Ngôn ngữ học

Đặc trưng nghĩa của thuật ngữ
     

GS. TS. LÊ QUANG THIÊM

ABSTRACT
Terms and terminology are receiving linguists’ attention nowadays. The paper deals with the semantic aspects of terms in order to show a problem: An incorrect awareness of meaning features may lead to misuse, careless formation without a scientific base that badly influence the systematic characteristics of terms. This warning is particularly necessary in the rise of terms in Vietnamese these years.

1. Lâu nay trong Việt ngữ học ta thường xem xét thuật ngữ như một lớp từ tồn tại song song với các lớp từ khác như lớp từ địa phương, tiếng lóng, từ nghề nghiệp. Mặc dầu các tác giả đề cập đến thuật ngữ (TN) cũng đã xác định đây là lớp từ đặc biệt biểu đạt khái niệm, hiện tượng, sự vật trong khoa học, kĩ thuật, công nghệ, các tính chất của TN như tính khoa học, chính xác, hệ thống, tính dân tộc cũng được nhận thức vận dụng. Thực tế trong một thời gian không dài chúng ta đã cấu tạo, tiếp nhận bằng nhiều con đường khác nhau, tạo thành hệ thuật ngữ tiếng Việt đa ngành, chuyên ngành đủ cho tư duy, sáng tạo, truyền bá; đào tạo đội ngũ những người làm khoa học kĩ thuật công nghệ cho việc nâng cao trình độ dân trí chung của toàn xã hội trong phát triển, hội nhập. Tuy nhiên, trong thành tích chung đó có một bình diện thuộc chuyên môn ngôn ngữ học chưa được chú ý thích đáng đó là bình diện nghĩa của thuật ngữ. Việc nhận thức thiếu chính xác đặc trưng nghĩa của TN dẫn đến dùng sai, cấu tạo dễ dãi, thiếu khoa học ảnh hưởng đến tính quy phạm, chuẩn hoá, tính hệ thống của hệ thuật ngữ.

Anh

GS Lê Quang Thiêm

Nói đến TN là nói đến các tên gọi (name), tên gọi trong khoa học kĩ thuật công nghệ là TN (term). Bởi vậy mà có người dùng TN gọn lại là “chuyên danh”. Chuyên danh, danh từ dùng trong chuyên môn được cấu tạo thành từ, ngữ để biểu đạt chính xác nội dung chuyên môn đó là khái niệm, là phạm trù khái quát trong khoa học xác định. Khởi thuỷ người ta đặt tên gọi cho sự vật là phân biệt sự vật mà ra. Trong khoa học, công nghệ, trong kĩ thuật vấn đề không dừng lại ở phân biệt sự vật mà phân biệt tri thức, sự hiểu biết có tính khoa học, khái quát, trừu tượng cao. Hình thức và kết quả của trình độ nhận thức khái quát đó là khái niệm. Khái niệm là nhận thức phản ánh thuộc tính chung và là thuộc tính bản chất của đối tượng. Vì vậy, nghĩa của TN hiểu chính xác là khái niệm, khái niệm khoa học, công nghệ, kĩ thuật về sự vật, hiện tượng được gọi tên, được biểu đạt bằng từ ngữ trong hệ thuật ngữ khoa học, kĩ thuật công nghệ xác định đó.

2. Khi từ ngữ thực hiện chức năng định danh (gọi tên) tức là thực hiện chức năng làm kí hiệu cho sự vật hiện tượng được gọi tên. Chất liệu âm thanh đầu tiên tạo thành kí hiệu để phân biệt sự vật này với sự vật khác là hoàn toàn võ đoán, vô căn cứ. Song việc đặt về sau, trong điều kiện ngôn ngữ đã phát triển, thì chất liệu hình thức biểu đạt không còn thuần tuý võ đoán hoàn toàn. Tình hình vừa nói liên hệ và việc đặt tên, cấu tạo TN thì từ bình diện định danh (nominative aspect) càng bộc lộ rõ tính có lí do, tính võ đoán tương đối của TN. TN được cấu tạo, nhận thức khi nhà chuyên môn phát hiện sự vật, hiện tượng và đặt tên cho nó. Với nhận thức xác định sự vật, hiện tượng được đặt tên chứ không phải giải thích hay định nghĩa đã tạo ra tên gọi (name) thay thế cho sự vật hiện tượng. Kết quả là hành động định danh đã tạo ra một biểu thức (từ, ngữ) định danh hữu thức có tính biểu trưng, tính trừu tượng. Chính các TN khởi nguyên từ tiếng Latin hay các ngữ Anh, Pháp như atom, vol, ampe, higg hay Au (vàng), Cu (đồng), Fe (sắt), Al (nhôm) là được tạo thành như vậy.

Ở nước ta, từ đầu thế kỉ XX, nhất là từ sau 1942 sau khi có cuốn “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn được xuất bản, đến nay hàng loạt TN bằng từ ngữ Latin hoá được tạo thành. Đó là kết quả của việc đặt, dịch văn bản khoa học và kĩ thuật việc đối dịch, soạn từ điển chuyên môn mà có. Việc định danh sáng tạo hoặc bằng vay mượn nguyên dạng, phiên âm chuyển tự hoặc cấu tạo theo lối sao phỏng loại suy, chuyển đổi nội dung từ thường thành TN lập thành hệ thuật ngữ của tiếng Việt ngày nay. Chính quá trình định danh hữu thức, quá trình vay mượn, tiếp nhận, cấu tạo bằng nhiều con đường làm cho bình diện nghĩa của TN (semantic aspect) phức tạp, đa dạng cần nhận thức rõ đặc trưng nghĩa của TN một cách sáng tỏ, để tiện cho việc nhận hiểu và sự vận dụng tri thức thông qua TN càng hiệu quả.

3. Xét về đặc trưng khái quát của nghĩa TN trong quan hệ với hình thức kí hiệu có thể phân biệt thành hai khối lớn các đơn vị. Một là danh pháp (nomenclature) như Danh pháp Geneve (Geneve nomenclature) thông qua năm 1892 và được phổ biến rộng rãi trên thế giới, trong đó có một bộ phận quan trọng là danh pháp hoá học. Danh pháp hoá học có thể tạm phân thành hai bộ phận, đó là “tên gọi các nguyên tố và các hợp chất hoá học” và “Các quy tắc viết công thức và tên các hợp chất hoá học”. [4:13] Hai là các thuật ngữ như chúng ta thường gặp. Đi vào chi tiết phân chia và nhận thức còn nhiều điều cần đào sâu hơn. Chấp nhận sự phân biệt chung, chúng ta có thể hiểu đặc trưng nghĩa của TN một cách tổng quát bao gồm cả danh pháp và TN.

Là những tín hiệu kí hiệu ngôn ngữ thuật ngữ có hình thức biểu đạt bằng chữ viết. Hiện thời ở ta là chữ quốc ngữ Latin hoá. Kí hiệu chữ viết (phiên âm hoặc chuyển tự hoặc để nguyên dạng Latin hoặc các ngữ Anh, Pháp đều là văn tự ghi âm. Chẳng hạn danh pháp hoá học A­r (Agon), As (Asen), cl (Clo),... hoặc công thức hoá học CIK, H2O, CaO4S đều biểu thị bằng chữ viết. Hình thức kí hiệu này hết sức chặt chẽ, quy phạm đã được quốc tế quy định. Với hình thức kí hiệu ấy ấn định nội dung khái niệm được biểu đạt là khái quát, trừu tượng, có tính quy định xác định, tính khoa học, chính xác, quốc tế, tính hệ thống cần phải được tôn trọng, tuân thủ. Trong hệ thống danh pháp được chấp nhận thống nhất thì nghĩa của danh pháp rõ ràng là khái niệm, là tri thức phản ánh thuộc tính chung, bản chất của đối tượng được biểu đạt. Nội dung nghĩa này có tính thuần lí, khoa học, chính xác. Và hình thức biểu đạt là kí hiệu văn tự. Tính kí hiệu (biểu hiện bằng chữ viết) thể hiện rõ ràng theo quy định, quy cách viết, quy cách chính tả cần tuân thủ nghiêm ngặt. Tính quy ước, tính hệ thống của cái biểu đạt và khái niệm được biểu đạt là hoàn toàn theo quy ước, là hệ thống được quy định thống nhất quốc tế. Nghĩa khái niệm với hình thức kí hiệu chữ viết tương ứng trở thành quy tắc quy phạm bắt buộc tuân thủ.

4. Nghĩa của TN là khái niệm (nghĩa biểu niệm) trong danh pháp và trong TN ngữ thường có sự phân biệt. Sự phân biệt đó thể hiện rõ ở hình thức biểu đạt của TN và sự tương ứng của hình thức với nội dung nghĩa của TN. Như có thể thấy hình thức biểu đạt của danh pháp cấu tạo từ chất liệu vô nghĩa, nó là chữ viết (kí tự) thuần tuý. Ví dụ, công thức H2O để chỉ nghĩa là khái niệm nước. Danh pháp H2O phân biệt với TN nước chỉ nghĩa khái niệm là H2O, là “chất lỏng không màu, không mùi và vị”... Ở chỗ kí hiệu H2O hoàn toàn là một sự quy ước, gán ghép hệ thống, còn từ nước trở thành TN nước với nghĩa xác định lại bị nhoè, bị mơ hồ hoá với tri thức nghĩa đời thường của nước trong nước chè, nước lọc, nước uống thường gặp trong cuộc sống. Để hiểu chính xác nghĩa biểu niệm (khái niệm khoa học) của TN nước cần gạt bỏ, loại bỏ độ nhoè, sự mơ hồ của nội dung nghĩa từ nước để hiểu nội dung khái niệm nước là TN (tương ứng nội dung H2O). Vậy cũng có nghĩa là nghĩa của TN nướckhái niệm nước (H2O) chứ không là nghĩa thường dùng (các kiểu nghĩa khác của từ nước không là TN).

Ở thí dụ vừa dẫn ta thấy nổi rõ hai điều. Một là hình thức kí hiệu trong danh pháp được quy định, quy ước chặt nên nghĩa khái niệm được biểu đạt sáng rõ, có tính hệ thống, không bị nhoè nghĩa biểu niệm. Hai là hình thức biểu đạt của TN dùng ngữ liệu thường, yếu tố cấu tạo TN có nghĩa nên nội dung nghĩa dễ bị nhoè, bị mơ hồ cái nghĩa biểu niệm vốn là bản chất nghĩa của TN. Đây là điều cần phân biệt trong khả năng biểu đạt khái niệm khoa học (nghĩa biểu niệm) của danh pháp với khả năng biểu đạt nghĩa biểu niệm (khái niệm khoa học) của TN thường. Đồng thời cũng cần đi sâu nhận thức, phân biệt hàm nội dung, chất lượng nội dung nghĩa, kiểu nghĩa xác định là nghĩa biểu niệm (khái niệm khoa học scientific concept) trong TN, chứ không phải là kiểu nghĩa nào khác không thuộc tầng nghĩa trí tuệ (intellectual Stratum) trong các kiểu nghĩa tầng nghĩa từ vựng của ngôn ngữ. [3: 117]

5. Để hiểu chính xác đặc trưng nghĩa của TN thì cần một lần nữa khẳng định nghĩa của TN là khái niệm khoa học. Đặc trưng này của nghĩa là TN là tất yếu. Bởi vì chính bản chất của tư duy khoa học là có tính chất duy lí, lí tính và chức năng của khoa học là khám phá chân lí, biểu đạt dẫn giải chân lí. Khoa học, kĩ thuật, công nghệ nói chung có mục đích nhận thức chân lí, ứng dụng hiểu biết chân lí khách quan vào đời sống. Nói cách khác hiểu biết chân lí, ứng dụng chân lí, ứng dụng chân lí khách quan vào đời sống là mục đích, cứu cánh của khoa học, kĩ thuật, công nghệ.

Quy luật nhận thức chân lí, khám phá đối tượng của tư duy cũng có nhiều mức độ. Đó là đi từ thấp đến cao, từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” theo các nấc thang: từ cảm giác đến tri giác đến biểu tượng đến khái niệm. Vậy khái niệm là nấc thang, là sản phẩm cao nhất của tư duy. Nó khác ở bản chất biểu đạt với cảm giác, tri giác, biểu tượng. Và từ những khái niệm chung nhất, bản chất nhất phản ánh những thuộc tính chung và quan trọng nhất gọi là phạm trù. TN là công cụ, phương tiện biểu đạt tư duy khoa học thì nghĩa được biểu đạt là khái niệm. TN là từ, là ngữ mà là từ ngữ biểu đạt khái niệm, có nghĩa là khái niệm. Khái niệm là nội dung nghĩa của TN (term).

Đến đây để rõ hơn đặc trưng nghĩa của TN là khái niệm còn cần phân biệt các kiểu nghĩa khác không phải là khái niệm khoa học. Xin dẫn thí dụ nghĩa từ “dạng” danh từ, có 2 nghĩa, “1 hình thức tồn tại, hình thức hiện ra khác nhau của một sự vật, một hiện tượng... 2 (chm) phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu hiện quan hệ giữa chủ thể và khách thể của hành động ...” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên). Trong 2 nghĩa trên thì chỉ có nghĩa 2 (chm) mới là nghĩa biểu niệm, nghĩa đặc trưng của TN khoa học. Chúng ta có thể dẫn hàng loạt từ có nghĩa phân biệt như thế trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên. Đó là phân biệt nghĩa, phân biệt loại nghĩa theo truyền thống, còn chấp nhận sự phân biệt “kiểu nghĩa chức năng từ vựng” [3:123] thì càng rõ nội dung đặc trưng nghĩa khái niệm khoa học của TN. Việc nhận rõ đặc trưng, thuộc tính, bản chất nghĩa của TN không những giúp chúng ta nhận thức rõ nội dung khoa học, công nghệ, kĩ thuật biểu đạt trong TN để đưa vào ứng dụng thực tiễn đúng, chính xác mà còn là cơ sở, chỗ dựa cho việc chuẩn hoá, quy phạm hoá TN, góp phần giữ gìn sự trong sáng ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Mác, Ăng ghen (1962), Lê nin bàn về Ngôn ngữ. NXB Sự thật, Hà Nội, 1962.

[2] Lê Doãn Tá, Tô Duy Hợp, Vũ Trung Dung (chủ biên) (2004), Giáo trình logic học (tái bản lần thứ nhất). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[3] Lê Quang Thiêm (2008), Ngữ nghĩa học. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[4] Hội Hoá học Việt Nam (2010), Danh pháp và thuật ngữ hoá học. NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.

[5] Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng.

[6] Nguyễn Thạc Cát (chủ biên) (2009), Từ điển hoá học phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[7] Hoàng Xuân Hãn (1942), Danh từ khoa học. NXB Văn mới, Hà Nội.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 3 (29), 5-2014.

 

 

Bài đăng trước:

  • Trong sáng cùng Tiếng Việt: TỪ, TIẾNG, CỤM TỪ
  • Trong Sáng cùng Tiếng Việt: TIẾNG LÓNG
  • Bộ sách nói TIẾNG VIỆT dành cho người nước ngoài
    (Tóm lược bài thuyết trình tại Hội nghị Quốc tế về Nghiên cứu và Giảng dạy tiếng Việt)
  • Con đường chuyển nghĩa của từ “ĐI”
  • Những khác biệt trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn