Ngôn ngữ học

Đặc điểm định danh thuật ngữ
     

PGS. TS. HÀ QUANG NĂNG

ABSTRACT
The article discusses the issues in relation to how a word is defined as a term in general and in detail of the way Vietnamese words are termed. These are specific issues of content and form of scientific terminology. Terms are formed in many ways. They are termed as an independent concept in the knowledge system of a scientific field. The author has tried to make sense of that special terming mechanism.

1. Vấn đề

Thuật ngữ phát sinh trong quá trình giao tiếp khoa học kĩ thuật, nhưng không nhất thiết phải giới hạn trong phòng làm việc, trong phòng thí nghiệm của nhà nghiên cứu. Nhiều khi thuật ngữ nảy sinh trong những cuộc nói chuyện bình thường của những người quen sử dụng ngôn ngữ thông thường trong ngề nghiệp và chỉ sau này chúng mới được xác nhận như là những thuật ngữ khoa học hay kĩ thuật.

Trong những lĩnh vực tri thức chuyên ngành luôn diễn ra quá trình bổ sung và đổi mới không ngừng khối từ vựng. Bộ phận từ vựng này thường vượt trước sự phát triển khối từ vựng phổ thông, là nơi mà chúng ta không cảm thấy một sự cấp thiết mạnh mẽ đòi hỏi sự phát triển vượt bậc của khối từ vựng của ngôn ngữ.

Những đơn vị từ vựng phát sinh không đơn giản chỉ trong các trường hợp có yêu cầu đòi hỏi cấp thiết. Mỗi một tên gọi có (hoặc có thể có) một căn nguyên ban đầu mà lí do này trong quá trình hoạt động chức năng của từ bị nhạt và mất dần đi. Trong khối từ vựng phổ thông, từ được sinh ra trong tình huống lời nói thường theo nhiều mối liên hệ khác nhau, đôi khi chỉ những người đưa ra cách gọi tên đó mới hiểu. Trong lĩnh vực chuyên môn, nhiều khi những tên gọi được đưa ra bởi một người, một nhà nghiên cứu, một nhà phát minh hay một nhóm nhỏ những người gần gũi với anh ta. Khác với việc định danh của khối từ vựng phổ thông, ở đó là nơi thực tế xã hội lựa chọn và thu nhận một số tương đối không nhiều từ tất cả những gì phát sinh một cách hỗn độn trong lời nói, khối từ vựng chuyên ngành lại khẳng định và thu giữ tất cả những cách gọi được nêu ra nhưng chỉ trong nội bộ lĩnh vực đó. Trong một hệ thống thuật ngữ, các thuật ngữ được hình thành và tồn tại không giống nhau. Ở đó có những thuật ngữ được các chuyên gia sáng tạo ra nằm trong khu vực các đối tượng riêng của họ và được sử dụng trong ngôn ngữ công tác của riêng họ. Đó là những thuật ngữ nguyên gốc. Bên cạnh đó, còn có một loạt những thuật ngữ có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác cũng có mặt trong hệ thống thuật ngữ đó là nhờ vào những người phiên dịch, hay các giảng viên ngôn ngữ tạo ra cho những đối tượng chuyên ngành, hay những người truyền đạt thông tin và không tham gia trực tiếp vào việc tạo ra những thuật ngữ đó. Như vậy, có hai loại đối tượng sáng tạo ra thuật ngữ. Thứ nhất là các chuyên gia thuộc các lĩnh vực khoa học kĩ thuật, các ngành nghề, sản phẩm do họ tạo ra là những thông tin khoa học kĩ thuật được đặt tên. Những tên gọi này chính là các thuật ngữ được các chuyên gia quan tâm trực tiếp tới chúng sử dụng. Thứ hai là những người phiên dịch, biên tập, các giảng viên. Họ là những người chuyên gia trung gian, trong quá trình phiên dịch hoặc giảng dạy chuyên môn đã trực tiếp tạo ra các thuật ngữ. Nếu như các chuyên gia trung gian không tìm được từ cần thiết, họ sẽ sáng tạo ra cách nói vòng vo mô tả các đối tượng tương đương hay những từ mới. Các đơn vị miêu tả tương đương là các đơn vị thuật ngữ thứ cấp, mang tính giải thích.

Thuật ngữ hoá các khái niệm khoa học và kĩ thuật là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của các chuyên gia trong các ngành nghề cùng với các nhà lôgic học và ngôn ngữ học. Việc tìm kiếm các hình thức biểu thị thích hợp đối với mỗi phân khúc của các khái niệm trong tổ chức tầng bậc là một nhiệm vụ không kém phần phức tạp so với việc thuật ngữ hoá các khái niệm. Việc bắt đầu tìm kiếm một cách tự giác và có kế hoạch những hình thức biểu thị đó thuộc về khoảng thời gian cách đây không lâu lắm. Chẳng hạn, việc hệ thống hoá các đối tượng nghiên cứu của các nhà hoá học bắt đầu vào khoảng nửa sau của thế kỉ XIX. Đóng vai trò lớn trong việc này là Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của D. I. Mendeleev. Ở nước ta, việc thuật ngữ hoá đích thực một số hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học chỉ diễn ra vào đầu thế kỉ XX. Đóng vai trò không nhỏ trong việc này là công trình Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn.

Cho tới giữa thế kỉ XIX phần lớn các thuật ngữ được hình thành theo cách sau:

1. Người ta đặt ra một loat các hạn chế trong việc sử dụng một từ thông thường. Một từ với phạm vi sử dụng giới hạn hay với các hạn chế trong mối tương quan lôgic sẽ trở thành một thuật ngữ, Đó là quá trình đặc thù hoá mang tính thuật ngữ của một từ thông dụng được thực hiện. Người ta thường gọi quá trình này là quá trình thuật ngữ hoá (hay trí tuệ hoá) từ ngữ thông thường;

2. Trên cơ sở những ngữ liệu ngôn ngữ hiện hành người ta tạo ra những phương tiện định danh mô tả, đó là các thuật ngữ - mệnh đề;

3. Trên cơ sở lí thuyết được các nhà khoa học phát triển, người ta sáng tạo ra các từ mới (quá trình sáng tạo từ).

Bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX những phương thức tạo thuật ngữ trên được bổ sung thêm bằng cách đưa vào hệ thống thuật ngữ các danh pháp. Người ta còn tiến hành việc vay mượn thuật ngữ và dịch các thuật ngữ từ tiếng nước ngoài.

Quá trình định danh thuật ngữ luôn là quá trình thứ cấp so với việc định danh chung, thông thường. Trong ngôn ngữ phổ thông hầu như tất cả mọi vật đã được định danh từ lâu. Trong các lĩnh vực chuyên ngành thường xuyên có nhu cầu về các hình thức định danh mới. Quá trình định danh thuật ngữ liên hệ mật thiết với một loạt những vấn đề xác định cho phép tách biệt nó thành một lĩnh vực độc lập của tri thức. Đó là quá trình sáng tạo thuật ngữ, là việc chuyên ngành hoá các ý nghĩa mang tính thuật ngữ, là tính hệ thống, tính tầng bậc và tính tổ chức trong hệ thống và trong trường thuật ngữ tương ứng, là quá trình quảng bá và xâm nhập sâu của thuật ngữ. Một phần của những vấn đề nêu trên thuộc về bản chất của khoa học thuật ngữ, phần khác trong chừng mực nào đó là đặc tính của khối từ vựng phồ thông nhưng được giải quyết một cách khác trong khoa học thuật ngữ.

2. Bình diện nội dung và bình diện thể hiện của thuật ngữ

Khi vẫn bảo lưu hình thức bên ngoài của từ, thuật ngữ hoàn toàn được phân rõ ranh giới với từ đó theo nội hàm của mình. Ở đây, khác với từ phổ thông là từ được nhận thức thông qua hình thái bên ngoài của mình, thì ở thuật ngữ, nội dung của nó được đưa lên hàng đầu, còn hình thái trong các giai đoạn tiền sinh của nó có thể không được thể hiện rõ ràng, không bền vững và luôn cần phải chính xác hoá thêm. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa thuật ngữ với từ của ngôn ngữ phổ thông. Nếu như đối với từ phổ thông mối liên hệ giữa vỏ âm thanh, nội dung và sự vật được định danh luôn được hình dung là một thể thống nhất nào đó, thì ở thuật ngữ không thấy có sự thống nhất đó. Chẳng hạn, nếu nói về những mối liên hệ về từ vựng hay cú pháp của thuật ngữ thì nó được coi như là một từ, nhưng nếu nói về mối liên hệ với khái niệm thì thuật ngữ lại đối lập với từ và khái niệm do thuật ngữ biểu thị được tri nhận như một điều đặc biệt đối lập với cái chung. Điều đó cho ta khả năng đối lập thuật ngữ như một khái niệm với thuật ngữ trong tư cách là một từ bởi vì vị trí mà thuật ngữ có được trong khuôn khổ của lí thuyết chỉ động chạm tới thuật ngữ - khái niệm, còn sự tương ứng với các lớp từ vựng nhất định lại chỉ liên quan tới thuật ngữ - từ.

Vấn đề khác biệt giữa thuật ngữ - từ và thuật ngữ - khái niệm chỉ trở nên rõ ràng khi ta đối chiếu so sánh các hệ thống thuật ngữ của một lĩnh vực tri thức được tạo lập bằng các ngôn ngữ khác nhau mà cùng một khái niệm được thể hiện bằng các từ khác nhau. Chẳng hạn, từ space trong tiếng Anh, từ космос trong tiếng Nga và từ không gian trong tiếng Việt.

Từ space trong tiếng Anh có các nghĩa sau đây:

1. Khoảng (trống), chỗ (trống)
2. Bãi đất
3. Khoảng không, khoảng không gian
4. Vũ trụ
5. (thường số ít) Khoảng thời gian

(Lê Khả Kế, Từ điển Anh - Việt, NXB Khoa học Xã hội, 1997, tr.1803)

Từ космоc trong tiếng Nga chỉ có một nghĩa là vũ trụ. Trong tiếng Việt từ không gian có hai nghĩa:

1. Hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với thời gian), trong đó các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau, cái nọ ở cách cái kia
2. Khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người

(Trung tâm Từ điển học (Hoàng Phê, Vũ Xuân Lương, Hoàng Tuyền Linh,...),Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2007, tr.633)

Ở đây từ space của tiếng Anh có một nghĩa thứ ba rộng hơn là nghĩa “không gian” (nói chung) và trong nghĩa này nó có thể là thuật ngữ của vật lí học hay triết học và tương đương với nghĩa thứ nhất của từ này trong tiếng Việt. Mặc dù mọi khái niệm cơ bản của bất kì lĩnh vực tri thức nào cũng luôn có cách biểu thị tương ứng trong tiếng Anh, tiếng Nga hay tiếng Việt nhưng sự tương ứng song song lại không có.

Con người tư duy bằng ngôn ngữ, và mỗi một ngôn ngữ là một hệ thống rộng lớn các mô hình (moden). Trong hệ thống này được tổ chức và hệ thống hoá không chỉ các hình thái và phạm trù mà nhờ đó con người giao tiếp với nhau, chúng còn giúp con người phân tích tự nhiên, nhận thấy hay bỏ qua các kiểu quan hệ và hiện tượng, rút ra kết luận và xây dựng ngôi nhà nhận thức của mình. Mỗi một ngôn ngữ sắp xếp và chỉnh đốn thực tế khách quan theo kiểu của mình và điều đó không thể không ảnh hưởng tới các hệ thống thuật ngữ.

Việc phân định chặt chẽ những khái niệm khoa học, những định nghĩa rõ ràng thường được tiến hành trong trường khái niệm lại nằm trong mối tương quan phụ thuộc chặt chẽ với khả năng vật chất hoá của ngôn ngữ và tư duy bằng ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Kết quả là các khái niệm giống nhau được thể hiện trong các ngôn ngữ riêng biệt thì trong thực tế thường là bằng các từ có ý nghĩa không trùng hợp. Hãy so sánh từ wear của tiếng Anh với các từ mang, mặc, đội của tiếng Việt, các từ beam (tia sáng, chùm sáng) và ray (tia) của tiếng Anh với từ луч (tia, tia sáng, quang tuyến; tia, chùm (phóng xạ)) của tiếng Nga. Như vậy, một khái niệm trọn vẹn hình thành trong tư duy ngôn ngữ của người Anh lại tương ứng với ba khái niệm trong tiếng Việt và hai khái niệm trọn vẹn hình thành trong tiếng mới tương ứng với một khái niệm trong tiếng Nga. Vì có sự không trùng hợp khối lượng của khái niệm trong các ngôn ngữ giao tiếp nên dẫn đến tình trạng là những từ giống nhau nhưng lại chỉ các hiện tượng sự vật khác nhau.

Trong các công trình nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ thường được thực hiện bằng vài thứ tiếng trên nguyên tắc phù hợp đơn trị - hai bên qua lại giữa khái niệm và hình thức biểu thị có thể xảy ra những trường hợp sau:

1. Thuật ngữ trong ngôn ngữ L1 có thể tương ứng phù hợp chính xác với thuật ngữ trong ngôn ngữ L2, ví dụ ordinateur của tiếng Pháp và computer của tiếng Anh. Khi không có sự cân bằng như vậy thì sẽ có nhiều hiện tượng không trùng khớp khác nhau;

2. Mối tương quan liên hệ giữa hình thức biểu thị và khái niệm trong một ngôn ngữ này là hẹp hơn so với mối tương quan giữa hình thức biểu thị và khái niệm trong ngôn ngữ kia;

3. Mối tương quan này bằng tổng các mối tương quan của hai khái niệm và hình thức biểu thị của chúng trong ngôn ngữ kia;

4. Khái niệm có thể được biểu thị trong ngôn ngữ L2 với sự giúp đỡ của từ vựng ngôn ngữ L1 bởi vì khái niệm này chưa được những người sử dụng ngôn ngữ L2 biết đến. Chẳng hạn, theo nhận xét của Rondeau, nhiều tên gọi mà khối cư dân nói tiếng Anh ở Canada lại không có trong khu vực cư dân nói tiếng Pháp ở đó. Trong trường hợp này người phiên dịch hay nhà chuyên gia sẽ sáng tạo ra tên gọi mà sau khi so sánh các khái niệm thuật ngữ trong mỗi thứ tiếng nó sẽ trở thành thuật ngữ.

Điều đó cho phép ta đặt vấn đề về bình diện nội dung và bình diện biểu hiện của thuật ngữ. Ý tưởng về bình diện biểu hiện và bình diện nộị dung được L. Hjelmslev [1960:306] đưa ra khi ông tiến hành việc giải mã kí hiệu. Đối với nhà ngôn ngữ học, nội dung là lĩnh vực nằm ngoài phạm vi khoa học của họ. Chỉ khi có được biểu hiện hình thức của mình, nội dung mới gia nhập vào thành phần thứ tiếng đó và được sắp xếp trong cơ cấu của ngôn ngữ. Nhưng rất nhiều điều mà các nhà khái niệm học đưa ra không nằm trong cấu trúc của thuật ngữ với tư cách là một từ. Mặt khác, khi vay mượn thuật ngữ - từ, nội dung khái niệm của nó là bất biến không chịu bất kì tác động thay đổi nào khi chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ tiếp nhận nó. Nó được vay mượn như một hình thức trích dẫn và ý nghĩa của nó chỉ thay đổi do kết quả của việc tái cấu trúc chuyên ngành toàn bộ hệ thống. “Sự đối lập giữa nội dung và hình thức, hay vật chất và hình thái - những cặp khái niệm này có nguồn gốc sâu xa trong triết học. Hình thức với ý nghĩa triết học “dạng thức, cấu tạo, kiểu hình; cấu trúc, kết cấu của một vật nào đó” không thể áp dụng cho ngôn ngữ học. Còn thứ mà ta hiểu ngầm là nội dung có thể ứng dụng cho khái niệm ngôn ngữ - vi ngôn ngữ, mặc dù ngôn ngữ nhìn chung có thể coi là hình thức của văn hoá dân tộc” [A. A. Reformatskij 1968:107].

A. I. Smirnitskij [Smirnitskij 1955:79- 83] cũng khẳng định rằng vỏ âm thanh của từ không nằm trong thành phần ý nghĩa của nó và ý nghĩa cũng không phải là sự vật, đối tượng mà từ đó biểu hiện. Ý nghĩa không thể được xác định như là một đại lượng nằm trong thành phần của từ. Sự phản ánh đối tượng được biểu thị chí ít cũng chỉ là một phần ý nghĩa của từ. Bình luận về luận điểm này, A. A. Reformatskij viết: “… nhưng cái chính không chỉ là mối liên quan giữa vỏ âm thanh với sự vật hay hiện tượng được từ biểu thị, mà là mối liên hệ giữa vỏ âm thanh với sự phản ánh sự vật hay hiện tượng, đó chính là ý nghĩa của từ.. Cần phải từ bỏ cách “chia đôi” thành vật chất và hình thức, thành nội dung và hình thức, thành “vỏ” và “nội dung”, và phải coi từ như một đối tượng ngôn ngữ trong hình thái trọn vẹn về cấu trúc của nó” [A. A. Reformatskij 1968:116-117].

Việc tách “vỏ âm thanh” ra khỏi từ và vỏ đó có các ý nghĩa khác nhau là không chấp nhận được. Ở khối từ vựng phổ thông, một vỏ âm thanh có thể chứa đựng các ý nghĩa khác nhau, nên việc tách vỏ âm thanh ra khỏi ý nghĩa là không chấp nhận được. Bởi vì, đối với các từ trong vốn từ vựng phổ thông, điều kiện cơ bản và tiên quyết để chúng tồn tại là sự thống nhất giữa hình thức và nội dung ý nghĩa. Đối với các từ thuộc khối từ vựng chuyên ngành sự thống nhất này ít có giá trị hơn bởi vì có thể có nhiều cách mã hoá, thay thế hay biểu hiện ước lệ khác nhau.

T. L. Kandelaki phân tách thuật ngữ ra thành bình diện nội dung và bình diện thể hiện. Bình diên nội dung của thuật ngữ - đó là thuật ngữ - khái niệm, còn bình diện thể hiện - đó là thuật ngữ - từ. Tính hai mặt trong bản chất của thuật ngữ làm nó khác với từ bình thường mà thường ở đó ta nói tới sự thống nhất giữa bình diện nội dung và bình diện thể hiện.

Điều này có thể lí giải được vì ý nghĩa của những từ trong ngôn ngữ tự nhiên được hình thành và biến đổi dần dần trong quá trình phát triển của các hệ thống ngôn ngữ và vì thế không thể tách rời khỏi nhau. Khi xem xét kĩ càng các hệ thống thuật ngữ thì những khái niệm đơn lẻ không thay đổi vị trí của mình trong hệ thống, nghĩa là vẫn giữ nguyên bình diện nội dung, lại có thể có những hình thức biểu hiện mới, tức là thay đổi bình diện thể hiện của mình. Từ đó suy ra chúng là những khái niệm tách rời nhau trong thuật ngữ. Minh chứng cho điều này có thể lấy một ví dụ trong tiếng Việt. Vào những thập niên 30 của thế kỉ trước, nội dung ý nghĩa “hợp chất có tác dụng với một bazơ làm sinh ra một chất muối” trong hoá học được thể hiện bằng vỏ âm thanh là cường toan, nhưng sau này người ta gọi bằng tên khác là a xít.

Ch. Fillmore [1968:6] nhận xét rằng ý nghĩa cơ bản của từ được xác định bởi tập hợp các thành tố của nghĩa, một trong số các thành tố đó có thể là thành tố cơ bản của từ đó, còn các thành tố khác vốn thuộc về nhiều từ khác. Do sự phát triển của việc phân tích máy các văn bản nên mối quan tâm tới khả năng hình thức hoá ý nghĩa và việc phát hiện những cơ chế cho phép ta chuyển từ ý nghĩa sang văn bản ngày một tăng lên. Vì ý nghĩa của các từ riêng biệt đôi khi đòi hỏi phải có cả một văn bản để giải thích kĩ chúng nên nhiệm vụ đó đã trở nên hết sức phức tạp. Iu. D. Apresijan [1969:14] viết về khả năng đưa một ý nghĩa phức tạp dần dần quy về thành các dấu hiệu ngữ nghĩa sơ đẳng thông qua các thành phần cấu thành ngữ nghĩa. Nhưng việc phân tích ngữ nghĩa nhằm tách ra các ý nghĩa đơn giản (sơ đẳng), cũng như thành các ý nghĩa phức tạp hơn (nghĩa vị) về bản chất lại là việc phân tích các khái niệm chứ không phải các từ, nghĩa là trở thành công việc của các nhà lôgic học chứ không phải của nhà ngôn ngữ học. Và mặc dù khái niệm có cách thể hiện ngôn từ của nó, mối liện hệ một đối một của từ và khái niệm trong lĩnh vực từ vựng phổ thông là không có. Ranh giới giữa các nghĩa nghĩa của từ đa nghĩa thường không rõ ràng và điều này làm khó khăn thêm cho việc quy các ý nghĩa phức tạp thành các ý nghĩa đơn giản. Cùng một ý (tư tưởng) có thể được thể hiện bằng các từ khác nhau (vỏ vật chất), một nghĩa vị có thể tương ứng với vài từ vị, có nghĩa là cấu hình của các đơn vị thuộc bình diện thể hiện tương ứng với các bản chất khác nhau của bình diện nội dung và ngược lại.

Ngữ nghĩa của những từ thuộc khối từ vựng phổ thông phát triển một cách tự nhiên. Chẳng hạn từ bắn về mặt lịch sử có nghĩa là hành động bắn mũi tên nhằm vào đích. Với sự xuất hiện của các vũ khí hoả khí thì động từ bắn bắt đầu có nghĩa là việc phóng đến đích các phương tiện sát thương khác nhau (đạn súng trường, đạn pháo tròn, đạn pháo mảnh, các viên đạn pháo lớn và v.v…). Đó là sự phát triển tự nhiên về mặt ngữ nghĩa của những từ thuộc khối từ vựng phổ thông. Trong khối từ vựng thuật ngữ, ngữ nghĩa ngay từ đầu đã được quy định bởi thuật ngữ - từ với tư cách là một đơn vị cấu trúc nhân tạo. Hơn nữa thuật ngữ - từ lại còn gắn với thuật ngữ - khái niệm một cách hoàn toàn ước lệ, và việc phân tích các từ vị nằm trong đó hoàn toàn không nhất thiết là truyền đạt bản chất của khái niệm đó. Thuật ngữ - từ chỉ là kí hiệu của thuật ngữ - khái niệm và thuộc về một hệ thống khác được vật chất hoá theo cách của riêng mình. Việc phân tich các ý nghĩa từ vựng của các thành tố nằm trong thuật ngữ - từ không cho ta một ý nghĩa đủ chính xác của thuật ngữ mà chỉ như một sợi chỉ dẫn đường giúp ta nhận thức thuật ngữ - khái niệm.

Ý nghĩa chính xác của thuật ngữ - khái niệm chỉ có thể được hiểu rõ trong hệ thống thuật ngữ của trường thuật ngữ đó. Việc định nghĩa nó chỉ là một sự giải thích bằng từ với cố gắng tiếp cận tối đa, ngắn gọn, nhưng không thật đầy đủ ý nghĩa của thuật ngữ đó.

Khi người ta tiến hành nghiên cứu các khả năng truyền đạt khái niệm và cấu trúc khác nhau của một thuật ngữ thì việc phân tích các thành tố cấu thành ý nghĩa của nó cần phải xuất pháp từ việc định nghĩa thuật ngữ - khái niệm chứ không phải từ các khả năng từ vựng của thuật ngữ - từ. Khoa học phát triển. Nội dung khoa học của các khái niệm luôn thay đổi. Một ví dụ thông thường nhưng rất rõ ràng là ngữ nghĩa của từ “nguyên tử” (trong tiếng Hi Lạp từ này có nghĩa là “không chia cắt được”). Trong vật lí nguyên tử từ lâu người ta đã xác định được rằng nguyên tử có cấu tạo bên trong của nó và có nhiều hạt cơ bản nằm trong thành phần của nó. Nhưng thuật ngữ - từ “nguyên tử” vẫn được bảo lưu như là một thuật ngữ cơ bản ban đầu, thuận tiện, mặc dù bây giờ nó có nội dung khái niệm hoàn toàn khác trước.

Hiệu quả của việc đó là sự bất khả giải nghĩa thuật ngữ - từ với tư cách là một đơn vị từ vựng bình thường, cũng như sự bất khả phân tách thuật ngữ - khái niệm thành các ý nghĩa sơ đẳng, cơ bản, như người ta thường làm điều đó trong các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa học. Bản thân ý nghĩa của thuật ngữ - từ không thể rút ra từ hình thái ngôn ngữ, mà được ghép cho thuật ngữ - khái niệm trong một hệ thống khoa học xác định. Chính vì nguyên nhân này mà những khảo sát tìm tòi về mặt từ nguyên đối với các thuật ngữ là không cần thiết, bởi vì trong thuật ngữ người ta không tìm kiếm các nghĩa từ bằng cách rút chúng ra từ hình thái ngôn ngữ, mà khi biết khái niệm người ta sẽ hình dung ra được nó sẽ phải có hình thái ngôn ngữ nào (nghĩa là khái niệm sẽ được bao bởi hình thái ngôn ngữ nào).

Ngữ nghĩa của từ rất quan trọng đối với nhà từ nguyên học nghiên cứu sự biến đổi của các đơn vị từ vựng thuộc ngôn ngữ tự nhiên. Thuật ngữ chỉ có được ý nghĩa khi nằm trong hệ thống. Vì vậy, khi thuật ngữ đã được tạo lập thì nó sẽ dứt khỏi ngữ nghĩa ban đầu và mất đi những mối liên hệ sinh động của ngôn ngữ tự nhiên và rồi phát triển tự thân theo các quy luật thuật ngữ riêng của nó. Việc tìm kiếm ngữ nghĩa trong giai đoạn quá khứ của thuật ngữ và tiến hành các khảo cứu từ nguyên như các nhà nghiên cứu từ vựng phổ thông thường làm, hoá ra là một công việc khá phức tạp bởi vì việc sử dụng các phương pháp và thủ thuật của họ thường là rất khó khăn.

Trong bất kì hệ thống thuật ngữ nào thì những mối liên hệ từ vựng tự nhiên đều là mối liên hệ cần thiết đối với hệ thống thuật ngữ, vì những mối liên hệ này xác định cả những mối liên hệ của những thuật ngữ tương ứng, tức là từ với khái niệm. Kết quả là phần lớn thuật ngữ không chịu tuân theo cách giải thích đơn giản. Để hiểu thuật ngữ, cần phải hiểu toàn bộ lí thuyết mà nó là một thành phần cơ bản của lí thuyết đó và phải biết vị trí mà thuật ngữ đó chiếm lĩnh trong phạm vi lí thuyết đó. Ý nghĩa của thuật ngữ trong khoa học hiện đại - đó là vị trí của nó trong lí thuyết khoa học đó [Reformatskij 1968:121; Isachenko 1962:24].

Như vậy, thuật ngữ - từ là anh em sinh đôi của thuật ngữ - khái niệm nhưng mang vỏ vật chất cụ thể hoá. Những điều kiện đặc biệt mà từ đó được sử dụng đã làm thay đổi rõ rệt đặc điểm của nó.

3. Tính có lí do của thuật ngữ

Việc định danh, hay đặt tên gọi là một quá trình luôn song hành với sự nhận thức thế giới xung quanh của con người. Sự nhận thức đó càng đầy đủ và chính xác bao nhiêu thì tên gọi càng chi tiết bấy nhiêu. Việc nghiên cứu các phương tiện và cách thức gọi tên những sự kiện và hiện tượng của thực tế khách quan được biểu thị bằng thuật ngữ danh xưng học. Quá trình gọi tên liên hệ chặt chẽ với quá trình nhận thức có cơ sở dựa trên sự đối chiếu so sánh giữa các đối tượng và quan niệm về chúng để nhằm phát hiện các đặc tính và đặc điểm chung cũng như riêng của chúng. để đinhi danh sự vật, từ cần phải chỉ rõ điều mà con người đã nhận thức được về sự vật đó và điều đó đòi hỏi phải có đặc tính phân biệt nhận thức nào đó. Mối tương quan qua lại giữa âm thanh và ý nghĩa từ xa xưa đã gây tranh cãi cho đến nay. Người Hy Lạp từ xưa đã phân hoá thành hai nhóm: một nhóm ủng hộ quan điểm coi ngôn ngữ được phát sinh tự nhiên, một nhóm lại cho rằng nguồn gốc của ngôn ngữ có tính ước lệ. F. de Saussure coi tính ước lệ như một trong các nguyên tắc cơ bản của ngôn ngữ. Theo St.Ullmann, không một ngôn ngữ nào “trong sáng” hoàn toàn hay ước lệ hoàn toàn. Trong bất kì ngôn ngữ nào ta cũng có thể tìm thấy các khía cạnh ước lệ, song song với căn cứ tự nhiên, luôn có mặt trong mọi mối tương quan khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố xã hội, văn hoá cũng như ngôn ngữ [Ullmann 1966:221].

Trong quá trình hình thành của các từ thuộc khối từ vựng chuyên ngành, mọi sự đều có căn cứ luận chứng, được xem xét đi xem xét lại, được tổ chức lại. Trong đó, bản thân việc đặt tên (cũng như việc ghi nhớ và nhận biết) đều phải dựa trên quá trình xem xét các hiện tượng tương tự và các mối liên tưởng. Vì rằng toàn bộ khối từ vựng chuyên ngành mang tính chất thứ cấp so với khối từ vựng phổ thông nên trong đó chiếm ưu thế là tính ước lệ có cơ sở trên một vài mối liên hệ tự nhiên giữa từ và các đối tượng được định danh hay nhờ vào các từ đó. Khi tạo lập bình diện thể hiện của thuật ngữ từ các từ của ngôn ngữ tự nhiên thì tính căn cứ của chúng có một ý nghĩa quan trọng. Một thuật ngữ có căn cứ thường dễ ghi nhớ hơn và dễ xác lập các mối liên hệ liên tưởng với các thuật ngữ khác và với các hiện tượng được định danh.

Tuy nhiên thường không tồn tại những thuật ngữ có căn cứ đầy đủ. Điều này được giải thích bằng tính thứ cấp của thuật ngữ so với từ vựng phổ thông và còn bởi một lẽ nữa là mỗi một khái niệm thường bao hàm nhiều đặc trưng khác nhau nhưng trong tên gọi của nó chỉ phản ánh một dấu hiệu, hơn nữa không phải lúc nào cũng là dấu hiệu chủ đạo.

Trong các ngôn ngữ khác nhau tính có lí do của từ cùng biểu thị một đối tượng có thể là khác nhau. Chẳng hạn từ tiếng Nga бельё có căn cứ từ màu sắc (белый - màu trắng), từ tiếng Anh linen - là nguyên liệu đầu vào (sợi lanh). Những mối liên tưởng vốn là căn cứ luận chứng ban đầu vẫn được bảo tồn sau đó, nhưng chúng có thể thay đổi và hoàn toàn biến mất trong hoạt động tham gia vào lời nói. Chẳng hạn cách biểu đạt của tiếng Nga цветное бельё (vải màu, quần áo màu), tiếng Anh, silk linen là minh chứng cho việc các căn nguyên ban đầu của những từ đó đã hoàn toàn biến mất.

Những căn nguyên xuất hiện những tên gọi đồng nghĩa trong một ngôn ngữ cũng rất khác nhau. “Từ không chỉ là đại diện cho bản thân sự vật, hiện tượng, (…) mà còn thể hiện quan điểm riêng của chúng ta đối với chúng. Đây là nguồn gốc chính gây ra sự đa dạng của những cách biểu hiện cùng một sự vật. Chẳng hạn, trong tiếng Sanscrit, con voi được gọi là “con vật uống hai lần, hay là loài có hai răng, hay là loài có tay đặc biệt - nhưng mỗi một cách gọi tên như thế rõ ràng là bao hàm một khái niệm riêng, đặc biệt, mặc dù tất cả những từ đó đều chỉ cùng một con vật” [Humboldt 1956, 85]. Điều đó không có nghĩa là quan điểm của những người đặt tên đó là sai lầm, chúng chỉ đặc trưng cho cách nhìn sự vật của họ. Dù sao những căn cứ đó đều là phiến diện và không đầy đủ bởi vì những khía cạnh khác nhau của sự vật được những người đặt tên coi là những dấu hiệu cơ bản nhất trong những điều kiện khác nhau. Và chính bởi vì mỗi một đối tượng đều có nhiều đặc tính khác nhau, trước đó người đặt tên lại không rõ cho nên những tên gọi khác nhau theo dòng lịch đại có thể được định hướng vào các khía cạnh khác nhau của đối tượng. Vì thế ngữ nghĩa của một từ bất kì lúc nào cũng rộng hơn lượng nghĩa mà mỗi một thành viên của cộng đồng nói thứ tiếng đó và sử dụng từ đó. Bản thân ngữ nghĩa của từ hàm chứa cả các thành phần cơ bản (phân biệt) và thành phần phụ trợ (tích hợp). Khi sự vật và từ biểu thị nó được phổ biến rộng rãi, có thể xảy ra sự đánh giá lại các đặc trưng của nó, kết quả là các thành phần cơ bản có thể lại được tiếp nhận như thành phần phụ, tích hợp, còn thành phần phụ trợ lại có thể trở thành thành phần cơ bản và phân biệt.

Có điều cần chú ý là nhiều những sự vật, đối tượng trong các phòng thí nghiệm được các nhà khoa học dùng từ đặt tên ban đầu cho chúng không phải là tên sự vật hay hiện tượng đó mà mới chỉ là những dấu hiệu riêng biệy của chúng. Vì thế trong khối từ định danh chuyên ngành hiện tượng từ đồng nghĩa phát triển rộng rãi vì rất khó tìm ra một tên gọi thích hợp ngay lập tức. Mỗi nhà nghiên cứu nhìn sự vật bằng con mắt của riêng mình và đôi khi chỉ quan sát thấy những điều anh ta thấy. Cách định danh vi mô như vậy thường diễn ra trong các phòng thí ngjiệm hay các nhốm cộng tác viên khoa học trước khi người ta tìm được một cách biểu thị chính xác hơn. Khi quan sát mmột hiện tượng mới, các nhà khoa học có thể đặt tên cho nó theo một dấu hiệu hay một đặc điểm nào đấy. Cách gọi đó sẽ là cách biểu thị sự vật trong môi trường công tác đó cho tới khi người ta thấu hiểu sự vật đó một cách có cơ sở khoa học mà kết quả sau đó là việc tạo ra một thuật ngữ phản ánh vị trí của sự vật đang được nghiên cứu đó trong hệ thống các khái niệm khoa học. Việc định danh (đặc biệt là lần đầu tiên) chưa phải là cách thể hiện của khái niệm. Việc sử dụng lần đầu tiên từ vừa mới được sáng tạo (tức là định danh vi mô) không đem lại cho ta một danh từ chung hay danh từ riêng nào. Vị thế của danh từ, vị trí của nó trong ngôn ngữ chỉ được xác định trong quá trình hoạt động của nó trong lời nói.

Quá trình tạo lập thuật ngữ và quá trình tạo lập danh từ riêng có nhiều điểm giống nhau. Để tạo lập thuật ngữ cần phải cung cấp tên gọi cho khái niệm, đối chiếu với các sự kiện khác của thực tế khách quan. Trong trường hợp tạo lập tên gọi cho một đối tượng duy nhất (tên riêng) thì những mối liên hệ với khái niệm của từ đó người đặt tên không quan tâm đến nhiều như tính vật thể, hình dáng bên ngoài của nó hay tính khác biệt của nó so với các vật tương tự. Trong cả hai trường hợp những cách biểu thị mang tính chuyên ngành không nhất thiết phải trùng hợp với những từ đã có của ngôn ngữ đó về mặt thể hiện vật chất, còn nếu như trùng hợp thì chúng phải khác biệt với những từ đã có về mặt ngữ nghĩa một cách rõ ràng.

Bất kì một thao tác định danh nào cũng là việc sản sinh ra một cấu trúc hai mặt gồm các thành tố đồng nhất hoá và dị biệt hoá. Trong quá trình định danh chắc chắn sẽ nảy sinh một vi hệ thống ngữ nghĩa. Đơn vị định danh mới được đánh dấu phân biệt với đơn vị cũ. Nhưng những đơn vị định danh mang tính thuật ngữ với tư cách là định danh thứ cấp lại được đánh dấu hai lần, một lần với hệ thống ngữ nghĩa vốn có của từ khởi nguyên và lần thứ hai với hệ thống thuật ngữ mà nó thuộc vào.

Thuật ngữ tạo lập theo cách đó bắt đầu cuộc sống tự lập của mình trong trường thuật ngữ của mình. Việc nghiên cứu quá trình ý nghĩa gắn chặt với vỏ cấu âm có thể xác định được những phương thức liên tưởng. Những phương thức này cho phép gắn kết đối tượng này với một đối tượng khác trong nhận thức của chúng ta. Kết quả là những quan niệm ấy trở thành các nghĩa được đưa vào nội dung ý nghĩa của một từ mới. Việc tạo lập nghĩa mới có thể diễn ra theo những cách sau:

- Hạn định ý nghĩa của từ, ví dụ trong tiếng Việt từ nước trong tiếng Việt. Từ nước từ chỗ chỉ chất lỏng nói chung, rồi chất lỏng có thể uống đuợc và cuối cùng chỉ là hợp chất do sự kết hợp hoá học giữa hyđrô và ôxy;

- Mở rộng ý nghĩa của từ, ví dụ, lưu lượnglượng chất lỏng, chất khí, điện,... đi qua một nơi trong một đơn vị thời gian” và lưu lượngsố lượng người, vật đi qua hay vận chuyển qua một nơi trong một khoảng thời gian nhất định, có nghĩa là dung lượng khái niệm của từ được mở rộng tăng cường nội hàm của nó;

- Đưa vào ý nghĩa của một từ những thành tố ý nghĩa của từ khác:cầu với tư cách là thuật ngữ ngành xây dựng có nghĩa “công trình xây dựng, nối hai bờ con sông, hai mép của một vực sâu”. Còn trong nha khoa từ cầu lại có nghĩa là dụng cụ liên kết những chiếc răng có trong miệng, lấp đầy những khoảng không có răng;

- Cộng ý nghĩa của hai từ: điều nghiên có nghĩ là điều tra và nghiên cứu.

Khi đặt tên chúng ta luôn phải chuyển nghĩa theo các cách liên tưởng đủ loại (ẩn dụ, hoán dụ) tức là theo quy luật tư duy tổng hợp chứ không phải tư duy lôgic. Ở đây chức năng mà từ phải đảm nhiệm không phải là chức năng ngữ nghĩa, mà là chức năng gọi tên có kèm thêm các sắc thái biểu cảm và gây cảm xúc trong việc sử dụng từ ngữ. Chó con, mèo con - một em bé bụ bẫm, đáng yêu (trong câu: Con chó con của mẹ / Con mèo con của mẹ). Ở đây không thấy một mối liên hệ thực tế cụ thể nào. Từ đó ta thấy vấn đề tên gọi có nhiều nét chung với vấn đề sắc thái biểu cảm và việc chuyển đổi nó thành biểu hiện cảm xúc.

Ju. D. Apresijan [1969:23] nhấn mạnh rằng những liên tưởng ngữ nghĩa tạo thành một khía cạnh quan trọng của từ ngữ cụ thể. Những mối liên tưởng phần lớn được quy định bởi tâm lí của con người đang tư duy, phân tích các hiện tượng bao quanh anh ta và có trong đầu các hình ảnh hiện thực quan sát thấy. Quá trình tư duy của những người thuộc các quốc gia khác nhau lại giống nhau y hệt cho nên các hình ảnh biểu tượng tương tự sẽ được đưa vào để định danh cho các hiện tượng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của khối từ vựng chuyên ngành.

Một trong các đối tượng đầu tiên và vạn năng mà con người thường sử dụng để so sánh với những vật họ đang tiếp xúc tìm hiểu chính là cơ thể của họ. Cơ thể người đã cung cấp cho các dân tộc khác nhau các đơn vị đo vạn năng để đo chiều dài như bước chân, sải tay, đầu người… Các bộ phận cơ thể của người và vật, quần áo của con người và các đồ vật gia dụng trong nhiều ngôn ngữ và nhiều lĩnh vực tri thức được sử dụng như là nguồn vạn năng để hình thành các đơn vị so sánh. Ta có thể nhận thấy chúng trong đia lí học, trong kĩ thuật. Xem bảng sau:

Liên tưởng trong tư duy ngôn ngữ đôi khi đi rất xa. Vì vậy việc tìm hiểu chúng là cần thiết khi nghiên cứu bất kì từ định danh nào, đặc biệt là từ chuyên ngành. Nhờ có liên tưởng mới có các quy luật ngôn ngữ như đa nghĩa (thay đổi đồ vật định danh trong cùng một từ), hoán dụ, ẩn dụ và các hiện tượng chuyển nghĩa văn học - tu từ đa dạng khác nhau vốn “không phải là việc gọi tên trực tiếp sự vật, mà chỉ là tên lóng hay cách gọi hình tượng khi ở đó tồn tại hay bình diện: tên gọi trực tiếp và tên gọi lóng mang tính hình tượng, điều đó có thể đưa đến việc kết hợp hai bình diện và tạo ra “một trò chơi” mang tính hình tượng giữa sự trùng hợp và không trùng hợp của tên gọi trực tiếp hay cách gọi bóng bẩy” [Reformatskij 1967:79]. Có thể tách ra việc chuyển nghĩa chức năng mà về bản chất gần với phép ẩn dụ vì cả hai đều thực hiện trên cơ sở sự giống nhau, nhưng “quá trình chuyển nghĩa ẩn dụ có cơ sở dựa vào sự giống nhau về các đặc điểm vật chất (màu sắc, hình dáng, chuyển động “quan sát được”). Trong trường hợp chuyển nghĩa chức năng, các sự vật có thể hoàn toàn khác nhau. Hợp nhất chúng chỉ là nét chung về mặt chức năng [Reformatskij 1967:79]. Thí dụ điển hình của việc chuyển nghĩa chức năng là lông chim - перо птицыngòi bút sắt - стальное перо (trước kia người ta viết bằng ngòi bút làm bằng lông ngỗng; đồ vật mới - ngòi bút sắt - giữ nguyên tên gọi trước vì nó thực hiện cùng một chức năng “viết”) trong tiếng Nga.

Thuật ngữ về mặt nguyên tắc nằm ngoài bình diện xúc cảm. Vì thế tính hình tượng chỉ có thể được sử dụng trong việc định danh thuật ngữ đối với thuật ngữ có căn nguyên đặc biệt để thể hiện mối quan hệ của nó đối với các thuật ngữ khác cũng như thể hiện các sự vật được định danh với nhau. Do đó, điều mà trong các hoàn cảnh bình thường được dùng để tạo lập các thủ pháp tu từ thì trong quá trình định danh chuyên ngành được sử dụng để tạo lập thuật ngữ. Trong các lĩnh vực riêng biệt người ta tách ra những mối liên tưởng riêng của chúng có sức thu hút hơn cả để tạo lập thuật ngữ. Những căn nguyên ở bậc thấp nhất nhưng dễ thấy nhất của các thuật ngữ được biểu hiện nhờ các hình tượng mà ẩn dụ xuất hiện trên cơ sở đó. Nhờ tính trực quan của mình, ẩn dụ có thể hiểu và lí giải nhiều hình tượng lúc ban đầu chưa thấy rõ bằng cách gợi những mối liên tưởng về hình dáng, màu sắc, khuôn mẫu, kích thước v.v. thường xuất hiện trước khi có những sự nghiên cứu sâu sắc những hiện tượng của thế giới xung quanh.

Ẩn dụ giúp ta chuyển nghĩa theo sự giống nhau mà kết quả là hai đối tượng, sự vật hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc và công dụng lại trở nên gần gũi nhau trên cơ sở một nét đặc tính nào đó thường biểu hiện ở vẻ ngoài đối với cả hai. Ví dụ từ tiếng Anh “crane - cần cẩu nâng hạ” có được tên gọi theo cách ẩn dụ nhờ vào tên một loại chim: tiếng Anh -crane chim sếu” (so sánh - tiếng Nga журавль - “chim sếu” và “cần gàu giếng”). Sự giống nhau của hai sự vật khác nhau về mặt trực quan là hoàn toàn ở vẻ bề ngoài: cần cẩu của cần trục gợi ta nhớ đến chiếc cổ dài của con chim sếu.

Hệ thống thuật ngữ kĩ thuật của tiếng Anh và danh sách phương tiện kĩ thuật đặc biệt là nhiều ẩn dụ. Nét hình tượng đặc biệt rõ của thuật ngữ kĩ thuật tiếng Anh so với tiếng Nga chẳng hạn được giải thích bằng nét đặc thù của ngôn ngữ Anh với các từ cực ngắn dễ dàng được gắn kết thành các tập hợp từ đặc biệt là các từ ghép hai thành phần.

Khi so sánh các thuật ngữ kĩ thuật của tiếng Anh và tiếng Nga ta thấy rằng những thuật ngữ tiếng Anh mang tính hình tượng nhiều hơn, còn những thuật ngữ tiếng Nga chặt chẽ và chính xác hơn về mặt kĩ thuật:

Mặc dù ẩn dụ là căn nguyên tạo thuật ngữ, nhưng nó lại có tác dụng lớn hơn khi dùng để giải thích rõ ràng những thuật ngữ mà ta chưa hiểu, chưa thấy cũng như để truyền đạt những nét cơ bản của các hiện tượng được định danh cùng với các đặc tính chủ chốt của nó. Khi tạo lập thuật ngữ người ta còn sử dụng các chuyển nghĩa hoán dụ thường được thực hiện không dựa vào sự giống nhau của các đặc điểm bên trong hay bên ngoài giữa sự vật cũ và mới, mà dựa trên cơ sở những nét tiếp cận đan xen, tiếp giáp của chúng trong không gian hay thời gian. Khi đó thay đổi không chỉ là sự vật mà cả khái niệm nữa [Reformatskij 1967:80- 83]. Trong việc định danh thuật ngữ chuyên ngành có cả một lớp các tên gọi ngay lập tức chương trình hoá cho cả hai sự vật cần định danh: tên phòng làm việc và tên cơ quan (phòng công chứng, hiệu ảnh, nhà văn hoá, cửa hàng kính thuốc); quá trình và kết quả (khuôn đúc, bản in); phòng làm việc và con người (phòng hành chính, phòng bảo vệ) v.v. Trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành tập hợp các lớp từ như vậy có thể mang đặc tính riêng của mình.

Như vậy trong số tất cả các kiểu chuyển nghĩa thường gặp trong phạm vi thụât ngữ học thì phép chuyển nghĩa ẩn dụ được sử dụng rộng rãi hơn cả nhưng. Tuy nhiên, ở đây nó thực hiện chức năng không phải là tu từ - nghệ thuật mà là chức năng định danh.

Khi tham gia vào việc định danh ban đầu ẩn dụ vẫn bảo lưu nét hình tượng nào đó và trong các ý nghĩa thuật ngữ tiếp theo của các tập hợp từ. Điều này tạo ra tính đặc ngữ của tập hợp nói chung và ý nghĩa tổng thể chiếm ưu thế đối với các ý nghĩa của các thành phần riêng biệt của nó.

Khi các hình tượng được lấy làm cơ sở cho việc định danh trở nên nhạt nhoà và mất đi thì thuật ngữ trở thành vô căn, nhưng lại chịu tác động của căn nguyên hậu nguyên được gọi là căn nguyên liên tưởng hay từ nguyên dân gian [xem Ullmann 1951, 91]. Khi tiếp nhận một từ lạ, con người thường tìm ở đó mối liên tưởng với một điều gì quen thuộc. Việc phân tách một từ lạ ra thành các phần quen thuộc là một biện pháp quan trọng để ghi nhớ thuật ngữ. Ngôn ngữ bao giờ cũng tụt hậu trong việc ghi nhận những khái niệm mới so với quá trình kiến tạo chúng. Vì thế việc định danh ban đầu luôn đi trước việc định danh cơ bản, định danh triệt để. Việc định danh ban đầu còn được gọi là “vi định danh” bao giờ cũng tạo tiền đề vật chất cho việc suy ngẫm và lựa chọn những tên gọi thích hợp hơn trong số những tên gọi được đưa ra để lựa chọn. Như vậy, trong quá trình phát triển của khối ngôn ngữ chuyên ngành xuất hiện hiện tượng tương phản nghịch lí: bất chấp yêu cầu đòi hỏi thuật ngữ phải có tính chính xác và đơn nghĩa, người ta lại thấy số lượng lớn của các thuật ngữ đồng nghĩa cạnh tranh với nhau và chờ được lựa chọn rồi sắp xếp lại. Ví dụ, để biểu thị thuật ngữ computer trong tiếng Anh người ta đã đưa ra nhiều thuật ngữ tiếng Việt đồng nghĩa như: máy tính điện tử, máy điện toán, máy vi tinh, máy tính. Trải qua quá trình sử dụng, cuối cùng người ta đã lựa chon thuật ngữ máy tính để biểu thị khái niệm tương đương trong tiếng Anh.

Một thuật ngữ - từ chân chính được tạo thành sau nhiều lần mã hoá và tái mã hoá các thành tố cấu tạo nên nó. A. A. Reformatskij [1963:208] nhận xét rằng, “không có sự mã hoá ta không thể hình dung và hiểu được quá trình lập mô hình của các hệ thống giao tiếp và của bản thân cơ chế tư duy”. Trong tư duy khoa học việc mã hoá được thực hiện nhiều lần, hơn nữa trong mỗi một lí thuyết mới những từ mã hoá đã biết trước đó có thể thay đổi mà vẫn giữ nguyên các thuật ngữ - từ trước đấy để cấu tạo các thuật ngữ - khái niệm mới.

4. Từ loại định danh

Từ là đơn vị cơ bản mà việc định danh dựa vào (nghĩa là việc ghi nhận, chốt lại những hiện tượng đã được lựa chọn của thực tế khách quan nhờ cách đặt tên bằng ngôn ngữ) trong nhận thức chung của chúng ta. Các từ loại danh từ, tính từ, động từ đều có thể định danh. Với các từ thuộc từ loại đó thì nội dung mới thường xuyên được hình thành và những tên gọi mới được tạo lập. Danh từ có thể chuyển đổi nội dung của các từ thuộc các từ loai định danh khác và nó có đầy đủ những phương tiện hình thái thích hợp để làm việc đó. Giá trị định danh tuyệt đối là thuộc tính của danh từ, thuộc tính này ở các từ loại định danh khác thì yếu hơn chút ít.

Những cấu trúc khác nhau tất nhiên cũng có thể có được chức năng định danh khi sử dụng thứ cấp. Tuy nhiên, đối với chúng điều dễ thấy là chúng hoạt động như danh từ. Nếu như ta cho tập hợp từ một giá trị định danh tuyệt đối thì nó phải có khả năng thoát ra, vượt ra khỏi các quan hệ cú pháp của câu. Có được khả năng này chỉ là những tổ hợp từ tương đương với danh từ.

Trong hệ thống thuật ngữ tình hình cũng tương tự như vậy. V. P. Danilenko [1977:49] nhận xét rằng, người ta thường theo truyền thống cho rằng chỉ có danh từ hay tập hợp từ trên cơ sở danh từ mới có thể trở thành thuật ngữ. Tuy nhiên gần đây xuất hiện một quan điểm khác cho rằng cả động từ, trạng từ, tính từ cũng có thể trở thành thuật ngữ. Reformatskij chỉ rõ, dạng rõ ràng nhất của thuật ngữ được thể hiện bằng các danh từ. Vì thế người ta thường ưu tiên lựa chọn danh từ để đưa vào từ điển thuật ngữ. Các loại từ loại khác chỉ có thể đưa vào từ điển trong trường hợp nếu chúng có thể thay thế được dạng đồng nghĩa thông qua danh từ. Trong những ngôn ngữ như tiếng Nga, mỗi một thuật ngữ động từ sẽ có một đơn vị tương đương là danh từ. Khả năng mang tính nguyên tắc của các thuật ngữ - từ loại khác danh từ (động từ, tính từ) không làm giảm vai trò chủ đạo của danh từ với tính chất định danh rõ rệt của chúng. [A. A. Reformatskij 1986]

G. O. Vinokur viết: “Các từ định danh hành động và quá trình tạo thành một nhóm rất lớn trong thành phần khối thuật ngữ kĩ thuật (…). Trong khối thụât ngữ kĩ thuật chúng ta tiếp xúc chủ yếu với việc định danh hành động chứ không phải bản thân hành động trong cách thể hiện sinh động, cụ thể của chúng. Kĩ thuật, là một dạng thức xác định cấu thành quá trình lao động, tức là trước hết phải tư duy thấu hiểu quá trình đó. Đối với kĩ thuật, những hành động thực hiện trong quá trình lao động sản xuất, xuất phát từ các sự kiện đơn giản diễn ra trước mắt chúng ta và trực tiếp được chúng ta trải nghiệm, sẽ trở thành các khái niệm mà sau này quá trình tư duy lí thuyết sẽ phân tích mổ xẻ chúng. Ngưới ta có thể thực nghiệm chúng một cách logic, có thể gắn cho chúng các thuộc tính khác nhau, các đặc điểm như thuộc ngữ, vị ngữ với tư cách là cách chủ thể lôgic. Từ đó suy ra, “tính chất động từ” như một phạm trù ngữ pháp của hành động trong hệ thống thuật ngữ kĩ thuật nổi lên không phải trong dạng động từ mà những động từ này không thể là phương tiện biểu hiện chủ thể logic, mà xuất hiện dưới hình thức là các danh từ trừu tượng nhưng bảo lưu ý nghĩa hành động, gắn nó với ý nghĩa sự vật trừu tượng… (закалка, обжиг, травление,)…

Động từ được dùng trong ngôn ngữ kĩ thuật chắc cũng không ít hơn trong ngôn ngữ nói chung, nhưng ngôn ngữ văn bản kĩ thuật là một chuyện, còn thuật ngữ kĩ thuật lại là một chuyện khác. Đó là những khái niệm không trùng nhau. Trong chừng mực từ đã thể hiện khái niệm kĩ thuật nào đáy thì sẽ thực hiện chức năng định danh thuật ngữ, và chúng nhất thiết sẽ có dạng danh từ trừu tượng”. [1939:13]

Reformatskij nói về sự chuyển đổi vị trí của các từ loại trong thuật ngữ và coi đó như một phương thức độc đáo để thuật ngữ hoá. Ông chỉ ra các động từ được dùng như danh từ: касательная, кривая, образующаяvà các trạng từ giống như các danh từ: allegro, andante, плюс, минус, минимум.

Hệ quả của việc đó là các thuật ngữ chỉ các đối tượng được tiếp nhận như một sự vật (thậm chí cả một khái niệm do thuật ngữ thể hiện cũng được tiếp nhận như là một sự vật trừu tượng đặc biệt) vốn là một khuynh hướng đặc biệt nhằm danh từ hoá của thuật ngữ. Điều này làm cho thuật ngữ gần với danh từ riêng mà nội dung định danh của chúng luôn mang tính sự vật rõ ràng.

5. Thuật ngữ - miêu tả và thuật ngữ - định danh

A. V. Isachenko [1962] viết về thuật ngữ định danh và thuật ngữ miêu tả đã coi thuật ngữ định danh là các thuật ngữ vô căn và thường là có dạng một từ đơn, còn thuật ngữ miêu tả là thuật ngữ - cụm từ và đó là những thuật ngữ có căn nguyên. Khi coi các thuật ngữ gồm nhiều từ là các định nghĩa thu gọn, Isachenko cho rằng chúng ta cần phải tuỳ theo khả năng mà tránh sử dụng chúng.

Các thuật ngữ - cụm từ, trên thực tế, đã tồn tại và được sử dụng trong cuộc sống, một mặt do khả năng để biểu thị nó bằng các từ hầu như đã không còn, mặt khác là do xu hướng cần chính xác hoá hơn. Đặc biệt rất nhiều thuật ngữ - cụm từ miêu tả được sử dụng trong kĩ thuật hay công nghệ sản xuất. Ở đó thường thấy một khái niệm mới được biểu thị bằng các ngữ liệu đã biết và thêm vào một tính ngữ bổ trợ nào đó: nền kinh tế thâm hụt, nền kinh tế khép kín, nền kinh tế tập thể, nền kinh tế hành chính - mệnh lệnh, nền kinh tế lạc hậu..

Vì lí do trên chúng tôi cho rằng việc lảng tránh các thuật ngữ - cụm từ hay làm cách nào đó để giảm bớt số lượng của chúng là hoàn toàn không hợp lí. Nếu như một thuật ngữ đã được tạo lập và đưa vào sử dụng theo chức năng, thì thay thế nó cũng có nghĩa là “gọi tên lại” những gì mà chúng đã được biểu thị. Và điều đó ai cũng biết không cải thiện chút nào cho thao tác tư duy khoa học và kĩ thuật.

Mỗi một ngôn ngữ tạo ra các tập hợp từ cá biệt, phần lớn được xác định bởi đặc tính của bản thân ngôn ngữ đó. Điều này đặc biệt dễ thấy khi so sánh các tập hợp từ thuật ngữ của tiếng Anh và tiếng Nga mà sự tương ứng song song của chúng, mặc dù có sự thống nhất về bình diện nội dung, nhưng không phải trong trường hợp nào ta cũng có thể thấy. Đối với cả hai ngôn ngữ đó đều có tính chất đặc trưng, một mặt, như là các tập hợp từ định danh gồm hai thành phần bao gồm một thành phần được xác định (thường là danh từ) và thành phần xác định (tính từ, một danh từ khác hay một vài từ loại khác), cũng như các tập hợp từ nhiều thành phần (từ 3-7 thành phần) mà độ dài của chúng được điều chỉnh bằng dung lượng khối trí nhớ tạm thời của con người. Việc phân định các tập hợp từ hai thành phần hay nhiều thành phần có cơ sở dựa trên những quy luật khách quan của trí nhớ con người cũng như cấu trúc của ngôn ngữ. Những giới hạn phức tạp hoá một tập hợp từ thuật ngữ được trình bày theo sơ đồ do K. P. Urazbaev đề xuất:

1 the system
2 the control system
3 the attitude control system
4 the shipattitude control system
5 the ejection shipattitude control system
6 the gas ejection shipattitude control system
7 the nozzle gas ejection shipattitude control system

1. система: hệ thống
2. система управления: hệ thống điều khiển
3. система управления положением: hệ thống điều khiển định vị
4. система управления положением корабля: hệ thống điều khiển định vị tàu vũ trụ
5. система управлением корабля посредствои выброса: hệ thống điều khiển tàu vũ trụ bằng chất thải
6. система управления положением корабля посредством выброса газа: hệ thống điều khiển định vị tàu vũ trụ bằng khí thải
7. система управления положением корабля посредством выброса газа из сопла: hệ thống điều khiển định vị tàu vũ trụ bằng khí thải từ vòi phun

Các cụm từ gồm hai thành phần thường có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần của mình. Trong các cụm từ gồm hai thành phần, thành phần bị xác định trong nhiều trường hợp thường là tên gọi giống hay dạng thức có chức năng phân biệt bổ trợ thông qua việc bổ sung thêm thành phần xác định.

Công trình phân tích do K. B. Urazbaev [1985] thực hiện trên dữ liệu của ngành khoa học vũ trụ Anh cho ta thấy hơn 58% tổng số các cụm từ trong lĩnh vực này là loại hai thành phần, loại ba thành phần chiếm hơn 21%, loại bốn thành phần là 13%, số lượng loại năm và sáu thành phần là khoảng 4%.

Mối liên hệ giữa các thành phần bên trong một thuật ngữ - cụm từ được thực hiện nhờ các phương tiện cú pháp của mỗi ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong tiếng Nga có thể thấy dạng tổ hợp từ có thứ tự thuận hay ngược (đảo pha) (отбойный молоток - молоток отбойный), còn trong tiếng Anh phần lớn là tập hợp từ thuận.

space cabin кабина летательного аппаратаmanned space cabin пилотируемая кабина летательного аппарата
rotating maned space cabin врашющая пилотируемая кабина аппрата.

Trong tiếng Việt, giữa các thành phần bên trong một thuật ngữ - cụm từ thường có mối liên hệ phụ thuộc: chính sách tiền tệ, khối lượng tiền tệ, cải cách tiền tệ...

Việc chính xác hoá (đặc biệt đối với các tổ hợp từ định danh hai thành phần) được thực hiện theo một vài tuyến điển hình:

1. hình thái: пружина винтовая, пружина спиральная, пружина листовая, пружина тарельчатая
2. công dụng:  thuốc ngủ, vít dẫn
3. cách thức hoạt động chức năng: dao laze, khoan điện
4. tên nhà sáng chế hay nhà chế tạo: xe Honda, nguyên tố Bo

Những từ đánh dấu đặc biệt là các thuật ngữ được người ta tạo lập một cách nhân tạo từ các thành tố thuật ngữ gốc Hi Lạp - Latin.

Như vậy việc định danh thuật ngữ và hình thành các hệ thống thuật ngữ là một hiện tượng thứ cấp và xuất hiện muộn hơn so với việc hình thành khối lượng từ vựng của các ngôn ngữ riêng biệt và với vịêc định danh ban đầu các sự vật và hiện tượng xung quanh chúng ta. Cách phân khúc cấu tạo thuật ngữ phụ thuộc vào thời gian hình thành các hệ thống thụât ngữ. Trong cấu tạo thuật ngữ không có chỗ cho chủ nghĩa thuần tuý ngôn ngữ cũng như sự tăng cường vay mượn quá mức. Thuật ngữ trước hết là một thành tố của một lĩnh vực khoa học nhất định. Bình diện nội dung ngôn ngữ của nó là một thực tế khách quan nằm ngoài ngôn ngữ, được hình thành một cách nhân tạo trong hệ thống khoa học đó, còn bình diện thể hiện là các thành tố ngôn ngữ mẹ đẻ hay nước ngoài và là các thành tố thuật ngữ do con người lựa chọn. Bất kì thuật ngữ nào không phải là tài sản của toàn dân, mà là một bộ phận cấu thành của hệ thống khái niệm mà chỉ một nhóm hạn chế các chuyên gia sử dụng. Ngữ nghĩa của thuật ngữ không thuộc ngôn ngữ. Nó hình thành trong lĩnh vực tri thức chuyên ngành.

Có thể có sự phát triển các ý nghĩa thuật ngữ từ các từ thuộc ngôn ngữ dân tộc nếu ý nghĩa đó được giới hạn, ngăn cách với việc sử dụng phổ thông, tức là bằng cách đặt ra giới hạn thụât ngữ cho ý nghĩa phổ cập của một đơn vị thuộc bình diện biểu hiện. Chẳng hạn, trong tiếng Việt từ tiếng có các nghĩa “1) cái mà tai thể nghe được; 2) âm tiết trong tiếng Việt, về mặt là đơn vị thường có nghĩa, dùng trong chuỗi lời nói; 3) ngôn ngữ; 4) giọng nói riêng của một người hay cách phát âm riêng của một vùng nào đó; 5) lời nói của một cá nhân nào đó; 6) lời bàn tán, khen chê trong xã hội” (Từ điển tiếng Việt, tr.1.223-1.224).Trong các nghĩa nêu trên, nghĩa 2 và 3 là các nghĩa thuật ngữ.

Trong bất kì cách định danh nào người ta giành vai trò quan trọng so việc tìm hiểu căn cứ. Thường các thụât ngữ có căn cứ là các thuật ngữ được tạo lập từ ngữ liệu ngôn ngữ mẹ đẻ và các thuật ngữ được cấu tạo từ các thành tố thuật ngữ quốc tế. Nhưng chúng thể hiện căn nguyên theo các cách khác nhau. Trong trường hơp đầu thường thấy là phương pháp ẩn dụ hay hoán dụ. Trong trường hợp thứ hai thuật ngữ có căn cứ dựa vào một tập hợp các thành tố thuật ngữ phù hợp. Các thành tố gốc Hi Lạp và Latin thường sử dụng trong tư cách là các thành tố mang tính quốc tế đối với khu vực châu Âu hơn cả. Đặc biệt khi chúng còn là các từ của ngôn ngữ dân tộc của mình, chúng có thể được lựa chọn để biểu thị các khái niệm chuyên ngành trên cơ sở các kiểu ẩn dụ khác nhau. Nhưng khi đó chúng chưa phải là các thành tố thuật ngữ. Còn hiện nay khi đã gia nhập vào hàng ngữ các thành tố thuật ngữ, trong một chừng mực đáng kể chúng đã tách rời khỏi các mối quan hệ ngữ nghĩa ban đầu và nằm ngoài phạm vi cách ẩn dụ ban đầu.

Tính định danh cao nhất và khả năng lớn nhất tham gia vào việc định danh thuật ngữ là các danh từ. Thuật ngữ còn có thể là tính từ, động từ, trạng từ, nhưng khả năng định danh của chúng thấp hơn nhiều. Cần phải phân biệt động từ, tính từ, trạng từ, trong khuôn khổ các văn bản chuyên ngành và các hình thái mà ở đó thuật ngữ có thể được đưa vào từ điển. Thông thường, bất cứ phần “mang tính thuật ngữ” nào của lời nói đều có thể chuyển sang danh từ là từ loại có tính định danh cao nhất.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tiếng Việt

[1] Hoàng Xuân Hãn (1951), Danh từ khoa học, NXB Minh Tân, Paris.

[2] Lê Khả Kế (1975), Về một vài vấn đề trong việc xây dựng thuật ngữ khoa học ở nước ta, Ngôn ngữ, s. 3.

[3] Lê Khả Kế (1979), Về vấn đề thống nhất và chuẩn hoá thuật ngữ khoa học tiếng Việt, Ngôn ngữ, s. 3+4.

[4] Nguyễn Văn Khang (2000), Chuẩn hoá thuật ngữ nhìn lại từ góc độ bối cảnh xã hội, Ngôn ngữ, s. 1.

[5] Lưu Vân Lăng (1977), Thống nhất quan niệm về chuẩn hoá của thuật ngữ khoa học, Ngôn ngữ, s. 1.

[6] Lotte D.S (1961), Nguyên lí xây dựng thuật ngữ khoa học kĩ thuật (tài liệu dịch), Viện Ngôn ngữ học, 1975.

[7] Hà Quang Năng (chủ biên) (2009), Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỉ XX, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[8] Hà Quang Năng (chủ biên) (2012), Thuật ngữ học: Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội.

[9] Những vấn đề thời sự của chuẩn hoá tiếng Việt, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Ngôn ngữ học chủ trì thực hiện (Chủ nhiệm đề tài: Vũ Kim Bảng, Nguyễn Đức Tồn), nghiệm thu năm 2011.

II. Tiếng nước ngoài

[10] Апресян Ю. Д., Толкование лексических значений как проблема теоретической семантики, Изв АН СССР, М. 1969, вып. 1.

[11] Апресян Ю. Д., Лексическая семантида: Синонимичекие средства языка, М. 1974.

[12] Винокур Г. О., О некоторых явлениях словообразования в русской технической термиологии, Труды МИФЛИ, Сборник статей по яыкознанию, М. 1961.

[13] Гумбольдт В.,О различии строения человеческих яыков и его влиянии на духовное развитие человеческого рода, Хрестоматия по истории яыкознания в XIX - XX вв., М., 1956.

[14] Даниленко В. П., Русская терминология Опыт лингвисткеского описания, М., 1977.

[15] Ельмслев Л.,Пролегомены к теории яыка, Новое в лингвистике, М., 1979.

[16] Исаченко А. В.,Термин - описание или термин - название, М., 1962.

[17] Канделаки Т. Л.,Связь между содержением понятий и морфемной структурой технических терминов, Филологические науки, М., 1964, No 1.

[18] Канделаки Т. Л.,Семантика и мотивированность терминов, М. 1977.

[19] Канделаки Т. Л.,О терминологическом суффикисоидно - корневом словаре. Системной анализ научной текста, Владивосток, 1984.

[20] Новое в зарубежной лингвистике,М., 1982, вып. XI.

[21] Общее яыкознание. Внутренняя структура яыка,М., 1972.

[22] Реформатский А. А., Что такое теории в терминология, М., 1959.

[23] Реформатский А. А.,Вопросы терминологии, М., 1961.

[24] Реформатский А. А., Термин как член лексической системы яыка // Проблемы структурной лингвистики, М., 1968.

[25] Реформатский А. А.,Мысли о терминологии // Современные проблемы русской терминологии, М., 1986.

[26] Смирницкий А. И.,Значение слова, ВЯ, 1955, No 2.

[27] Суперанская А. В.,Общая терминология. Вопросы теории, М., 2007.

[28] Уразбаев К.В.,Терминологическое словосочетание как единица номинации, М., 1985.

[29] Fillmore Ch. J. , Type of lexical informatoin, Ohio Stte University, 1968.

[30] Ullmann S.,The principies of semantics, Glasgow, 1961.

[3] Teresa M.,Terminology: theory, methods and applications, John Benjamins publishing company, Amsterdam / Philadelphia, 1992.

[32] Rita Temmerman,Towards new ways of terminology Description, John Benjamins Publishing Company, Amsterdam / Philadelphia, 1984.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 4 (24), 7-2013.

 

 

Bài đăng trước:

  • Cái mới nhìn từ góc độ ngôn ngữ: Câu ngắn, câu dài, câu không động từ
  • Từ điển học và Bách khoa thư học (phạm vi, đối tượngquan hệ)
  • Từ chính tả tiếng Việt đến văn bản quy phạm pháp luật về ngôn ngữ và chữ viết
  • Tìm hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt trong các từ: ÂN CẦN, BỐ THÍ, ĐÔ HỘ...
  • Nhận diện hành động GIỤC, NGĂN , DẶN trong tiếng Việt