Ngôn ngữ học

Bộ sách nói TIẾNG VIỆT dành cho người nước ngoài
(Tóm lược bài thuyết trình tại Hội nghị Quốc tế về Nghiên cứu và Giảng dạy tiếng Việt)
     

GS. PHAN VĂN GIƯỠNG*

*The International Baccalaureate, UK. E-mail: giuongphan@yahoo.com.au

 

A. Dẫn nhậphack vcoin hack xu bau vat cf hack bac gate

1. Hội nghị quốc tế giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: “Tôi không hiểu” do Đại học Maryland và Viện ngoại vụ, Bộ ngoại giao-US tổ chức (April, 1-3, 2007) đưa vấn đề “Tại sao sau vài tháng cho đến vài năm, người nước ngoài học tiếng Việt nhưng không hiểu khi nghe người Việt nói”.

2. Trong những năm qua, các báo, tạp chí và các buổi hội thảo về “giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt” đã nêu lên thắc mắc “Tại sao học sinh, sinh viên học tiếng Anh hay tiếng Việt trong năm bảy năm nhưng không dùng tiếng Anh hay tiếng Việt để giao tiếp được” (Tuổi Trẻ, Dân Trí, Viện nghiên cứu thi cử...)

3. “... nhưng khi cần trình bày một vấn đề có tính chất chính thức (chẳng hạn, trả lời phỏng vấn trên truyền hình, phát biểu trong cuộc họp, hoặc làm một bài tập làm văn...) thì lại tỏ ra hết sức lúng túng, vụng về, không biết nói gì và nói như thế nào.” (Nguyễn Đức Tồn, MVĐ L L và PP dạy và học TNTV trg 32).

4. Kết quả cuộc nghiên cứu của chúng tôi mới đây cho thấy:

◈ Phương pháp giảng dạy chưa được cập nhật. Trong các lớp dạy tiếng Anh, tiếng Việt, giáo viên vẫn là trung tâm (teacher-centre).

◈ Tài liệu giảng dạy vẫn là những bộ giáo trình nhàm chán, không thích ứng với đời sống hàng ngày.

Để cải thiện hai vấn đề trên, chắc hẳn cần nhiều nổ lực, cần nhiều phương thức. Một trong những phương thức là ứng dụng công nghệ truyền thông đa chức năng vào việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt.

Trong hơn hai thập niên qua, việc ứng dụng công nghệ truyền thông đa chức năng vào việc dạy và học ngôn ngữ đã trở thành phổ quát.

Công nghệ truyền thông đa chức năng đã cống hiến nhiều chương trình rất hấp dẫn và có hiệu quả, như việc bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh trong nhiều hoạt động dùng ngôn ngữ khác nhau.

Computer Assisted Language Learning (CALL) được nhiều nhà giáo dục, giáo viên dạy ngôn ngữ hưởng ứng áp dụng từ thập niên 80 đến nay, Hội Globle CALL, PACCALL đã được thành lập từ lâu và thường niên vẫn tổ chức hội nghị quốc tế.

CALL bây giờ bao gồm những công cụ hổ trợ nghe, nói, đọc và viết như CD-ROMs, Internet (face-book, skype...)

Ngày nay, những chương trình dạy ngoại ngữ chú trọng đến những kĩ năng diễn đạt (productive skills) và đặc biệt chú trọng khả năng giao tiếp (communicative competence). Khả năng học viên tham dự vào các cuộc đối thoại, đàm thoại thiết thực được xem là rất quan trọng, nếu không nói là mục tiêu của việc học ngôn ngữ. (H. Douglas Brown, Teaching by Principles: An Interactive Approach to Language Pedagogy)

B. QUÁ TRÌNH

◆ Việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đãcó từ hơn 100 năm nay, và đặc biệt nở rộ từ khi Việt Nam mở cửa (1986), chuyển đổi từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Hơn thế nữa, hiện nay, có hơn 3 triệu người Việt sinh sống ở nhiều quốc gia trên thế giới, các bậc phụ huynh vẫn luôn quan tâm duy trì tiếng Việt và văn hoá Việt Nam cho các thế hệ con cháu.

◆ Việc học tiếng Việt giúp người học hiểu và làm việc với hơn 90 triệu người ở Việt Nam và hơn 3 triệu người Việt ở khắp nơi trên thế giới [như ở Pháp, Mỹ, Gia Nã Đại (Canada), Úc...].

◆ Việc giảng dạy tiếng Việt ở nước ngoài khác với việc giảng dạy tiếng Việt ở Việt Nam. Do đó, tài liệu, phương pháp phải được cập nhật, thích hợp với môi trường xá hội mới.

◆ Nhìn lại quá trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, chúng thấy có một số vấn đề bất cập về giáo viên, tài liệu giảng dạy, phương pháp. Đến nay, chúng ta vẫn chưa có chuyên ngành đào tạo “giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” (như một ngoại ngữ). Hiện nay, một số trường đại học mới chỉ có ngành Việt Nam học.

C. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY và CÔNG NGHỆ TRUYỀN THÔNG ĐA CHỨC NĂNG

1. Phương pháp giảng dạy:

◈ “Qua các cứ liệu cho thấy từ đầu thế kĩ đến nay việc giảng dạy ngôn ngữ đã trãi qua nhiều phương pháp giảng dạy“ Rogers and Rechards):

◈ Những thay đổi lớn từ phương pháp truyền thống ngữ pháp và dịch (Grammar-translation method) đến phương pháp thính thị (Audio-lingual Approach) và đến ngày nay, phương pháp giao tiếp (Communicative Language Teaching Approach).

2. Công nghệ truyền thông đa chức năng

◈ Từ Multimedia khởi đầu dùng để diễn tả các học cụ bao gồm sách, băng nhựa, băng video, máy vi tính.

◈ Multimedia dựa trên căn bản máy vi tính có nhiều chức năng như trình bày, in văn bản, vẽ biễu đồ, phát lại băng CD, Video và ghi âm, hình ảnh...

◈ Vì khả năng của máy vi-tính có thể phối hợp được 4 kĩ năng ngôn ngữ cho nên multimedia rất có giá trị và thích ứng cho việc học và dạy tiếng Anh, tiếng Việt.

◈ Ngày nay, Waschauer cho rằng ”phần lớn ứng dụng công nghệ truyền thông đa chức năng (hyper-multimedia) “Trước hết là môi trường học tập thích thú được tạo dựng như khi nghe bao gồm thấy như thế giới thực. Thứ hai, các kĩ năng ngôn ngữ nghe nói, đọc viết được liên hợp một cách tự nhiên trong hoạt động dùng ngôn ngữ. Thứ ba là học viên kiểm soát được việc học của mình. Và sau cùng, phần lớn lợi ích của hyper-multimedia là nó phối trí được nguyên tắc chú trọng vào nội dung nhưng không bỏ quên phần ngữ pháp và phương pháp học tập.” (Nowadays, it can be assumed that the majorityof Multimedia applications embrace the functions that Warschauer describes to hype-multimedia: “First of all, a more Authentic learning environment is created, since listeningis combined with seeing, just like in the real world.Secondly, skills are integrated, since the variety of media make itnatural to combine reading, writing, speaking and listening in asingle activity. Third, students have great control over their learning, since theycan not only go at their own pace but even on their ownparticular aspects and skipping other aspects altogether. Finally, a major advantage of hyper-multimedia is that it facilitates a principle focus on the content without sacrificing a secondary focus on language form and learning strategies. For example, whilethe main lesson is in the foreground, students can have access to a variety of background links which will allow them rapid access to grammatical explanations or exercises, vocabulary glosses, pronunciation information or questions or prompts which encourage them to adopt an appropriate learning strategy” (Warschauer, 1996).

3. Vietnamese e-learning

◈ Sự phát minh trang Web (by Tim Berners-Lee) là một sự kiện tuyệt vời đáng kể và từ đó đã thay đổi tính chất của CALL.

◈ Tiếp theo, vào năm 2000, hệ thống truyền thông toàn cầu băng rộng (broadband) được sử dụng rộng rãi khắp nơi và bắt đầu khả năng mới chuyển tải âm thanh, hình ảnh tài liệu giảng dạy qua Web. Blogs, face-book (by Mark Zuckerberg)... và e-learning trở nên phổ quát trong lãnh vực giáo dục. (“if someone is learning in a way that uses information and communications technologies, they are using e-learning”,  Mark Pegrum’s wiki on Myths of E-learning: http://e-learning.wikispaces.com).

◈ Trong 10 năm qua, đã có một số chương trình giảng dạy tiếng Việt e-learning:

∘ Arizona State University: www.e-learningvietnameseonline.com

∘ Australian Educators: www.ausieeducator.org.au

∘ EDV: www.everydayviet.com

∘ Foreign Service Institute, US State Department: www.langocity.com

∘ Centre for Modern Vietnamese: www.modernvietnamese.com

∘ Hội giảng dạy tiếng Việt quốc tế: www.iatvnetwork.org/hoctiengviet

∘ The Lear4Good Director: www.learn4good.com

∘ The National project (OVC), MoET-Vietnam: www.vietstudy.org

∘ Viện phát triển ngôn ngữ: www.vienngonngu.vn

∘ Wikipedia: www.101languages.net/vietnamese

D. BỘ SÁCH NÓITIẾNG VIỆT dành cho người nước ngoài (Vietnamese TalkingBooks for foreigners)

◈ “Bộ sách nói tiếng Việt dành cho người nước ngoài” dựa trên phương pháp “học viên là trung tâm” (learner-centered approach), “hoạt động dùng ngôn ngữ” (activities based approach) và chú trọng đến tiến trình học tập” (learning process) là những đặc tính cần thiết trong việc học ngôn ngữ.

◈ Những quan điểm và phương pháp nầy là động lực cho “ứng dụng công nghệ truyền thông đa chức năng” (to apply the hyper-multimedia technology) vào “Bộ sách nói tiếng Việt dành cho người nước ngoài” (Vietnamese Talking books for foreigners).

◈ “Bộ sách nói tiếng Việt dành cho người nước ngoài” song ngữ Việt-Anh cho trình độ từ căn bản đến cao cấp. Do đó, không những người ngoại quốc học tiếng Việt mà người Việt cũng có thể dùng để học tiếng Anh.

◈ Bộ sách nầy gồm có 4 quyển sách in đặc biệt với những mã số và một cây viết thông minh (the intelligent/electronic talking pen): Cây viết chứa ghi âm toàn bộ 4 cuốn sách. Học viên dùng cây viết nầy để nghe đàm thoại, bài đọc , từ vựng và ghi tiếng nói của mình, xong so sánh kết quả.

◈ Với cây viết và sách, người học có thể học bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, rất tiện lợi mang theo.

E. KẾT LUẬN

◆ Giao tiếp trực tiếp (nghe-nói) hay gián tiếp (đọc-viết) là trọng tâm của việc học và dạy tiếng Việt. “Bộ sách nói tiếng Việt dành cho người nước ngoài” tạo cơ hội cho học viên dùng tiếng Việt như trong đời sống thực hàng ngày. Học viên đối thoại với người Việt, ghi âm lại những đối thoại này và so sánh phần phát âm của mình với người Việt.

◆ Công nghệ truyền thông (the information and Communication Technonoly-ICT) bao gồm công nghệ truyền thông đa chức năng (hyper-multimedia) đã và đang mang lại rất nhiều tiện ích cho đời sống, trong giáo dục và đặc biệt trong việc học và dạy tiếng Việt.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bax S. (2003): CALL-past, present and future, System 31:13-28.

[2] Davies G. (1997) Lessons from the past, lesions for the future: 20 years of CALL, www.camsoftpartners.co.uk.

[3] Davies G. (2007): Computer Assisted Language Learning: Where are we now and where are we going?, www.camsoftpartners.co.uk.

[4] De Szendeffy J. (2005): A practical guide to using computers in language teaching, www.press.umich.edu.

[5] EuroCALL: www.eurocall-languages.org.

[6] EUROpean Commission: www.ictlt.org.

[7] Fitzpatrick, A. & Davies, G. (2003): The impact of Information & Communications Technologies on the Teaching of Foreign Languages and on the Role of Teachers of Foreign Languages, www.camsoftpartners.co.uk.

[8] Hewers, S. & Davies, G. (2000): Integrating ICT into Language Teaching, Thames Valley University.

[9] IC4LT Recourse centre on CALL: www.ict4lt.org.

[10] Phan Văn Giưỡng,(2007): The applications of ICT to the Teaching of Vietnamese as a Foreign Language, International conference on CALL, VN.

[11] Phan Văn Giưỡng, (2011): Ứng dụng công nghệ truyền thông đa chức năng vào giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Hội nghị quốc tế về nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt, Bình Châu, 2011.

[12] Phan Văn Giưỡng, 2010: Những nguyên nhân học ngoại ngữ không hiệu quả, đề án nghên cứu IBO.

[13] Warschauer M. (1996) Computer-assisted Language Learning: An Introduction, www.gse.uci.edu.

[14] WorldCALL: www.worldcall.org.

Nguồn: Tác giả gửi riêng cho Vietlex.

 

 

Bài đăng trước:

  • Con đường chuyển nghĩa của từ “ĐI”
  • Những khác biệt trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn
  • Đặc điểm định danh thuật ngữ
  • Cái mới nhìn từ góc độ ngôn ngữ: Câu ngắn, câu dài, câu không động từ
  • Từ điển học và Bách khoa thư học (phạm vi, đối tượngquan hệ)