi phủ Tân Bình làm phủ Tiên Bình. Họ Nguyễn đổi làm phủ Quảng Bình; lấy huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong dựng làm phủ, quản 5 huyện, lệ vào xứ Quảng Nam; đổi huyện Lê Giang phủ Thăng Hoa làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên; đổi phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa (Ngãi), phủ Hoài Nhơn làm phủ Quy Nhơn… đặt 5 phủ Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Diên Khánh, Gia Định và trấn Hà Tiên, lập các xứ Phiên Trấn, Trấn Biên, Long Hồ…”.

Như vậy, đến 1601 thì bản đồ nước ta về đại thể đã ổn định. Nhưng từ sau thời Lê sơ đến năm đầu Hoằng Định cũng còn có một số sự kiện nữa:

- Các việc liên quan đến nhà Mạc (sai Tín vương Mạc Quyết trấn trị Thuận Hoá, đem quân Thuận Hoá về dẹp loạn ở kinh đô…).

- Năm cuối đời Nguyên Hoà, 1548

- Đời Lê Trang Tông, 1552

- Đời Lê Anh Tông, 1558

Trong đó sự kiện 1558 là hết sức có ý nghĩa. Tác giả viết: “Anh Tông, năm Chính Trị thứ nhất, Mậu Ngọ (1558), Thế Tổ Thái Vương (Trịnh Kiểm) sai Đoan Quân công Nguyễn Hoàng đem quân bản dinh đi Trấn thủ Thuận Hoá để phòng giữ giặc phía Đông, cùng với Trấn thủ Quảng Nam Trấn Quốc công (Bùi Tá Hán) cứu giúp lẫn nhau, việc địa phương không cứ lớn nhỏ, quân dân thuế khoá đều giao cho cả. Họ Nguyễn có đất Thuận Hoá là tự đấy.”

Rồi Lê Quý Đôn viết về Nguồn gốc Nguyễn Hoàng: “Họ Nguyễn ở trấn Thuận Hoá, tiên tổ là Nguyễn Công Duẩn người Gia Miêu ngoại trang huyện Tống Sơn, theo Lê Thái Tổ định thiên hạ có công, làm quan đến Phụng thần vệ tướng quân Gia đình hầu, tặng Thái bảo Hoành Quốc công. Con là Đức Trung đời Nhân Tông làm Điện tiền chỉ huy sứ, có công cùng với Nguyễn Xí mưu giết nghịch đảng rước lập Thánh Tông, làm quan đến Đô đốc Trinh Quốc công, kinh lược Yên Bang, đánh dẹp Chiêm Thành có nhiều công lao, con gái làm Tiệp dư, sinh ra Thái tử, một nhà quý hiển, khi chết được tặng Thái uý Trinh Quốc công. Hiến Tông lên ngôi tôn mẹ làm Trường Lạc Thái hậu, càng hậu đãi họ ngoại, làm quan ở triều đến hơn 200 người. Uy Mục đế lên ngôi, đuổi hết về nhà. Con là Nguyễn Văn Lãng thông thao lược, giỏi thiên văn, sức khoẻ bắt được hổ, bấy giờ làm Thuỷ quân vệ chỉ huy sứ giữ thành Tây Đô, họp quân ba phủ xứ Thanh Hoa tôn Tương Dực đế làm vua, đánh tan quân Lê Vũ mà chiếm kinh thành, giết Uy Mục đế; đầu đời Hồng Thuận lấy công đầu được phong Thái uý Nghĩa Quốc công Bình chương quân quốc trọng sự, chết được tặng Nghĩa Huân vương, tế và táng đều dùng lễ vương giả, và được đúc đồng làm tượng. Con là Hoằng Dụ làm quan đến Đô đốc An Hoà hầu, có tài văn võ, đánh giặc Trần Cảo, đóng dinh ở Bồ Đề bờ phía Bắc, nghe nói Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản giết vua, đem quân sang sông đốt kinh thành. Duy Sản sợ, rước Chiêu Tông về Tây Đô, An Hoà hầu cũng về Tống Sơn, rồi rước vua ra Thiên Quan, đánh tan Trần Cảo, lấy lại kinh thành, dẹp yên xứ Kinh Bắc, trở về đóng ở phường Đông Hà, tức nhau với Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy, cả hai người đều về Thanh Hoa. Thiết Sơn bá Trần Chân gièm với vua, vua bảo triệu cả hai người về kinh. Tuy đến kinh. An Hoà hầu thì cáo bệnh không đến. Trần Chân sai em đem bộ binh đuổi theo, bị An Hoà hầu đánh tan. Chân lại tâu xin cho Vũ Xuyên hầu là Mạc Đăng Dung đem thuỷ quân vào đánh. An Hoà hầu đưa thư cho Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung dùng dằng không đánh, An Hoà hầu thoát được về Tống Sơn, cáo ốm không đến chầu. Vua vì hiềm nghi giết Trần Chân, bộ tướng của Chân là Nguyễn Kính đem quân vào cửa khuyết, cùng với Trịnh Tuy mưu dựng vua khác. Vũ Xuyên hầu tự Hải Dương đem quân đến cứu, rước vua sang Bồ Đề. Vua triệu An Hoà hầu đến giúp. An Hoà hầu đem binh ba phủ xứ Thanh Hoa ra đánh nhau với Nguyễn Kính, thất bại rút về, để Đăng Dung cùng Nguyễn Kính cầm cự nhau. Rồi An Hoà hầu chết. Đăng Dung chuyên giữ binh quyền, đánh bắt Nguyễn Kính hàng, bức hiếp Chiêu Tông, cuối cùng thành việc cướp ngôi.

Con An Hoà hầu là Nguyễn Kim làm Hữu vệ tướng quân An Thành hầu, năm Thống Nguyên thứ nhất đời Cung Hoàng đế trốn vào Ai Lao, ở sách Sầm Thượng Sầm Hạ, chiêu dụ trung thần nghĩa sĩ được vài nghìn người, hơn 30 thớt voi, 300 con ngựa, cùng với tôi cũ là Lỵ Quốc công Trịnh Duy Tuấn, Phúc Hưng hầu Trịnh Duy Duyệt, Đô đốc Trịnh Duy Liêu, tôn lập Trang Tông, đặt niên hiệu là Nguyên Hoà. Vua phong An Thành hầu làm Đại tướng quân Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc công, giữ việc trong việc ngoài, công nghiệp trung hưng bắt đầu tự đấy.

Bấy giờ Thế Tổ, tức Minh Khang vương Trịnh Kiểm đến yết kiến. Hưng Quốc công mới thấy biết người lạ, gả con gái cho, xin cho làm Tướng quân Dực Nghĩa hầu. Không bao lâu thì tướng nhà Mạc là Tây An hầu Lê Phi Thừa về hàng, xin ra quân. Hưng Quốc công nghĩ rằng thời trời đã thuận, việc người đã hoà, tiến quân đến Lôi Dương, đánh tan phục binh của Mạc, bắt được nguỵ tướng Ngọc Trục hầu, rồi chia quân đi dẹp Nghệ An. Xa giá đến Tây Đô, nguỵ tướng là Trung Hậu hầu về hàng. Vua phong Hưng Quốc công làm Thái tể đô đốc tiết chế các xứ thuỷ bộ chư dinh tướng sĩ, đánh nhau với nguỵ tướng là Tây Quốc công Nguyễn Kính ở Gia Mô, cả phá quân giặc, chia quân trấn giữ những nơi xung yếu các huyện. Quân nguỵ Mạc lấn Đông Sơn, Hưng Quốc công lại đánh tan được, chém hơn nghìn thủ cấp. Tiến quân ra sông Điềm Giang huyện Gia Viễn, đánh tan quân Mạc. Nguỵ tướng là Phụng Quốc công Lê Bá Ly thua chạy. Hưng Quốc công muốn tiến đánh Đông Đô, gặp nước lụt, lại về Thanh Hoa, bị hàng tướng là Trung Hậu hầu đánh thuốc độc chết. Bấy giờ là ngày 20 tháng 5 năm Nguyên Hoà thứ 14 (1546). Vua rất thương tiếc, tặng tước Chiêu Huân Tĩnh công, thuỵ là Trung Hiến, sai đưa tang về Bái Trung huyện Tống Sơn hậu táng. Phong con trưởng là Uông làm Lãng Quận công, con thứ là Hoàng làm Hạ Khê hầu, cho cầm quân đánh giặc. Bọn Lãng Quận công ngờ vua có mưu gì, toan làm loạn. Thế Tổ bấy giờ làm Đại tướng quân Dực Quận công rước vua đến bản dinh, xin hết sức giúp đỡ. Lại hiểu dụ bọn Lãng Quận công bỏ hết hiềm khích. Vua bèn phong Thế Tổ làm Đề thống dinh trấn, lại phong làm Đô tướng tiết chế thuỷ bộ chư dinh tổng nội ngoại sự Thái sư Lạng Quốc công. Trong đời Thuận Bình (1549 đến 1556) Hạ Khê hầu vì quân công được phong Đoan Quận công”.

Và về việc Nguyễn Hoàng kiêm trấn Thuận Quảng: “Năm thứ 11, Mậu Thìn (1568), Trấn thủ Quảng Nam là Trấn Quốc công chết, lấy Nguyên Quận công nguyễn Bá Quýnh thay. Năm thứ 13 (1570), triệu Bá Quýnh về, sai Đoan quận kiêm hành chức Thống suất tổng trấn tướng quân hai xứ Thuận Quảng, cầm binh voi và thuyền để trấn phủ dân địa phương. Họ Nguyễn gồm có hai xứ là tự bấy giờ”.

Qua dẫn trích trên, ta thấy được thế thứ các đời họ Nguyễn trong khoảng gần một thế kỉ rưỡi, từ Nguyễn Công Duẩn đến Nguyễn Đức Trung, đến Nguyễn Văn Lãng, đến Nguyễn Hoằng Dụ, đến Nguyễn Kim, đến Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Dòng họ này rồi đây sẽ trở thành dòng họ của các đời chúa trị vì Nam Hà và trở thành dòng họ của các đời vua trị vì đất nước cho đến tận giữa thế kỉ XX. Dưới lăng kính nhìn nhận của Lê Quý Đôn thì Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Quảng rất có công. Ngoài việc đánh bại sự gây hấn của nhà Mạc, Nguyễn Hoàng còn được nhận xét: “Đoan Quận công có uy lược, xét kĩ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 40 năm, chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hàng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình cũng được nhờ”.

Năm Quý Sửu (1613), Nguyễn Hoàng mất, con là Phúc Nguyên thay. Khoảng sau năm Ất Sửu (1625) bắt đầu xuất hiện các nhân vật Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật và việc xây dựng luỹ Trường Dục (xong năm Nhâm Thân, 1632); hình thành thế đối ứng Nam – Bắc, không nạp cống phú cho triều đình Lê-Trịnh nữa, các chúa Nguyễn cai trị riêng Thuận Quảng. Lê Quý Đôn lần lượt viết lại các đời chúa Nguyễn như sau:

- Năm 1635, Phúc Nguyên mất, Phúc Lan nối nghiệp

- Năm 1648, Phúc Lan mất, Phúc Tần thay

- Năm 1687, Phúc Tần mất, Phúc Trăn nối ngôi

- Năm 1691, Phúc Trăn mất, Phúc Chu lên

- Năm 1715, Phúc Chu mất, Phúc Trú làm chúa

- Năm 1738, Phúc Trú mất, Phúc Khoát nối

- Năm 1765, Phúc Khoát mất, Phúc Thuần được lập

Nếu tính cả Nguyễn Hoàng thì cho đến đây, 1765, đã trải 8 đời chúa; và trong khoảng hai thế kỉ đó Lê Quý Đôn cũng lược chép các sự kiện hết sức căn bản, như là:

- Chiến tranh Trịnh – Nguyễn, kết thúc năm 1672, lấy sông Gianh (Đại Linh giang) làm phân giới

- Xây dựng thành Phú Xuân, 1687

- Lập phủ Gia Định, 1698

- Sửa dựng chùa Thiên Mụ, tự xưng Đại Việt quốc vương, 1714

- Năm 1753, xuất hiện nhân vật Nguyễn Cư Trinh cùng những công lao của vị này

Năm 1744, chúa Phúc Khoát xưng vương hiệu. Nhân việc này, Lê Quý Đôn đã khảo rất kĩ về các danh xưng họ Nguyễn: “Họ Nguyễn trước kia đời đời làm công thần, tuy các đời vẫn khiến thần dân gọi là chúa, nhưng khi mới nối nghiệp chỉ xưng là Thái bảo Quận công. Mấy năm sau thần hạ mới suy tôn làm Thái phó Quốc công. Phong bách thần thì viết “Tiết chế các xứ thuỷ bộ chư dinh đáp phó”, dưới tờ sắc lại viết “Hữu đáp phó mỗ vị chuẩn thử”. Bổ quan lại thuộc các trấn ti thì dùng chữ “thị phó”, chữ “thị hạ” và kí chữ “Thái phó Quốc công”. Ấn thì dùng ấn “Tổng trấn tướng quân”. Thần dân có việc khai trình thì dùng chữ “thân”, rồi phê chữ son cho thi hành. Chỗ ở thì gọi là phủ, chỗ thờ tổ tiên thì gọi là từ đường. Sau khi chết mới truy tặng vương hiệu. Vợ xưng là chính phu nhân, sau khi chết mới tặng là thái phu nhân. Con đều xưng là công tử, đại công tử chỉ phong tước hầu. Họ hàng quen thuộc dẫu là người rất tin dùng, lúc sống chỉ là Chưởng dinh, Chưởng cơ, tước hầu, sau khi chết mới tặng võ chức Quận công”.

Rồi tác giả cũng nói rõ những thay đổi: “Đến bấy giờ Phúc Khoát tiếm xưng vương, bèn đúc ấn “Quốc vương”, gọi phủ ở là điện, đổi chữ “thân” làm chữ “tấu”; có văn thư đưa xuống thuộc quốc thì xưng là “thiên vương”; truy tôn tổ là Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim làm tước vương, Nguyễn Hoàng làm Gia Dụ Thái vương, Phúc Nguyên làm Hiếu Văn vương, Phúc Lan làm Hiếu Chiêu vương, Phúc Tần làm Hiếu Triết vương, Phúc Trăn làm Hiếu Nghĩa vương, Phúc Chu làm Hiếu Minh vương, Phúc Trú làm Hiếu Ninh vương; phong người họ gần làm Quận công; đặt Tả nội, Tả ngoại, Hữu nội, Hữu ngoại làm tứ trụ đại thần; thân quân gọi là Ngự lâm; đổi Kí lục làm Lại bộ, Vệ uý làm lễ bộ, Đô tri làm Hình bộ, Cai bạ phó đoán sự làm Hộ bộ, lại đặt thêm Binh bộ, Công bộ; đổi văn chức làm Hàn lâm viện.” Và những gì còn giữ lại: “Nhưng vẫn còn dùng chữ “thị phó” hoặc chữ “lệnh truyền”. Cũng không lập phi cùng Thế tử. Vợ cả thì gọi là tả hành lang, các vợ lẽ gọi là hữu hành lang. Con trưởng vẫn gọi là đại công tử, còn thì theo thứ tự gọi là đệ nhị, đệ tam, đệ tứ, đệ ngũ công tử. Dẫu đặt sáu bộ sai quan phụ trách, nhưng sau khi chết chỉ tặng Thiêm sự và Tham chính, cũng theo lệ cũ”.

Như thế đến 1744, họ Nguyễn đã hoàn thành thể chế ở Đàng Trong, tức là đã xong việc chính danh mà Lê Quý Đôn gọi là tiếm xưng, đó là ông theo quan điểm của triều đình Lê-Trịnh mà nói.

Năm 1765 Phúc Khoát chết, lập Phúc Thuần nối ngôi chúa. Lê Quý Đôn viết về Trương Phúc Loan khá kĩ, là nhân vật quyền thần, lộng hành, tham ô, phá nát cơ đồ nhà Nguyễn. Các sự kiện tiếp theo được nói đến là:

- Năm 1773, anh em nhà Tây Sơn nổi lên chiếm Quy Nhơn, Quảng Ngãi

- Năm 1774, Chúa Trịnh sai Hoàng Ngũ Phúc đánh Thuận Hoá

- Năm 1775, chiếm Phú Xuân, Phúc Thuần chạy về Quảng Nam. Sai Hoàng Đình Thể thu phục Quảng Nam, đuổi chúa Nguyễn, đánh Nguyễn Nhạc

- Nguyễn Nhạc thua trận, dâng Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên và xin làm tiền quân tiến đánh Gia Định

- Năm 1776, sai Lê Quý Đôn vào làm Hiệp trấn “đặt nha môn, sửa thành luỹ, đóng thêm trọng binh để khống chế một phương”. Nguyễn Nhạc đánh Gia Định, Phúc Thuần lui về Bà Rịa.

Sách làm xong vào tháng 8 năm Bính Thân (1776), nên sử liệu về họ Nguyễn cũng như triều chính Nam Hà cũng dừng lại ở đây.

Phần tiếp theo của quyển I, Lê Quý Đôn biên chép về “danh hiệu phủ, huyện, tổng, thuộc xã, thôn, phường, giáp, ất, châu của họ Nguyễn chia đặt ở hai xứ”.

Xứ Thuận Hoá 2 phủ 8 huyện: phủ Triệu Phong 5 huyện, phủ Quảng Bình 3 huyện. Xứ Quảng Nam 2 phủ 8 huyện: phủ Điện Bàn 5 huyện, phủ Thăng Hoa 3 huyện. Dưới đó là tên các châu; dưới các huyện, châu là tên các xã, trang, thôn, giáp, phường… được chép rất đầy đủ.

Nhìn lại cả hai phần thì có thể nói quyển I là lịch sử hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam, được tác giả trình bày theo chủ đề và thứ tự:

1- Lịch sử về dựng đặt diên cách

2- Lịch sử về các đời chúa Nguyễn

3- Các nhân vật lịch sử có liên quan

4- Danh mục tên đất

Quyển II, Lê Quý Đôn khảo sát về các mục: núi sông, thành luỹ, trị sở, đường sá, bến đò và nhà trạm ở Thuận Quảng.

Đề mục lớn là như thế, nhưng trên thực tế tác giả nói đến hầu như đủ khắp: núi, động, phá, biển cạn, vực, kênh, bầu, nguồn, cửa biển, thành, cửa quan, trạm, bến đò, chùa, tháp, đèo, quán, trang, chợ, đường đi, cồn, bãi cát trắng, dinh trấn Phú Xuân, các chùa ở Phú Xuân, phủ Thăng Hoa và Điện Bàn. Trong đó, có những đoạn viết rất đáng lưu ý:

- Đoạn sau đây giúp ta phân biệt giữa nguồn, tổng và phường; hoá ra nguồn còn là để chỉ đơn vị hành chính ngang cấp tổng và thôn, phường, trang là dưới cấp tổng: “Ở thượng lưu gọi là nguồn cũng như ở hạ huyện gọi là tổng; châu Bắc Bố Chính có nguồn Cơ Sa gồm 7 thôn phường là: trang Ma Nai, phường Mít, thôn Bộc Thọ, phường Kim Bảng, phường Lỗ Hang, phường Đồng Sai, phường Lãng Trần; nguồn Kim Linh gồm 8 thôn phường là: phường Cổ Liêm, phường Quy Viễn, trang Làng Nê, phường Phúc Lác, phường Phúc Chử, thôn Cầu Dòng, thôn Câu Câu, thôn Bà Nàng. Ruộng đất ven rừng rất là tốt rộng, dân cư cũng đông, dân đinh cứ 12 tuổi thì chịu việc quan, 20 tuổi là lão, đinh điền không phải nộp phú thuế, không khai hộ tịch. Quan Trấn thủ Nghệ An sai riêng người đi thu, mỗi năm nộp cho Trấn thủ 10 hũ mật, 10 ống sáp, 10 cân gỗ nu, 10 cân gỗ mun, 70 cây gỗ chày sênh và kiền kiền, ngà voi thế tiền 30 quan, còn gửi mua riêng trâu bò tê tượng, thổ sản tạp hoá thì không kể. Quan có gửi mua thì thổ dân cũng không dám lĩnh tiền, thường thường phải nộp không, cũng có khi đút lót nha lại để được miễn”. Đoạn trích này còn thú vị ở chỗ, ngoài những thông tin giúp phân biệt về cấp hành chính như đã nói, nó cho ta một cái nhìn khá rõ về sự đan cài tên địa danh (hiện tượng vừa Hán Việt hoá, vừa bản địa), về lệ tục, về chế độ thuế khoá và về thói tệ sai nha. Có thể nói đấy là tình trạng khá điển hình ở các vùng nguồn thượng lưu, nơi chính sách của nhà nước quân chủ chỉ mang tính vỗ về phủ dụ.

- Phân biệt gianh giới theo các mạch núi, khảo đâu là “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”: “Núi Lệ Đệ trên tự đầu nguồn, dưới đến bờ biển, dẫu không cao lắm, nhưng liên lạc hơn trăm ngọn, thực chặn ngang đường vào Thuận Hoá. Từ dinh Hà Trung huyện Kỳ Hoa đi về phía hữu lên núi Hoả Hiệu, qua vài mươi lần núi đến tuần Đèo Bụt, quán Cây Gạo là đất thôn Quần Mục xã Thuần Thần châu Bố Chính, lại qua vài mươi lần núi, cộng một ngày rưỡi đường, đó là Hoành Sơn của xứ Nghệ An. Đi đến chỗ quán Khe Mây, Đất Đỏ thì bỗng rộng sáng, trông thấy cách sông ở phía Nam một dải núi xanh chặn ngang bên trời, có lẽ là chỗ Nguyễn Bỉnh Khiêm bảo là Hoành Sơn xứ Thuận Hoá đấy. Rồi đến quán Lam, trở xuống Phù Lưu, thì đi mãi về phía Đông, sang sông Gianh vượt núi Lệ Đệ, qua các xã đến trước cửa chùa xã Phúc Tự mới thấy núi dựng ngang là núi Ba Trinh, chuyển sang bên hữu mà đi lên, núi xanh biếc sừng sững, tự đấy đi lên mãi, tức là núi chia giới hạn Thuận Hoá với Ai Lao. Nếu sang sông Động Hải để vào các huyện Khang Lộc, Lệ Thuỷ, Minh Linh, Võ Xương, thì một đường cái đi mãi về phía tả, đồng bằng rộng rãi, khe ruộng thênh thang, đều là những nhánh của núi ấy chia mở ra. Nếu không sang sông Động Hải mà theo bờ sông về phía hữu đi lên một dải ven núi Ông Hồi Trường Dục để đến Dinh Trạm thì cũng đều là theo chân những nhánh của núi ấy. Trình Tuyền hầu chỉ Hoành Sơn cho Đoan Quốc công có lẽ là núi Ba Trinh chứ không phải núi Lệ Đệ”.

- Luận bàn về phong thuỷ, sự kết hợp thế đất với mạch núi, nguồn sông ở các châu: “Châu Bắc Bố Chính lấy núi Thời Mại làm trấn sơn. Sông dài của châu thì có một dòng từ các xã Kim Lũ, Thanh Lãng huyện Hương Sơn, qua tuần Bồi mà xuống xã Lũng Đằng, rồi ra cửa biển Đại Linh; lại một dòng từ chân núi Thời Mại chảy xuống xã Kim Minh gọi là sông Son, đến cửa Hác hợp với sông Lũ Đăng, cũng ra cửa biển Đại Linh; nguồn sông xa và rộng. Châu Nam Bố Chính lấy núi Ba Trinh làm trấn sơn. Sông dài của châu thì một dòng từ Phù Lâm, Bến Liệt chảy xuống xứ Sao Sa, Bà Chung, qua Dinh Ngói, đến cửa An Náu; lại một dòng từ trang Điển Phúc thôn An Phúc, qua thôn Lý Hoà xã Hải Khoát, ra cửa biển Thuận Cô”.

- Luận bàn tổng thể về hình thế núi sông, vận trời, lòng người: “Đoan Quận công là công thần của vua, là cậu của chúa, kiêm lĩnh Thuận Quảng hơn 40 năm, công lao khó nhọc, thực như phên giậu của nhà nước. Vừa nghe tin dẹp xong nhà Mạc thì đem quân về chầu, tuổi đã 70, nghiễm nhiên một vị nguyên lão, tiến tước Hữu tướng Thái phó, đánh Đông dẹp Tây, càng thêm công lớn. Chúa rất ưu đãi, sai cai quản một phủ Hà Trung, 7 huyện lộ Sơn Nam Thượng, vẫn lĩnh trấn phủ Thuận Quảng, buổi đầu có lòng gì đâu. Chẳng qua là công lớn nên tự ngờ, nghe người xui giục, mưu kế giữ mình, bèn thành bất nghĩa đấy thôi. Đến 76 tuổi thì trốn về, để lại 3 con làm tin, dâng thư tạ tội, hàng năm nộp cống phú. Năm ấy lại dâng con gái làm phi của Thế tử, cung thuận như thế thì bấy giờ cũng khó lấy cớ gì mà đánh được. Đến con là Thuỵ Quận công kế nghiệp, uy tín khắp, khí thế mạnh, đoái nhìn sông núi, bỗng nảy ra có chí truyền lại đất đai cho con cháu, mới không triều cống nữa. Nhưng xa giá bao nhiêu lần đi đánh cõi Nam, quân Thuận Hoá ra kháng cự thì quan quân chỉ đánh qua loa rồi rút về ngay, đưa thư để dụ. Thế là vốn muốn chiêu dụ cưu mang, không muốn trừ diệt, cho nên Nguyễn Duy Thời có tờ khải nói rằng chúa thượng nhiều lần đi xem địa phương, xét phong tục, nhưng Thuỵ Quận công không thể dùng giấy tờ mà gọi đến được. Vì là công thần trung hưng, hai đời thông gia, nghĩa triều đình không nỡ cắt đứt. Đến đời Nhân Quận công thì đã qua 3 đời, nghiệp bá đã vững, thành ra không thể đánh được nữa. Chẳng những là sự thế, có lẽ cũng là khí vận xui nên. Thuỵ Quận công Nguyễn Phúc Nguyên chống mệnh, đắp luỹ dài, trên tự núi Động Hồi, dưới đến cửa Nhật Lệ, cao 1 trượng 5 thước, chân rộng 5 trượng, ngoài trồng cọc gỗ lim, trong đắp đất làm 5 bực, voi ngựa đi suốt ở trên được. Luỹ này dăng dài ước hơn 30 dặm, cứ cách 5 trượng hoặc 3 trượng lại lập một pháo đài, trên đặt một khẩu súng cự môn, ngoài ra cứ mỗi trượng lại đặt một khẩu súng trụ, lại kèm một khẩu súng tay. Các hạng súng đạn chứa chất như núi. Cửa Nhật Lệ cùng cửa Minh Linh thì đều bủa lưới sắt xích sắt để chắn ngang cửa biển. Tự cho là thành đồng hào nước sôi, con cháu có thể giữ yên muôn đời được. Thế mà một sớm quân nhà vua vào đánh thì chạy tan không chống, luỹ mở không giữ; thừa thắng đánh trống mà đi thẳng đến Phú Xuân. Tuy rằng chia hợp thịnh suy là do số trời, mà câu nói của Mạnh Tử “địa lợi bất như nhân hoà” cũng đáng tin lắm”.

- Những đoạn miêu tả chi tiết về giao thông thuỷ bộ, đường đi từng chặng từ Sơn Nam vào đến Quảng Nam; đường bộ, đường rừng, đường sông đi lại ở hai xứ từ phủ đến tận các huyện, châu, xã thôn… Đoạn miêu tả rất hay và kĩ về dinh trấn Phú Xuân và một số ngôi thiền tự lớn v.v.

- Đặc biệt, Lê Quý Đôn cho ta những thông tin rất quý về Hoàng Sa, Trường Sa. Ông viết: “Phía ngoài các cửa biển xứ Thuận Hoá Quảng Nam đều có núi đá nổi lên ở trong biển để làm trấn, rộng hẹp không giống nhau… Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”. Tiếp sau, Lê Quý Đôn còn nói chi tiết hơn: “Phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày, hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi nấu với tôm và thịt lợn càng tốt. Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức hầu biên rằng: Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, 5 năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và 2 khẩu súng đồng mà thôi. Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai Cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc, của quý ít khi lấy được. Hoàng Sa chính gần phủ Liêm Châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp người đánh cá Bắc quốc, hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của Chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gởi cho Thuận Hoá nói rằng: Năm Kiền Long thứ 18 có 10 quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 người lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 người giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Tân cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận Hoá là Thức Lượng hầu làm thư trả lời”.

Có thể thấy, qua những tài liệu mà nhà Nguyễn để lại, Lê Quý Đôn cho ta biết khá đầy đủ về cách tổ chức, cách quản lí, cách khai thác ở Hoàng Sa và Trường Sa, ít nhất là từ khoảng giữa thế kỉ XVIII đến 1776. Cùng thời với Lê Quý Đôn, có một tác gia khác là Nguyễn Huy Quýnh (sinh 1734, mất 1782) cũng được cử vào Thuận Hoá làm Đốc thị (rất có thể chính là một trong những người mà Lê Quý Đôn nói đến trong bài Tựa đã dẫn trích trên kia là ông được “một vài ông Tán lí, Đốc thị giúp vầy”) và cũng biên soạn một tập sách về vùng Thuận Quảng với tiêu đề là Quảng Thuận đạo sử tập [2]. Trong sách Nguyễn Huy Quýnh cũng nói đến Hoàng Sa, tất nhiên không được tỉ mỉ như Lê Quý Đôn, nhưng chỗ đặc sắc là Hoàng Sa trong sách của Nguyễn Huy Quýnh lại được đồ bản, tức là được vẽ thành bản đồ với những kí chú hẳn hoi. Thế mới biết Hoàng Sa nói riêng và vấn đề biển đảo nói chung đã được tiền nhân ta quan tâm và nói đến từ rất lâu rồi. Đó là ý thức rất cao về cương vực, về lãnh thổ.

Trên đại thể, nếu như quyển I có thể coi như là quyển viết về lịch sử hai xứ Thuận Quảng và cả miền Nam trong nữa, thì quyển II có thể coi như là quyển về địa lí. Có điều, cũng như quyển I, sử không chỉ là sử biên niên, thì quyển II, cũng không đơn thuần là địa lí mà bao gồm khá nhiều chủ đề, như là:

1- Địa lí tự nhiên

2- Địa lí hành chính

3- Địa - Văn hoá - Nhân văn

4- Địa - Chính trị

5- Sản vật và vật phẩm (trùng quyển 6)

Quyển III, Lê Quý Đôn soạn chép về ngạch thuế; quan thuộc các trấn dinh và thi cử; số ngạch nhân đinh duyệt tuyển các hạng, kén bắt hạng lính, chia đặt quân dịch, lệ cũ cũ tổng số; chia đặt quân hiệu.

Về ngạch thuế, tác giả nhận xét khái lược: “Hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam, triều trước và họ Nguyễn trấn giữ, chỉ là hàng năm sai người chiếu số ruộng cày cấy mà thu tô thuế. Năm Cảnh Trị thứ 7 (1669), Dũng Quốc công Nguyễn Phúc Tần mới sai quan đi khám đạc ruộng công ruộng tư, nhà nước thu thóc tô định làm hạng nhất, hạng nhì, hạng ba, cùng đất khô và bãi màu, biên vào sổ sách, cho ruộng công đều trả về xã, cho chia đều mà cấy cày và nộp thuế. Nếu có người đem sức mình ra khai phá những chỗ rừng rú bỏ hoang, thành ruộng khai ra, thì cho làm ruộng tư, nhà nước thu thóc tô, xã ấy không được tranh chia, lấy thế làm lệ vĩnh viễn”.

Sau đó tác giả đi vào khảo sát các mục như:

- Việc chia các thứ đất để thu thuế

- Việc điều tiết sản vật, theo phép “vỗ trị” (yên chỗ ở cho dân, theo phong tục của dân, mở mối lợi, trừ mối hại cho dân)

- Phép tô ở hai xứ

- Bảy điều hiểu dụ làm sáng phép trị nước liên quan mật thiết đến chính sách ruộng đất và việc hiểu rõ dân tình

Về quan thuộc các trấn dinh và thi cử, Lê Quý Đôn soạn các mục:

- Cơ cấu tổ chức từ trên xuống dưới, từ tổng hành dinh đến các địa phương, kèm theo đó là biên chế cụ thể

- Phê phán lệ cũ, đề ra lệ mới tránh tệ “nhiều quan nhiễu dân”, nêu rõ “phép làm chính trị”: “Cốt biết cả số dân số ruộng, biết được dân nhiều hay ít, phân biệt ruộng tốt hay xấu, để đặt phú dịch, để lập quân đội, nhưng không nên hà khắc phiền nhiễu và trưng thu quá nặng. Người làm việc cẩu thả thường nói không phải xét kỹ, muốn rộng cho dân, không ngờ rằng đó chính là mở ra mối ăn lót và che giấu. Vả lại khiến người có tiền được nhẹ, người không có tiền phải chịu nặng riêng, không phải là công bằng”.

- Lệ “Vi tử”: Dân các xã thực nạp cho nhà nước, lấy cấp làm ngụ lộc cho các quan

- Lệ thi cử

- Lệ phu thủ lệ các phủ xứ Quảng Nam

- Lệ miễn dao dịch và sưu cho quân tòng hành

- Lệ hầu phu các chức các phủ xứ Quảng Nam

- Lệ mới nhận bằng mới của các viên ở các phủ xứ Quảng Nam

Về số ngạch nhân đinh, kén bắt hạng lính, chia đặt quân dịch… tác giả viết các mục:

- Ngạch chính hộ

- Ngạch khách hộ

- Ngạch có cấp ngụ lộc (chính là lệ vi tử đã nói trên)

- Lệ xá (khi bắt đầu nối ngôi công)

- Lệ tiền sai dư ở xứ Thuận Hoá

- Lệ phú thuế ở xứ Quảng Nam

- Lệ thuế trường thường tân

- Lệ thuế trường tiết liệu

- Lệ thuế sở tô ruộng

- Lệ thuế sai dư huyện Phú Châu

- Lệ thuế sai dư của thuộc Kim Hộ

- Lệ thuế tiết liệu của thuộc Kim Hộ v.v.

Cho đến lệ thuế thuyền, lệ thuế nại muối, lệ thuế hàng thuộc; rồi tiền khoán khố xứ Quảng Nam, số người và các tiền thuế và lệ thuế thổ sản của 9 phủ 25 huyện 1 châu xứ Quảng Nam năm Kỉ Sửu (1769) đều được biên chép cẩn thận.

Về chia đặt quân hiệu, tác giả chép:

- Quân chế cũ của xứ Thuận Hoá

- Ngạch binh và số binh trong ngoài của họ Nguyễn

- Số dân, số miễn lính đi lính cùng số trừ của 5 phủ xứ Quảng Nam về mùa đông năm Quý Dậu (1753)

- Tờ tấu trình của Tuần phủ Quảng Ngãi Nguyễn Cư Trinh “bày tỏ tình trạng khốn tệ trong dân gian”.

Tóm lại, quyển III là quyển nói về thuế má, tổ chức hành chính, tổ chức quân đội và việc thi cử của hai xứ Thuận Quảng. Trừ việc thi cử chép khá sơ sài, còn lại đều được biên soạn rất công phu, đầy đủ.

Quyển IV Lê Quý Đôn tiếp tục nói về thuế má, nhưng ở đây là các lệ thuế ở hai xứ:

- Lệ thuế đầu nguồn

- Lệ thuế tuần ti

- Lệ thuế đầm hồ

- Lệ thuế chợ đò

- Lệ thuế vàng bạc đồng sắt

- Lệ vận tải

Trong khi biên chép như thế, tác giả còn cho ta những hiểu biết rất thú vị về các sự việc, các sự kiện, các nghề nghiệp có liên quan. Chẳng hạn:

- Việc mua đồng của Nhật Bản

- Lược sử về tiền tệ và việc đúc tiền Ở Thuận Quảng

- Việc phá đồ đồng của họ Nguyễn để đúc tiền

- Việc sản xuất sắt, vàng, trầm hương, sơn đen, muối mắm, dầu cá, yến sào…

- Việc giao thương với nước ngoài qua những ghi chép về thuế má

- Cách gọi người Trung Quốc thời bấy giờ

- Cách buôn bán, các thứ hàng hoá…

Cuối quyển, tác giả còn biên chép về hệ thống kho tàng của Thuận Quảng. Thuận Hoá có 7 kho, Quảng Nam có 12 kho. Các kho được ghi chép cụ thể: chứa gi? ở đâu? ai trông coi? ai phụ trách chung?

Có thể thấy nếu gộp cả hai quyển III và IV thì những chủ đề lớn được biên soạn gồm: cơ cầu tổ chức chính trị; cơ cấu kinh tế (các khoản thu chủ yếu thông qua hệ thống thuế khoá, thương mại, các khoản dự trữ thông qua hệ thống kho tàng); và cơ cấu quân đội. Dưới đó lại có thể chia ra các khoản mục nhỏ nữa.

Quyển V nói về nhân tài và văn thơ. Lê Quý Đôn cho biết có các nhân vật:

- Cha con Đặng Tất

- Nguyễn Tử Hoan

- Bùi Dục Tài

- Dương Văn An

- Nguyễn Cư Trinh

- Mạc Thiên Tứ

- Nguyễn Quang Tiền

- Nguyễn Đăng Thịnh

- Ngô Thế Lân

- Nguyễn Dưỡng Hạo

- Trần Thiên Lộc

- Nguyễn Phúc Thuần

- Trần Duy Trung

- Lê Viết Trinh

- Mai Chiêu Tư

Thế là có ngót 20 vị. Ngoài ra, tác giả còn ghi chép được một số thư từ về quan hệ giữa ta và Xiêm La, nhắc đến nhà sư Thạch Liêm người Quảng Đông, chép lại nhiều thơ văn của một số tác giả vừa kể trên. Chỉ tiếc là còn khá nhiều nhân vật nổi danh khác mà chính Lê Quý Đôn đã nói đến ở quyển I lại không được đưa vào đây.

Quyển VI, như tên gọi, nói về vật sản phong tục.Tác giả viết về hàng loạt các sản vật: nhân sâm, yến sào, mật ong, sáp ong, sừng tê, ngà voi, sừng bò tót, diêm tiêu, giáng hương, trầm hương, tốc hương, song, mây, gỗ mun, gỗ lim, gỗ hoa hèo, gỗ hoa nu, gỗ kiền kiền, gỗ ngật (còn gọi gỗ dầu), cao mật dâu, gỗ táu, gỗ gụ, gỗ bơi lời, gỗ chò chiết, gỗ hoa mộc, gỗ súc, gỗ huện, gỗ sến, gỗ sao, lá buôn, gỗ hoa lê (tục gọi trắc mật), gỗ hồng (tục gọi gỗ sơn), gỗ dầu rái, tre tai lao, cây mít, xoài, sung, ý dĩ (bo bo), vừng (mè), quả gai (trái thơm), na (mãng cầu), mít nhão (mít ướt), mít không nhão (mít ráo), xoài lớn (xoài voi), xoài nhỏ (xoài cơm), xoài vừa (móc mít), cau, chuối, khoai, cây dầu lai, lác, chiếu thảm, chiếu mây, chiếu hoa, chiếu giai văn, chiếu mây ho, nón, giấy, lọ sành, đúc súng, bề rèn, làm bạc, làm mộc, làm thiếc, làm đồ đồng, đồng hồ Tây phương, ngọc hạc đính, ngọc hoàn chiếu, cây tử đàn, xà cừ, huyền phách, kì lam hương (gió lưỡi trâu (thành khổ trầm)), gió niệt (thành trầm hương, gió bầu (thành kì lam hương)), kì nam, hàng tơ dệt, dệt gấm, dệt vải, mắm trắng,…

Tác giả cũng so sánh sản vật giữa hai xứ Thuận – Quảng, cho rằng xứ Quảng là hơn hẳn: “Thuận Hoá không có nhiều của cải, đều lấy ở Quảng Nam, vì xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Người Thăng Hoa Điện Bàn biết dệt vải lụa vóc đoạn lĩnh là, hoa màn khéo đẹp chẳng kém Quảng Đông, ruộng đồng rộng rãi, gạo lúa tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, dầu, mật, cau, hồ tiêu, cá muối, gỗ lạt đều sản xuất ở đấy”.

Những phẩm vật khác gắn với thuế lệ, lương bổng, như: cau khô, rượu, rượu mật, bánh chưng, mỡ lợn, trầu, bánh, đường Phổ Đăng (đường phổi), mật mía, muối, cá, cua, sò, các loại lúa gạo, vải lụa… cũng được biên soạn rất chi tiết.

Tóm lại, Quyển VI, nếu nói về chủ đề thì gồm có mấy chủ đề chính như sau:

1. Về sản vật tự nhiên.

2. Về các nghề nghiệp sản xuất theo sản vật (tạo nên các xứ nghề, làng nghề…).

3. Chế độ định quy (thuế má, lễ lạt, bổng lộc…) theo nghề nghiệp và sản vật.

4. Lược sử các chúa Nguyễn và một số quyền thần gắn với việc nạp dụng sản vật.

Và như thế, có thể coi quyển này là một bách khoa thư về nông, lâm, hải sản và làng nghề của Thuận – Quảng ở thế kỉ XVIII.

Kết luận

Có thể lấy lời Bạt cuối Phủ biên tạp lục của Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ để đánh giá về nội dung tập sách: “Trong sách chép đủ những núi sông, thành ấp, binh ngạch, thuế lệ, nhân tài, sản vật của hai xứ, cùng đầu đuôi diên cách những việc truyền tập và chinh phạt của họ Nguyễn, rõ ràng như trỏ vào bàn tay”; còn nói về mục đích, ý nghĩa thì: “Tập sách này việc rộng, nghĩa tinh, mà đại ý lại đều là những điều quan yếu để thi hành chính trị, những điều trù hoạch ở trong triều đình mà thi thố ở ngoài nghìn dặm, đều có thể tìm thấy ở đây (…) mà không phải là sách ghi chép tầm thường vậy”.

Như thế, Phủ biên tạp lục là một kho tri thức đồ sộ về hai xứ Thuận – Quảng và cả Nam Bộ; kho tri thức ấy lại không phải là loại “ghi chép tầm thường” mà được biên soạn theo từng hạng mục qua 6 quyển; dưới các hạng mục lại là các chủ đề rõ ràng, đầy đủ; dưới các chủ đề là hàng ngàn các đơn vị tri thức lại hết sức tinh gọn, chi tiết mà ngày nay ta hoàn toàn có thể dựa vào để biên soạn thành các mục từ lớn nhỏ. Có thể coi Phủ biên tạp lục là tập Bách khoa thư đầy đủ nhất về mảnh đất phương Nam của nước ta, tính đến thời điểm cuối thể kỉ XVIII, với những trang biên soạn, ghi chép về biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Tổ quốc.

 


[1] Bản dịch của Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh, NXB Khoa học, Hà Nội, 1964. Mọi trích dẫn trong bài đều lấy từ sách này.

[2] Thư viện Hán - Nôm, kí hiệu VHv 1375.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 3 (29), 5-2014.

 

 

Bài đăng trước:

  • Một vài ý kiến về việc biên soạn BÁCH KHOA THƯ VĂN HỌC
  • Trong Sáng cùng Tiếng Việt: DÙNG TỪ NGOẠI LAI ĐÚNG NƠI
  • Đặc trưng nghĩa của thuật ngữ
  • Trong sáng cùng Tiếng Việt: TỪ, TIẾNG, CỤM TỪ
  • Trong Sáng cùng Tiếng Việt: TIẾNG LÓNG