Ngôn ngữ học

Những khác biệt trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn
     

GS. TS. NGUYỄN THIỆN GIÁP

ABSTRACT
Basing the work (“Vietnamese Grammar: Tiếng (Syllables) - Compound words - Phrases) by Nguyễn Tài Cẩn, the famous Vietnamese linguist, the article points out his academic viewpoints. For the article author, the grammar system described by Nguyễn Tài Cẩn is deeply affected by the American descriptive linguistic school, which considers the morpheme a basic unit instead of the word (as the view of the European traditional linguistics). It is a difference which helps him handle the issues related to the morpheme, word, compound word in Vietnamese.

1. Truyền thống ngôn ngữ học coi từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, ngữ pháp là những quy tắc cấu tạo từ và cấu tạo câu trong một ngôn ngữ. Ngữ pháp học nghiên cứu các cách thức và phương tiện cấu tạo từ và câu. Ngữ pháp học bao gồm hình thái học (hay còn gọi là từ pháp học) và cú pháp học. Hình thái học nghiên cứu cấu trúc bên trong của từ và những quy luật cấu tạo từ, nó được chia thành hai lĩnh vực biến hình (inflection) và cấu tạo từ (word-formation). Biến hình là sự biến đổi trong hình thức của một từ vì mục đích ngữ pháp. Cấu tạo từ là sự tạo ra những từ mới từ những đơn vị đã có. Cú pháp học là bộ môn nghiên cứu cấu trúc của câu, tức là nghiên cứu những quy luật chi phối cách thức các từ, các cụm từ và cú đoạn kết hợp với nhau để tạo thành câu, hoặc nghiên cứu mối quan hệ lẫn nhau giữa các yếu tố ở trong câu.

2. Quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn về hệ thống ngữ pháp tiếng Việt thể hiện ở ngay nhan đề của cuốn sách xuất bản năm 1975: Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ. Theo ông, hệ thống ngữ pháp tiếng Việt gồm 4 phần: Tiếng, Từ ghép, Đoản ngữ và Câu. Ông viết ba phần, phần còn lại là Câu do Hoàng Trọng Phiến viết. Trong điều hành giảng dạy ở Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây và Khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội hiện nay, Ngữ pháp tiếng Việt luôn được chia thành hai phần do hai người khác nhau dạy, một phần gọi là Từ pháp học, dạy theo giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn, một phần là Cú pháp học dạy theo giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt: Câu của Hoàng Trọng Phiến (NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1980) và các giáo trình về câu do Nguyễn Cao Đàm và Đào Thanh Lan, Nguyễn Văn Hiệp soạn. Mặc nhiên chấp nhận vậy chứ chưa ai chính thức giải thích về mặt lí luận vì sao lại như vậy.

3. Tìm hiểu kĩ quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn về Ngữ pháp tiếng Việt, có thể thấy những tư tưởng chủ yếu là như sau:

“Tiếng” là “đơn vị gốc, đơn vị tế bào của ngữ pháp", kiểu đơn vị đó trong thuật ngữ ngôn ngữ học thường được gọi là “morpheme” (đa số dịch sang tiếng Việt là hình vị). Theo ông, người ta thường định nghĩa hình vị là “đơn vị nhỏ nhất mà có ý nghĩa”, nhưng ông đã đưa ra một quan niệm khác: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất về mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp”. [1:11] Về đặc điểm của tiếng, ông cho rằng: a) “giữa âm tiết và hình vị tiếng Việt bao giờ cũng có một sự tương ứng một đối một, một sự tương ứng hoàn toàn”; [1:38] b) “đó là một đơn vị gốc có vị trí trung gian giữa hình vị và từ của nhiều ngôn ngữ khác”; [1:39] c) “Chính tiếng mới là đơn vị tự nhiên dễ dàng nhận diện được, đối với người bản ngữ. Từ ghép nói chung và đặc biệt là từ ghép nghĩa nói riêng, phần lớn lại là đơn vị hậu kì, mới sản sinh sau, chưa hình thành được bản sắc một cách thật rõ ràng, do đó, ngay những nhà ngôn ngữ học nhiều khi cũng chưa dễ dàng xác định đúng đắn hoàn toàn được”; [1:43] “ở tiếng Việt từ lâu chúng ta đã có ở trong lối nói thông thường của quần chúng nhân dân những khái niệm “tiếng”, “tiếng một”, “chữ”, có rất lâu trước khi có khái niệm từ và ngay khi đã đặt ra khái niệm “từ” rồi thì thường thường chúng ta vẫn quen dùng “tiếng”, “tiếng một” và “chữ” hơn”. [1:43]

Theo Nguyễn Tài Cẩn, “kết hợp tiếng với tiếng chúng ta sẽ được những loại đơn vị ngữ pháp cao hơn, gọi chung là tổ hợp. Tổ hợp có thể chia làm hai loại chính: a) Những tổ hợp tự do, ví dụ: bàn tròn, bàn gỗ, bàn học sinh; đang học, học bài, học chăm chỉ; gió thổi, thầy giảng, học sinh nghe. b) Những tổ hợp cố định hay cố định hoá, ví dụ: bù nhìn, cà phê, axit; đất đai, phập phồng, lảm nhảm; xe cộ, áo xống, đường xá; học sinh, giáo viên, thư viện; học trò, trẻ con, cao điểm; hoa hồng, cà chua, áo rộng”. [1:49]

Những đơn vị mà Nguyễn Tài Cẩn gọi là “từ ghép” thực chất là “loại tổ hợp cố định hay cố định hoá xưa nay thường được gọi là từ đa tiết hoặc từ ghép, ví dụ: bù nhìn, đủng đỉnh, châu chấu, đất đai, xe cộ, hải đăng, ngữ pháp, học trò, cao điểm”. Loại tổ hợp cố định hay cố định hoá xưa nay thường được gọi là thành ngữ, cụm từ cố định, như: nước đổ lá khoai, mặt trận tổ quốc, bách chiến bách thắng,… thì Nguyễn Tài Cẩn bỏ qua, không hề nhắc đến.

Đoản ngữ, theo quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn là loại tổ hợp tự do, “kết hợp theo quan hệ chính phụ, ví dụ: tỉnh lớn. Đây là trường hợp có một trung tâm đứng làm nòng cốt (tỉnh) và bên cạnh chúng ta ghép thêm một hay một vài thành tố có vai trò thứ yếu, dùng để bổ sung cho trung tâm (lớn)”. [1:148] Đoản ngữ có danh từ làm trung tâm được gọi là danh ngữ. Đoản ngữ có động từ làm trung tâm được gọi là động ngữ. Nguyễn Tài Cẩn chưa có ý niệm về các loại đoản ngữ giới từ (giới ngữ), đoản ngữ số từ (số ngữ).

Một điều đáng chú ý là, khi miêu tả danh ngữ và động ngữ, tác giả mặc nhiên thừa nhận tư cách là từ của đơn vị nào đó, mặc nhiên thừa nhận tư cách từ loại là danh từ hay động từ của đơn vị nào đó, dường như coi đó là những vấn đề đã được giải quyết. Chỉ đến chương tiếp theo, chương bốn “Đoản ngữ và vấn đề từ loại , tiểu loại”, ông mới trình bày sự phân chia các từ loại trong tiếng Việt. Về logic có vấn đề con gà và quả trứng.

Khái niệm “từ”, (bao gồm cả từ đơn và từ ghép) với tư cách là một cấp độ chỉ được đề cập tới ở phần cuối cùng của cuốn sách, phần kết luận. Ở đây, ta thấy tác giả phân biệt bốn kiểu đơn vị: âm vị, tiếng, từ đoản ngữ.

Như vậy, đối với Nguyễn Tài Cẩn, từ không phải là đơn vị cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt. Trong giáo trình Từ vựng tiếng Việt (1978), tôi đã nhận xét: Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn không đặt cho mình nhiệm vụ xác định khái niệm từ tiếng Việt mà chỉ cố gắng chứng minh tính cố định của những tổ hợp thường được gọi là từ mà thôi. Mặt khác, cái khó trong việc xác định khái niệm từ tiếng Việt không chỉ ở sự phân biệt các tổ hợp thường được gọi là từ ghép với các tổ hợp là cụm từ  tự do mà còn ở sự phân biệt giữa các tổ hợp thường được gọi là từ ghép với các tổ hợp là các thành ngữ, cụm từ cố định. Chính vấn đề sau còn nan giải hơn mà Giáo sư chưa nói tới. Cả cuốn sách được trình bày theo tuyến: tiếng - từ ghép - đoản ngữ, cuối sách xuất hiện khái niệm từ, khiến sự miêu tả đã thay đổi so với trước. Nhìn vào bảng trên, ta thấy giáo sư chỉ ghi nhận tiếng chỉ có hai đặc trưng là có khả năng khu biệt ý nghĩa và có mang ý nghĩa, mang giá trị ngữ pháp. Trong khi đó, ở phần thứ nhất, nói về tiếng, Giáo sư đã miêu tả nhiều tiếng có khả năng vận dụng độc lập, thậm chí, có khả năng làm thành tố cú pháp [1].

4. Như ta biết, L. Bloomfield (1887-1949), người đặt nền móng cho ngôn ngữ học miêu tả Mĩ, quan niệm hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ chứ không phải chỉ là bộ phận của từ như truyền thống ngôn ngữ học châu Âu. Các nhà ngôn ngữ học Mĩ khác coi thường khái niệm từ trong miêu tả ngữ pháp. Ngoài hai đơn vị là âm vị và hình vị, họ bàn đến các tổ hợp hình vị. Cấu trúc câu cũng được trình bày theo phân tích thành tố trực tiếp, trong đó các hình vị được liên hệ với nhau trong các biểu đồ hình cây, thể hiện các cấu trúc phức tạp và càng đi lên càng lớn dần.

Dễ dàng nhận thấy rằng hệ thống ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn chịu hưởng sâu sắc của Ngôn ngữ học miêu tả Mĩ. Truyền thống ngôn ngữ học coi từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng việc xác định từ trong các ngôn ngữ không phải là việc dễ dàng. Vì thế, khi lí thuyết của L. Bloomfield ra đời nhiều người đã hồ hởi đón nhận nó. Không phải ngẫu nhiên, trường phái miêu tả Mĩ đã chi phối diễn đàn ngôn ngữ học thế giới nhiều thập kỉ. Cũng vì lẽ đó, cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn đã được giới Việt ngữ học hoan nghênh và đánh giá cao. Nhiều người đã áp dụng cách miêu tả đó với các ngôn ngữ khác ở Việt Nam.

Tuy nhiên, cần thấy rằng, sau thời hoàng kim, Ngôn ngữ học miêu tả Mĩ đã bị phê phán ở nhiều điểm. Nhiều nhà ngôn ngữ học nhận thấy coi hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ là không chú ý đến phép biện chứng giữa bộ phận và toàn thể. Làm như vậy là khiến cho ranh giới giữa hình thái học và cú pháp học không còn nữa. Theo V. Z. Panfilov, hình vị không có chức năng định danh thì không liên quan đến hình thức nào của tư duy cả. Từ có chất lượng của bậc cao hơn nên trong dãy ngữ đoạn nó linh hoạt và tự do hơn. Hiểu lời nói là một chuỗi liên tục của các chiết đoạn hình vị, hình vị là “vật liệu” để xây dựng nên phát ngôn, là sai lệch bức tranh chân thực của quá trình giao tiếp bằng lời nói. Làm như vậy là bỏ đi tất cả những gì liên quan đến từ với tư cách “vật chứa” các ý nghĩa sự vật mà qua đó hình thành nên hệ thống ý nghĩa ngôn ngữ - xã hội. Không thấy những hạn chế đối với hình vị là chỗ yếu của ngôn ngữ học miêu tả Mĩ. Nhiều nhà khoa học nhận thấy rằng miêu tả từ thông qua hình vị là thiếu sức mạnh logic và chỉ đem lại một quan niệm rất chung chung về từ. Cách làm đó thực ra là quy mặt chất lượng của các hiện tượng bậc cao thành hiện tượng bậc thấp. Nhưng xét về mặt nội dung chất lượng thì đơn vị đo lường ở đây không tương ứng với vật được đo lường bằng đơn vị ấy. Về mặt lịch sử, hiểu phát ngôn như là sự sắp xếp các hình vị theo một cách nhất định là không phản ánh thực trạng của ngôn ngữ. Nếu coi hình vị là một bộ phận của từ với tư cách là cái chỉnh thể thì chỉ có thể tách được hình vị khi có mặt chỉnh thể này. Với tư cách là một chỉnh thể, từ là nhân tố chủ đạo nhất trong việc xác định bản tính và nội dung của các yếu tố tham dự vào thành phần cấu tạo của nó, bởi vì bộ phận phải phục tùng chỉnh thể chứ không phải ngược lại. V.M. Solncev đã chứng minh từ là một đơn vị bắt buộc phải có của mọi ngôn ngữ, còn hình vị chỉ là một loại đơn vị bất thường, có khi chúng mất đi, có khi chúng lại xuất hiện ở trong lịch sử ngôn ngữ. Từ là một đơn vị vĩnh hằng, bao giờ nó cũng có mặt trong suốt quá trình tồn tại của ngôn ngữ. Các nhà khoa học nhận thấy từ là đơn vị hiện thực của ngôn ngữ, nó không thể bị bất kì quan niệm ngôn ngữ học nào bỏ qua. Nếu bỏ qua đơn vị hiện thực này sẽ có nguy cơ bế tắc về phương pháp luận, mất triển vọng khoa học.

5. Không ít người chưa thật nắm vững quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn về hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Có người phê phán Nguyễn Tài Cẩn đã lẫn lộn đơn vị ngữ âm với đơn vị ngữ pháp khi thấy ông coi axít trong a xít cũng là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt, nhất là khi đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt lại được gọi là “tiếng”, một thuật ngữ gợi lên thuộc tính ngữ âm của nó. “Tiếng” là một tên gọi vốn có trong tiếng Việt, người ta đã từng dùng nó để chỉ le mot (từ) thì Nguyễn Tài Cẩn cũng có thể dùng để chỉ cái đơn vị mà ông coi là hình vị (morpheme). Còn vì sao những tiếng vô nghĩa như axít lại được Nguyễn Tài Cẩn coi là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt thì phải trở lại quan niệm về đơn vị gốc của ngữ pháp của ông. Như trên đã dẫn, người ta thường định nghĩa hình vị là “đơn vị nhỏ nhất mà có ý nghĩa”, nhưng ông đã đưa ra một quan niệm khác: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất về mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp”. Nếu tán thành quan niệm của ông về đơn vị gốc của ngữ pháp thì phải chấp nhận cách xử lí của ông với axít trong a xít.

Nhiều người thấy trong hệ thống miêu tả của Nguyễn Tài Cẩn cũng có các thuật ngữ hình vị, từ đơn, từ láy, từ ghép nên nghĩ là cách tiếp cận của ông cũng giống với cách tiếp cận của các tác giả khác, khác chăng chỉ là hệ thống của ông chặt chẽ và nhất quán hơn. Thực ra, đó chỉ là vẻ bên ngoài. Về thực chất, quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn khác hẳn quan điểm của các nhà Việt ngữ học khác. Nếu như Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê,… và nhiều người khác coi từ là đơn vị cơ bản của tiếng Việt, thì Nguyễn Tài Cẩn coi tiếng (hình vị) là đơn vị cơ bản hay đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng trong hệ thống ngữ pháp của Nguyễn Tài Cẩn tương tự như morpheme (hình vị) theo quan niệm của Bloomfield, chứ không phải là từ tố (morpheme) theo quan điểm của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu.

Ngoài ảnh hưởng của Ngôn ngữ học miêu tả Mĩ, Nguyễn Tài Cẩn còn tiếp thu truyền thống Đông phương học, nhấn mạnh vai trò của âm tiết trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán,… Cao Xuân Hạo đánh giá cao Nguyễn Tài Cẩn trong việc tiếp thu thành tựu của Đông phương học khi xác lập cái đơn vị gọi là “tiếng” trong tiếng Việt. Không ít người nghĩ rằng hai ông cùng có quan điểm như nhau. Thực ra không phải như vậy. Cao Xuân Hạo đã cố gắng chứng minh tư cách là từ của cái đơn vị gọi là tiếng, còn Nguyễn Tài Cẩn thì chứng minh tiếng là hình vị của tiếng Việt.

Cũng không ít người nghĩ rằng Nguyễn Tài Cẩn thì coi âm tiết trong tiếng Việt nhất loạt trùng với hình vị, còn Nguyễn Thiện Giáp thì cực đoan hơn, coi âm tiết tiếng Việt trùng với từ. Quả nhiên, Nguyễn Tài Cẩn quan niệm “giữa âm tiết và hình vị tiếng Việt bao giờ cũng có một sự tương ứng một đối một, một sự tương ứng hoàn toàn”. Trong các công trình đã xuất bản, chúng tôi chỉ chứng minh từ tiếng Việt có vỏ ngữ âm là âm tiết, chứ không hề chủ trương bất cứ âm tiết nào cũng là từ của tiếng Việt. Chúng tôi nghĩ các âm tiết vô nghĩa không thể là từ, càng không thể là hình vị được.

Trong lí thuyết của Ngôn ngữ học miêu tả Mĩ, không có sự phân biệt giữa hình thái học và cú pháp học. Nương theo lí thuyết này, Nguyễn Tài Cẩn đã miêu tả hệ thống ngữ pháp tiếng Việt thành 4 phần: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ và Câu. Không có cơ sở để coi Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ là từ pháp của tiếng Việt , còn Câu là cú pháp tiếng Việt. Tốt nhất, hãy gọi tên đúng như nó có.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1975.

[2] Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng tiếng Việt, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội, 1978.

[3] Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1985.

[4] Nguyễn Thiện Giáp, Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.

[5] Nguyễn Thiện Giáp, Vấn đề “từ” trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011.

[6] Bloomfield L., Language, London, 1935.


[1] Lưu ý rằng các tiêu chí “có khả năng vận dụng độc lập” và “có khả năng làm thành tố cú pháp” tương tự với tiêu chí “có tính tách biệt” và “độc lập cú pháp” mà chúng tôi sử dụng trong cuốn “Vấn đề “từ” trong tiếng Việt”. [2:135]

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 6 (26), 11-2013.

 

 

Bài đăng trước:

  • Đặc điểm định danh thuật ngữ
  • Cái mới nhìn từ góc độ ngôn ngữ: Câu ngắn, câu dài, câu không động từ
  • Từ điển học và Bách khoa thư học (phạm vi, đối tượngquan hệ)
  • Từ chính tả tiếng Việt đến văn bản quy phạm pháp luật về ngôn ngữ và chữ viết
  • Tìm hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt trong các từ: ÂN CẦN, BỐ THÍ, ĐÔ HỘ...