Ngôn ngữ học

Từ điển học và Bách khoa thư học (phạm vi, đối tượngquan hệ)
     

GS. TS. NGUYỄN VĂN LỢI

ABSTRACT
Basing on an analysis of basic concepts of the Lexicography (reference works, Linguistic Information, Word Information, Encyclopedic Information, Dictionary, Encyclopedia, Encyclopedic Dictionary), this article denoted the scope, object and relationship of the Lexicography and Encyclopedology.

TÓM TẮT
Dựa trên sự phân tích các khái niệm cơ bản của từ điển học (Công trình tra cứu, Thông tin ngôn ngữ, Thông tin từ vựng, Thông tin bách khoa, Từ điển, Bách khoa thư, Từ điển bách khoa), bài báo làm sáng tỏ đối tượng, cơ cấu và mối quan hệ giữa Từ điển học và Bách khoa thư học.

Các khái niệm từ điển, bách khoa thư, từ điển học đã có từ lâu, nhưng cho đến nay, giữa các nhà nghiên cứu về từ điển chưa có một quan niệm thống nhất. Câu hỏi “Từ điển là gì?” và “Từ điển học là gì?” gần đây lại được thảo luận trên các tạp chí quốc tế về từ điển học. [2: 20-30; 3: 31-42]. Ở nước ta, trong mấy thập kỉ gần đây, do nhu cầu biên soạn và nghiên cứu lí luận về từ điển và công trình bách khoa..., những vấn đề về cơ sở lí luận và phương pháp của từ điển học và bách khoa thư học... đã và đang được thảo luận sôi nổi. [4, 5, 8, 10, 12, 16, 17, 18, 19, 20, 24, 25, 26, 27, 28]

Trong bài này, chúng tôi xin được trở lại một trong những vấn đề vốn chưa có sự đồng thuận giữa các tác giả, đó là vấn đề về phạm vi, đối tượng, cấu trúc nội tại và mối quan hệ của từ điển học và bách khoa thư học. Trước khi đi vào nội dung chính, chúng tôi dừng lại làm rõ một số khái niệm liên quan.

1. Một số khái niệm liên quan

1.1. Công trình tra cứu

Công trình tra cứu là các sản phẩm chẳng hạn như sách, phần mềm máy tính, đĩa CD ROM... cho phép người ta lưu chứa và tìm thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Công trình tra cứu khác với những công trình cung cấp thông tin loại khác, chẳng hạn như sách giáo khoa, bởi cách sử dụng đặc trưng của công trình tra cứu. Công trình tra cứu là phương tiện tư vấn, trên cơ sở các tri thức quan yếu, chứ không phải là sự trình bày một cách đầy đủ, chi tiết các tri thức. Trong công trình tra cứu, các thông tin được “dồn nén” thành từng khối tách bạch nhau; đồng thời, các khối thông tin được sắp xếp sao cho người sử dụng có thể tra cứu, tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng, chẳng hạn, sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái quen thuộc.

Từ điển là một dạng điển hình của công trình tra cứu, cung cấp các thông tin về ngôn ngữ hay thông tin bách khoa, nhờ hệ thống truy xuất phổ biến.

Trong các tài liệu trước đây, từ điển, bách khoa thư thường được định nghĩa là sách công cụ... Tuy nhiên, hiện nay, từ điển, bách khoa thư không chỉ “định dạng” là sách in, mà còn có thể là chương trình, phần mềm máy tính, đĩa CD, DVD, trực tuyến. Do vậy, công trình tra cứu là thuật ngữ chung chỉ các loại tài liệu tra cứu (các loại từ điển, bách khoa thư...) có định dạng khác nhau.

Ngoài ra, một số tác giả định nghĩa từ điển, công trình bách khoa thư là sách công cụ hoặc sách tham khảo. Tác giả Hà Học Trạc cho rằng từ điển bách khoa và bách khoa toàn thư, “tuy đều là sách công cụ, nhưng chức năng có phần giống nhau và có phần khác nhau”. [10: 97]. Bàn về “xuất xứ của các khái niệm bách khoa toàn thư, từ điển bách khoa” Nguyễn Trung Thuần khi thì coi “bách khoa thư vốn chỉ một loại sách công cụ” [22: 95], khi gọi từ điển bách khoa, bách khoa thư là “các bộ sách tham khảo” [22: 97]. Gần đây, trên tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, công trình Bách khoa toàn thư Việt Nam dự kiến biên soạn trong kế hoạch 15-20 năm tới được giới thiệu là “sách công cụ quan trọng. Trong thực tế, sách công cụ, sách tham khảo và sách tra cứu có chức năng, nhiệm vụ không đồng nhất, được người sử dụng dùng với mục đích khác nhau. Do vậy, thiết nghĩ, khi bàn về từ điển học, cần xác định rõ chức năng, thuộc tính “tra cứu” của các loại từ điển và công trình bách khoa; về mặt thuật ngữ, cần chính xác hoá thuật ngữ sách (công trình) tra cứu, phân biệt với sách (công trình) công cụ, và sách (công trình) tham khảo.

Từ công cụ được Từ điển tiếng Việt định nghĩa “cái được dùng để tiến hành một việc nào đó, hoặc để đạt mục đích nào đó” [Từ điển tiếng Việt, tr. 335]. Như vậy, sách công cụ là sách được dùng như công cụ để tiến hành một việc nào đó, hoặc để đạt mục đích nào đó. Sách giáo khoa, giáo trình là các loại sách công cụ dùng để dạy và học trong nhà trường.

Từ tham khảo được từ điển tiếng Việt định nghĩa là “tìm đọc thêm tài liệu, xem xét, nghe ngóng, thêm ý kiến có liên quan, để biết rõ hơn về vấn đề đang quan tâm” [Từ điển tiếng Việt, tr. 1.407]. Sách tham khảo là sách đọc thêm, để biết rõ hơn về vấn đề đang quan tâm.

Từ tra cứu được định nghĩa “tìm tòi để biết đích xác một điều nào đó” [Từ điển tiếng Việt, tr.1571]. Như vậy, sách tra cứu là sách dùng để tìm tòi, hiểu biết chính xác một điều nào đó.

1.2. Thông tin ngôn ngữ (linguistic information)

Thông tin ngôn ngữ – Thuật ngữ chỉ những thông tin được đưa ra trong mục từ của từ điển, có thể thuộc các loại: thông tin lịch đại – từ nguyên, thông tin chính tả – cách viết; thông tin âm vị học – cách phát âm; thông tin ngữ pháp – từ loại; thông tin ngữ nghĩa – định nghĩa hay từ tương đương; thông tin ngữ dụng – cách dùng. Những thông tin này có thể được bổ trợ bằng các phương tiện khác như tranh ảnh, tên riêng, thông tin bách khoa... được đưa ra ngay trong mục từ hay bên ngoài mục từ.

1.3. Thông tin từ vựng (lexical information)

Thông tin từ vựng – Thuật ngữ chỉ một trong những loại thông tin được đưa ra trong mục từ của từ điển, dựa trên vốn từ vựng. Thông tin từ vựng đôi khi đối lập với thông tin ngữ pháp, hay thông tin bách khoa; thông tin từ vựng chỉ bao gồm những tri thức về nguồn gốc từ (từ nguyên), hình thái từ (hình thái học) và nghĩa từ.

1.4.Thông tin bách khoa (encyclopedic information)

Thông tin bách khoa – Loại thông tin được đưa ra trong công trình tra cứu, dựa trên các tri thức mang tính dữ kiện (factual). Trái với thông tin ngôn ngữ, thông tin bách khoa thường liên quan chặt chẽ với việc miêu tả thực tế khách quan, chứ không liên quan đến mặt ngôn ngữ của từ đầu mục. Thông tin ngôn ngữ và thông tin bách khoa có thể chồng lấn lên nhau. Thông tin bách khoa thường có ở các từ điển chuyên ngành. Tuy nhiên, một số từ điển phổ thông cố gắng đưa ra cả hai loại thông tin trên trong một mục từ. Đồng thời, nhiều từ điển phổ thông lại chứa các mục từ bách khoa. Để thấy rõ sự khác nhau giữa thông tin ngôn ngữ và thông tin bách khoa, chúng ta so sánh các thông tin đưa ra trong mục từ nướcTừ điển (phổ thông) tiếng ViệtTừ điển Bách khoa Việt Nam. Ở mục từ nước, Từ điển tiếng Việt đưa ra các thông tin ngôn ngữ về từ nước: là danh từ, có các nét nghĩa: 1. Chất lỏng, tồn tại trong tự nhiên; 2. Chất lỏng nói chung; 3. Lần, lượt sử dụng nước; 4. Lớp quét phủ bên ngoài [Từ điển tiếng Việt, tr. 1.161]. Còn ở mục từ nước, Từ điển Bách khoa Việt Nam cung cấp các thông tin mang tính dữ kiện về sự vật, khái niệm nước (N): Tên khoa học của N, công thức hoá học của N; tính chất vật lí của N; sự tồn tại trong tự nhiên của N; sự cần thiết của N trong đời sống, trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; việc bảo vệ tài nguyên N. [Từ điển Bách khoa Việt Nam, t. 3, tr. 320] .

Thông tin bách khoađồng nghĩa với thông tin dữ kiện (factual information).

1.5. Định nghĩa bách khoa (encyclopedic definition)

Định nghĩa mang tính bách khoa là định nghĩa trình bày các tri thức bách khoa (về các dữ kiện), chứ không trình bày các tri thức ngôn ngữ (về từ ngữ).

1.6. Từ điển

Từ điển là một dạng công trình tra cứu, lưu chứa các từ ngữ tách rời của vốn từ ngữ chung (hay một bộ phận của vốn từ ngữ chung - các từ ngữ chuyên biệt) của ngôn ngữ, kèm theo các thông tin (đầy đủ hoặc chỉ một số thông tin) về chính tả, cách phát âm, ý nghĩa, cách dùng, từ đồng nghĩa, sự phái sinh và lịch sử của từ ngữ đó. Để tiện tra cứu, ở phần lớn các từ điển, các từ ngữ được sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái; các thông tin được minh hoạ bằng những trích dẫn từ các tác phẩm văn học.

Từ điển Bách khoa ngôn ngữ học do Kirsten Malmkjar chủ biên nhấn mạnh đến tính cần yếu (relevant) của từ điển, khi đưa ra định nghĩa về loại công trình tra cứu này. Trong mục từ từ điển học (lexicography), từ điển (dictionary) được tác giả định nghĩa là công trình tra cứu cung cấp các thông tin từ vựng (ngôn ngữ) cần yếu về các đơn vị từ vựng (từ ngữ) cần yếu. Các đơn vị từ vựng (từ ngữ) cần yếu được bao gồm trong cấu trúc vĩ mô, tức là bảng từ, sắp xếp theo thuật toán nhất định (thường theo trật tự chữ cái), để tiện tìm kiếm.

Dạng điển hình của từ điển là từ điển phổ thông.

Từ điển phổ thông (general dictionary)hay còn gọi là từ điển mục đích phổ thông (general purpose), cung cấp sự miêu tả toàn diện vốn từ của ngôn ngữ với các thông tin khác nhau, như thông tin về nghĩa, cách viết, cách dùng thành ngữ tính của từ ngữ..., nhằm thoả mãn các nhu cầu tra cứu khác nhau của người sử dụng. Dạng tiêu biểu của từ điển phổ thông là từ điển đơn ngữ, mặc dù từ điển đơn ngữ có một số đặc điểm chung với từ điển song ngữ. Thay cho việc cung cấp nghĩa từ trong từ điển đơn ngữ, từ điển song ngữ (đối dịch) đưa ra từ tương đương. [11: 61]

1.7. Bách khoa thư

Bách khoa thư là một dạng công trình tra cứu, lưu chứa các thông tin mang tính dữ kiện về các lĩnh vực tri thức. Trong bách khoa thư, các thông tin được thu thập với sự tham bác chuyên gia và được sắp xếp bằng cách kết hợp giữa cách sắp xếp theo trật tự chữ cái và sắp xếp hệ thống hoá, nhằm tạo thuận lợi cho người sử dụng có trình độ học vấn phổ thông. Định nghĩa trong bách khoa thư chi tiết và rõ ràng (ít mập mờ) hơn, so với cách giải thích trong từ điển phổ thông. Cũng vì vậy, bách khoa thư “kén” người sử dụng hơn, so với từ điển phổ thông.

Ở nước ta, một số người đồng nhất bách khoa thư với bách khoa toàn thư; cho rằng cả hai thuật ngữ trên cùng tương đương với Encyclopedia tiếng Anh. Theo Nguyễn Trung Thuần “Bách khoa toàn thư là từ mượn Hán. Trong tiếng Hán, bách khoa toàn thư tương đương với Encyclopedia của tiếng Anh” [22: 94]. Một số tác giả khác cho rằng bách khoa toàn thư phân biệt với bách khoa thư bởi tính “tổng hợp”, “đa ngành”, với dung lượng lớn hơn, phong phú hơn cả về cấu trúc vĩ mô (số lượng mục từ) và cấu trúc vi mô (các tri thức đưa ra trong mỗi mục từ) của bách khoa toàn thư. Tác giả Nguyễn Kim Thản cho rằng “... Bách khoa thư có chức năng hệ thống hoá những tri thức cơ bản của một ngành”, còn bách khoa thư tổng hợp hay bách khoa toàn thư hệ thống hoá những tri thức cơ bản của “toàn bộ các ngành khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật hoặc hoạt động thực tiễn”. [19: 83]

1.8. Từ điển bách khoa

Từ điển bách khoa là một dạng công trình tra cứu có những tiêu chí chung với từ điển phổ thông một mặt, và với bách khoa thư, mặt khác.

Trong thực tế, nếu so sánh các loại từ điển và bách khoa thư, thì chúng ta dễ dàng nhận thấy chúng là một “tập hợp mờ”, ranh giới phân chia giữa chúng không rõ rệt, có sự chuyển tiếp liên tục về tính chất của thông tin: thông tin mang tính ngôn ngữ (các loại từ điển ngôn ngữ nằm ở một phía) và thông tin mang tính bách khoa (bách khoa thư nằm ở phía kia).

Với tư cách là từ điển, từ điển bách khoa có một số đặc điểm chung với từ điển ngôn ngữ.

○ Sự tập trung chủ yếu vào việc định nghĩa (khái niệm, sự vật, hiện tượng... do từ đầu mục biểu thị).

○ Lượng thông tin được đưa ra ở mỗi mục từ tương đối hạn hẹp, không đủ sâu và rộng.

○ Mục từ sắp xếp theo bảng chữ cái.

Sự khác biệt giữa từ điển ngôn ngữ và từ điển bách khoa ở tính chất của thông tin:

○ Thông tin trong từ điển bách khoa mang tính dữ kiện (về khái niệm, sự vật, hiện tượng, nhân vật... do từ đầu mục biểu thị).

○ Thông tin trong từ điển ngôn ngữ mang tính ngôn ngữ (về cách phát âm, cách viết, ý nghĩa, nguồn gốc, cách dùng... của từ ngữ do từ đầu mục biểu thị).

Trong khi đó, giữa từ điển bách khoabách khoa thư cũng có những điểm chung và khác biệt. Từ điển bách khoa và bách khoa thư giống nhau ở tính chất dữ kiện của thông tin đưa ra ở mục từ.

Đồng thời, từ điển bách khoabách khoa thư có một số điểm khác biệt. Bảng sau chỉ ra những tiêu chí phân biệt từ điển bách khoabách khoa thư.

Trong bài này, theo cách mà Nguyễn Kim Thản đề xuất, chúng tôi gọi từ điển bách khoabách khoa thưcông trình bách khoa.

1.9. Quan niệm về từ điển và công trình bách khoa của Hennning Bergenholtzer

Gần đây, trên tạp chí Lexikos (AFRILEX - reeks/series 22: 2012), Hennning Bergenholtzer đưa ra quan niệm mới về từ điển. Tác giả định nghĩa từ điển là công trình tra cứu mang tính từ điển, chứa các mục từ liên quan đến các chủ đề riêng biệt hay các yếu tố ngôn ngữ, hoặc liên quan đến các văn bản bên ngoài từ điển; từ điển có thể tư vấn cho người sử dụng khi họ cần tiếp nhận văn bản, tạo sản hay chuyển dịch văn bản, hoặc có nhu cầu hiểu biết hơn về nghĩa từ, bản chất từ loại hay sự kết hợp từ. [3: 30]

Như vậy, trong định nghĩa này, Hennning Bergenholtzer coi từ điển là công trình tra cứu chứa các mục từ liên quan không chỉ đến các yếu tố ngôn ngữ (thông tin ngôn ngữ) – tức là các từ điển ngôn ngữ thông thường, mà còn liên quan đến các chủ đề riêng biệt – nội dung của các công trình bách khoa (thông tin mang tính dữ kiện). Tác giả nhấn mạnh, từ điển không chỉ cung cấp các thông tin để giao tiếp ngôn ngữ (communicative) – chức năng chủ yếu của từ điển ngôn ngữ phổ thông, mà còn cung cấp các thông tin để nhận biết tri thức (cognitive) – chức năng chủ yếu của các công trình bách khoa. Theo Hennning Bergenholtzer, từ điển (từ điển ngôn ngữ hay công trình bách khoa) có chức năng chung là cung cấp cho người sử dụng những thông tin, khi họ cần tiếp nhận văn bản, tạo sản hay chuyển dịch văn bản. Do vậy, từ điển là thuật ngữ chung chỉ tất cả các loại công trình tra cứu, như là phương tiện cung cấp thông tin giao tiếp và thông tin nhận biết tri thức. Như vậy, theo cách hiểu của Hennning Bergenholtzer, thuật ngữ từ điển đồng nghĩa với thuật ngữ công trình tra cứu (có tính chất từ điển – lexicographic).

2. Từ điển họcBách khoa thư học

2.1. Từ điển học

Có sự không thống nhất giữa các tác giả trong quan niệm về phạm vi, đối tượng và nội dung của từ điển học.

2.1.1. Trước hết, có sự sự khác biệt giữa quan niệm từ điển học chỉ là (a) – “thực hành biên soạn từ điển” và quan niệm từ điển học không chỉ là (a), mà còn là (b) – “nghiên cứu lí thuyết” về từ điển. Trong bài viết gần đây, Nguyễn Tuyết Minh nhận xét: Tuy có bề dày hình thành và phát triển hơn 4.000 năm, song cho đến nay, từ điển học vẫn chỉ được coi là “kĩ thuật: biên soạn từ điển, hoặc đơn giản làcông việc biên soạn từ điển (như trong bách khoa thư Xô Viết in lần thứ 1, 1936)”. [19: 41] Trong thực tế, quan niệm từ điển học chỉ là việc biên soạn từ điển vẫn tồn tại. The New Oxford Dictionary of English định nghĩa từ điển họcviệc thực hành biên soạn các từ điển. [dẫn theo 2: 32] Đồng thời, một số chuyên gia nổi tiếng về từ điển học cũng nghi ngờ sự tồn tại của “Từ điển học lí thuyết”. Trong công trình Oxford Guide to Practical Lexicography (Hướng dẫn của Oxford về từ điển học thực hành), các tác giả Atkin và Rudell bày tỏ quan điểm “nghi ngờ về sự tồn tại” của cái gọi là từ điển học lí thuyết. Còn nhà từ điển học nổi tiếng Bejoint thì “... không tin vào sự tồn tại một thứ lí thuyết từ điển học”. [5: 381]

Một số tác giả khác cho rằng, việc coi từ điển học chỉ gồm lĩnh vực biên soạn từ điển là sự hạ thấp chuyên ngành khoa học này. Ở Nga, từ thập niên 30 thế kỉ XX, Viện sĩ L. V. Scherba đã cực lực phản đối việc Từ điển học được gán cho cái tên kì quái làbiên soạn từ điển”, bắt nguồn từ thái độ “coi thường của các nhà ngôn ngữ học đối với công việc biên soạn từ điển” [19: 41]. Hiện nay, nhiều tác giả của các trường phái từ điển học khác nhau đều cho rằng từ điển học gồm hai lĩnh vực thực hành và nghiên cứu. Quan niệm “từ điển học – không phải chỉ là việc thực hành biên soạn các loại từ điển, mà còn là một chuyên ngành khoa học lí thuyết” dần được khẳng định và “đặt nền móng cho hàng loạt vấn đề mấu chốt làm xuất phát điểm cho các luận đề khoa học trong lĩnh vực Từ điển học Xô viết. [19: 41]

Tuy nhiên, trong quan niệm của nhiều người, trong hai lĩnh vực của từ điển học, lĩnh vực “thực hành biên soạn” thường được coi là “chính yếu” hơn. Điều này thể hiện ngay trong cách định nghĩa từ điển học trong các công trình bách khoa. Bách khoa thư quốc tế về ngôn ngữ học do William Bright chủ biên (1992) định nghĩa từ điển học: Từ điển học là chu trình lập kế hoạch và biên soạn các công trình tra cứu về từ vựng, chẳng hạn các loại từ điển, thesaurus, ngữ vựng, các chu cảnh (concordances), tài liệu hướng dẫn về cách dùng..., nhằm đưa ra các thông tin về vốn từ ngữ của một hay nhiều ngôn ngữ. Từ điển học cũng nghiên cứu về các chu trình trên và những sản phẩm của chúng: đó là một chuyên ngành của khoa học thông tin liên quan đến hình thức và nội dung, sự tiếp thị, và cách sử dụng các loại công trình tra cứu kể trên. [31: 330]

Lĩnh vực nghiên cứu về từ điển (dictionary research) hay lí luận từ điển học (lexicography theory) được một số tác giả xem như một lĩnh vực độc lập: metalexicography (siêu từ điển học). Thuật ngữ metalexicography bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Pháp métalexicographie do Rey và Delesalle lần đầu tiên sử dụng năm 1979. Hiện nay, thuật ngữ này được sử dụng nhất quán, chỉ hoạt động của những người chuyên nghiên cứu lí thuyết về từ điển học, mà không thực hành biên soạn từ điển. Đôi khi nó được những người làm từ điển – những nhà từ điển học thực hành dùng với nghĩa tiêu cực, ám chỉ những người “chỉ biết lí thuyết”, mà “không có thực tế” biên soạn từ điển. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người làm từ điển (từ điển học thực hành) cũng đồng thời là các nhà “siêu từ điển học” – nghiên cứu lí thuyết về từ điển. [5: 8]

Một khái niệm khác liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu lí thuyết trong từ điển học là từ điển học phổ thông (general lexicography). Theo định nghĩa của R. R. K. Hartmann và Gregory James, từ điển học phổ thông là bộ môn liên quan đến những cơ sở lí thuyết và nguyên tắc của từ điển học, không phụ thuộc vào ngôn ngữ hay kiểu loại từ điển. [11: 61]

Trong thực tế, hai lĩnh vực: (a) thực hành biên soạn và (b) nghiên cứu lí thuyết trong từ điển học gắn kết chặt chẽ với nhau, đường biên phân chia giữa chúng rất mờ nhạt. Sự ra đời của các hội từ điển học ở các nước, các khu vực trên thế giới chính là để tạo nên cầu nối giữa những người biên soạn từ điển và những người nghiên cứu từ điển: Hội Từ điển học DSNA (Hội Từ điển Bắc Mĩ) thành lập năm 1975, Hội Từ điển học Ấn Độ thành lập năm 1975, EURALEX (Hội Từ điển học châu Âu) thành lập 1983, AUSTRALEX (Hội Từ điển học Australia) thành lập 1990, Hội Từ điển học Trung Quốc, thành lập năm 1992, AFRILEX (Hội Từ điển học châu Phi) thành lập năm 1995, ASIALEX (Hội Từ điển học châu Á) thành lập năm 1997.

2.1.2. Sự khác biệt thứ hai trong quan niệm về từ điển học là: 1. Quan niệm từ điển học chỉ liên quan đến (a) – các loại từ điển ngôn ngữ và 2. Quan niệm từ điển học không chỉ liên quan đến (a), mà liên quan đến (b) – các công trình tra cứu nói chung.

2.1.2.1. Có thể nói ngay rằng, phần lớn các định nghĩa về từ điển học trong các từ điển bách khoa nói chung và bách khoa ngôn ngữ học nói riêng đều theo cách thứ nhất, tức là cho rằng từ điển học chỉ liên quan đến các loại từ điển ngôn ngữ. Theo định nghĩa về từ điển học của Bách khoa thư quốc tế về ngôn ngữ học (1992) do William Bright làm chủ biên, như đã dẫn ở trên, thì từ điển học chỉ liên quan đến công trình tra cứu về từ vựng ngôn ngữ. [31: 330-332]

Ở Nga, Từ điển bách khoa ngôn ngữ học do V. N. Jarceva chủ biên (1990) đưa ra định nghĩa về từ điển học: Từ điển học là một bộ môn của ngôn ngữ học, chuyên về thực hành và nghiên cứu lí thuyết biên soạn từ điển. [16: 258]

Tương tự định nghĩa trên là định nghĩa từ điển học trong Từ điền Bách khoa Việt Nam: Từ điển học là “bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu mặt lí thuyết và mặt thực hành của công việc biên soạn các loại từ điển”. [Từ điển Bách khoa Việt Nam, t. 4, tr. 707]

Như vậy, ở nước ta và nước ngoài, quan niệm phổ biến, có tính truyền thống cho rằng từ điển học là bộ môn thuộc ngôn ngữ học, có phạm vi giới hạn, chỉ liên quan đến các loại từ điển ngôn ngữ. Có thể xem đây là quan niệm truyền thống và hẹp về từ điển học. Để chỉ từ điển học theo quan niệm này, chúng tôi dùng thuật ngữ từ điển học phổ thông (general lexicography) – thuật ngữ và định nghĩa mà R. R. K. Hartmann và Gregory James đã đưa ra. Từ điển học phổ thông gồm 2 lĩnh vực: nghiên cứu lí thuyết và thực hành biên soạn các loại từ điển ngôn ngữ; mỗi lĩnh vực gồm các bình diện khác nhau. Theo R. R. K. Hartmann và Gregory James, ở lĩnh vực thực hành, các bình diện chính là các bước, các khâu trong chu trình làm từ điển (dictionary-making), gồm: 1. Điền dã, 2. Miêu tả, 3. Trình diễn.

1. Bước điền dã (fieldwork) nhằm thu thập dữ liệu, thông qua việc phỏng vấn người nói ngôn ngữ hay biến thể ngôn ngữ. Việc tiến hành điền dã thu thập tư liệu là khâu quan trọng đối với nhiều loại từ điển, đặc biệt đối với từ điển ngôn ngữ chưa có chữ viết (ví dụ ngôn ngữ của nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam), từ điển phương ngữ địa lí, từ điển phương ngữ xã hội, hay từ điển ngôn ngữ có mục tiêu chuyên biệt.

2. Bước miêu tả (description) nhằm thực hiện việc biên soạn, biên tập từ điển.

Bước trình diễn (presentation) liên quan đến việc xuất bản công trình theo định dạng phù hợp với nhu cầu và cách tra cứu của người sử dụng.

Các bình diện sau đây thuộc lĩnh vực từ điển học lí thuyết: 1. Lịch sử, 2. Loại hình học, 3. Đánh giá, 4. Sự sử dụng, 5. Cấu trúc.

1. Bình diện lịch sử liên quan đến sự phát triển lịch đại của từ điển và người biên soạn từ điển trong bối cảnh văn hoá, xã hội nhất định.

2. Bình diện loại hình học liên quan đến việc phân loại từ điển. Việc phân loại từ điển có thể dựa vào tiêu chí hình thức và chức năng của từ điển.

3. Bình diện đánh giá liên quan đến sự phê bình, đánh giá từ điển.

4. Bình diện sử dụng gồm toàn bộ những hoạt động thực hiện chức năng tư vấn của từ điển.

5. Bình diện cấu trúc liên quan đến việc thiết kế tổng thể (cấu trúc vĩ mô) và xác định nội dung của mỗi mục từ (cấu trúc vi mô) của từ điển.

Sơ đồ dưới đây do R. R. K. Hartmann và Gregory James đưa ra, chỉ ra quan hệ giữa hai lĩnh vực thực hành biên soạn và nghiên cứu lí thuyết trong từ điển học phổ thông. [11: 85-86]

2.1.2.2. Trên đây là quan niệm hẹp về từ điển học. Gần đây, trong các công trình nghiên cứu về từ điển học, một số tác giả có một cách nhìn rộng hơn về từ điển học. Theo quan niệm của họ, phạm vi của từ điển học được mở rộng: Cả 2 lĩnh vực (thực hành và nghiên cứu lí luận) của từ điển học không chỉ giới hạn ở các loại từ điển ngôn ngữ, mà mở rộng đến tất cả các loại hình công trình tra cứu, trong đó có các công trình bách khoa.

Trong công trình Lexicography: A dictionary of basic terminology (Từ điển học: Từ điển hệ thuật ngữ cơ bản), Igor Burkhanov (1998) đưa ra một cách nhìn tương đối rộng về từ điển học. Theo tác giả, “thuật ngữ từ điển học phản ánh quá trình, kết quả và sự đánh giá lí luận của việc biên soạn và xuất bản các công trình tra cứu, vốn để trình bày các loại tri thức khác nhau” [dẫn theo 3: 35]. Như vậy, Burkhanov cho rằng, từ điển học bao gồm việc biên soạn và nghiên cứu lí luận các công trình tra cứu, lưu chứa các loại tri thức khác nhau, bao gồm tri thức về các chủ đề (khoa học, công nghệ, nghệ thuật, đời sống, sự kiện, nhân vật...) và tri thức về từ ngữ (ngôn ngữ).

Quan niệm rộng về từ điển học (từ điển học liên quan đến các công trình tra cứu nói chung) cũng được thể hiện trong định nghĩa về từ điển học của R. R. K. Hartmann & Gregory James: “Từ điển học là sự hoạt động chuyên nghiệp và lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến các loại từ điển và các công trình tra cứu khác...” [11: 85-86]

Quan niệm rộng về từ điển học được ban biên tập Tạp chí quốc tế từ điển học (International Journal of Lexicography (IJL) chia sẻ. Trong loạt bài giới thiệu, đăng ở số đầu tiên của tạp chí IJL, Tổng biên tập Robert Ilson cho rằng, tạp chí IJL đề cập đến những vấn đề của các loại từ điển, thesaurus, các loại index, atlas, bách khoa thư và các dạng khác của công trình tra cứu. “Chúng tôi cho rằng những vấn đề mà người biên soạn và người sử dụng từ điển, thesaurus gặp phải cũng là những vấn đề mà người biên soạn và người sử dụng bách khoa thư, index, atlas và các loại công trình tra cứu khác cũng phải đối diện”. [dẫn theo 3: 37]

Với cách nhìn rộng về từ điển (đồng nghĩa với công trình tra cứu), Henning Bergenholtz & Rufus H. Gouws cho rằng có 2 loại từ điển học:

"1. Phát triển lí luận về việc khái niệm hoá các loại từ điển, đặc biệt là việc xem xét chức năng, cấu trúc, nội dung của từ điển. Bộ phận này của từ điển học còn được hiểu là Siêu từ điển học hay Từ điển học lí thuyết.

2. Việc lập kế hoạch và biên soạn từ điển cụ thể. Bộ phận này của từ điển học được hiểu là từ điển học thực hành hay thực hành từ điển học". [3: 38]

Trái với khẳng định của một số tác giả rằng 1. Từ điển học ngôn ngữ (Linguistic Lexicography), 2. Từ điển thuật ngữ học (Terminography), 3. Bách khoa thư học (Encyclopedology) là những chuyên ngành độc lập, không liên quan với nhau, Henning Bergenholtz & Rufus H. Gouws cho rằng các chuyên ngành trên là các bộ phận của một chuyên ngành chung – Từ điển học. Từ điển học gồm nhiều loại: Từ điển học ngôn ngữ (Linguistic Lexicography), và Từ điển học lĩnh vực chủ thể (Subject Field Lexicography). Từ điển học thuật ngữ (Terminography) đồng nghĩa với Từ điển học lĩnh vực chủ thể (Subject Field Lexicography). Còn Từ điển học ngôn ngữ thường được hiểu là từ điển học ngôn ngữ phổ thông, mà chức năng cơ bản của nó là cung cấp các thông tin giao tiếp. Từ điển học lĩnh vực chủ thể được hiểu ở dạng điển hình là các từ điển đơn ngữ về các lĩnh vực chủ thể khác nhau và có chức năng cung cấp thông tin nhận biết tri thức. Từ điển học bách khoa (Encyclopedic Lexicography) là một dạng của từ điển học, bao chứa cả hai loại: Từ điển học ngôn ngữTừ điển học lĩnh vực chủ thể.

Đây là quan niệm rộng, hiện đại về từ điển học.

Ngày nay, trong sự phát triển của “xã hội thông tin”, “kinh tế tri thức”, do nhu cầu tra cứu ngày càng cao, người ta nói đến một chuyên ngành khoa học mới: Khoa học tra cứu (Reference Science). Các tác giả Từ điển về từ điển học định nghĩa Khoa học tra cứu như sau: Đây là thuật ngữ chỉ toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc thiết kế, biên soạn, sử dụng và đánh giá các loại hình công trình tra cứu. Hiện chưa có một quan niệm thống nhất về các chuyên ngành hẹp cấu thành nên khoa học tra cứu, nhưng một điều chắc chắn là chuyên ngành này mở rộng phạm vi đến từ điển học, thuật ngữ học và các loại hình công trình tra cứu khác, như các công trình bách khoa thư, các cơ sở dữ liệu thuật ngữ (terminological database), các loại Atlas, Catalogue, thư mục. Các loại hình công trình tra cứu kể trên có chức năng chung là đáp ứng nhu cầu của những người muốn tìm kiếm các thông tin ngôn ngữ và thông tin dữ kiện. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép tạo ra những công trình tra cứu có các định dạng đa phương tiện (multimedia). [11: 117]

Có thể nhận xét rằng, theo định nghĩa trên, phạm vi của khoa học tra cứu cũng tương tự như phạm vi của từ điển học, theo quan niệm rộng “phi truyền thống” của Henning Bergenholtz & Rufus H. Gouws; Hartmann & Gregory James và các tác giả khác đó là ngành khoa học thực hành biên soạn và nghiên cứu lí thuyết về các loại hình công trình tra cứu. Theo cách hiểu này, thuật ngữtừ điển học (Lexicography) đồng nghĩa với thuật ngữ khoa học tra cứu (Reference Science)và phân biệt với từ điển học phổ thông (General Lexicography) chuyên ngành hẹp của từ điển học, chỉ liên quan đến các loại từ điển (ngôn ngữ) .

Từ điển học hiểu theo nghĩa rộng, hiện đại (đồng nghĩa với khoa học tra cứu) lại bao gồm nhiều phân ngành khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích và định hướng của loại công trình tra cứu, mà ở đấy (a) - Việc nghiên cứu lí luận và (b) - Hoạt động thực tiễn (biên soạn) được tiến hành. Các tác giả Từ điển về từ điển học, đưa ra danh sách gồm 29 phân ngành hẹp của từ điển học, như từ điển học tác gia, từ điển học song ngữ, từ điển học phương ngữ, từ điển học tư pháp... Trong số các phân ngành của từ điển học, có phân ngành Từ điển học bách khoa.

Với quan niệm rộng về từ điển học, Henning Bergenholtz & Rufus H. Gouws chỉ ra đối tượng và chức năng của từ điển học, như sơ đồ dưới đây:

Liên quan đến quan niệm khác nhau về phạm vi, nội dung của từ điển học là vấn đề xác định vị trí nó trong các chuyên ngành khoa học khác. Nếu quan niệm từ điển học chỉ liên quan đến các loại từ điển ngôn ngữ, thì từ điển học (phổ thông) nằm trong ngôn ngữ học và liên quan chặt chẽ với các bộ môn ngôn ngữ học như từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ âm học... Nếu coi từ điển học là khoa học tra cứu, liên quan đến các loại hình công trình tra cứu nói chung, thì từ điển học (khoa học tra cứu) như là: “cái mắt xích nối tất cả các khoa học, cái tích hợp các khoa học” [18: XI],...

Henning Bergenholtz và Rufus H. Gouws nhấn mạnh rằng từ điển học là một chuyên ngành (discipline) độc lập, liên quan đến ngôn ngữ học và khoa học thông tin (Information Science), chứ không phải là chuyên ngành hẹp (subdiscipline) của ngôn ngữ học [3: 39].

Các tác giả của “Từ điển về từ điển học” cho rằng, trái với cách hiểu sai lầm trước đây xem từ điển học là một phân ngành của ngôn ngữ học, ngày nay, từ điển học được quan niệm như một lĩnh vực mang tính tổng hợp, gồm các lí thuyết và công việc thực hành của khoa học thông tin, văn học, xuất bản, triết học, lịch sử, ngôn ngữ học so sánh và ngôn ngữ học ứng dụng. Các bộ môn có quan hệ gần gũi với từ điển học như thuật ngữ học, từ vựng học, công trình bách khoa, thư mục học (bibliography), từ điển học thuật ngữ, soạn thảo Index, công nghệ thông tin, thư viện học, nghiên cứu truyền thông, dịch thuật và giảng dạy, cũng như các bộ môn gần kề của khoa học lịch sử, giáo dục học và nhân học ... tạo lập một môi trường rộng lớn để các nhà từ điển học xây dựng và phát triển lĩnh vực khoa học của họ. [11: vii]

2.2. Bách khoa thư học (Encyclopedology) Từ điển học bách khoa (Encyclopedic Lexicography)

Ở nước ta, một số nhà khoa học nói đến ngành khoa học bách khoa thư học (Encyclopedology) [1] và đề xuất xây dựng chuyên ngành bách khoa thư học Việt Nam. Trong bài báo: “Sự nghiệp biên soạn các công trình bách khoa đã và sẽ đi về đâu”, Nguyễn Kim Thản cho rằng, rất ít người chủ trì các công trình bách khoa ở nước ta chú ý đến bách khoa thư học [20]. Trong công trình “Lịch sử - Lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư” Hà Học Trạc bàn đến “lịch sử ra đời, hình thành và phát triển ngành bách khoa thư học”. [10: 4]

Bách khoa thư học, theo cách hiểu của Nguyễn Kim Thản và Hà Học Trạc, đó là khoa học về các công trình bách khoa.Tuy nhiên, quan niệm về chuyên ngành này giữa hai tác giả có sự không đồng thuận.

Theo Nguyễn Kim Thản, Bách khoa thư học có đối tượng, phương pháp riêng. Muốn có các công trình bách khoa có chất lượng tốt, thì việc có nhiều nhà khoa học tham gia biên soạn công trình bách khoa vẫn chưa đủ, mà cần phải có những người nắm được lí luận, phương pháp, kĩ thuật (tức là hiểu rõ về Bách khoa thư học - NVL) tham gia tổ chức, biên soạn, biên tập công trình bách khoa. [20]. Như vậy, theo Nguyễn Kim Thản, phạm vi của Bách khoa thư học - chuyên ngành khoa học về các loại công trình bách khoa gồm 2 lĩnh vực: a- thực hành tổ chức, biên soạn, biên tập công trình bách khoa và b- nghiên cứu lí luận, phương pháp, kĩ thuật biên soạn công trình bách khoa. Trong các bài viết đăng trên Tri thức bách khoa, Nguyễn Kim Thản đã đề cập đến một số nội dung lí thuyết của bách khoa thư học.

Trong khi đó, Hà Học Trạc giới hạn phạm vi của bách khoa thư học ở các hoạt động thực tiễn trong quá trình biên soạn, xuất bản các công trình bách khoa thư “với hàng trăm, hàng nghìn sản phẩm khác nhau với hàng chục triệu bản xuất bản hàng năm, với sự ứng dụng có hiệu quả công nghệ tin học và máy tính điện tử, trong biên soạn, biên tập cũng như xuất bản các phiên bản điện tử, xây dựng các Website trên mạng Internet. [10: 4]. Như vậy, bách khoa thư học theo cách hiểu của  Hà Học Trạc, chỉ bao gồm các hoạt động thực hành trong chu trình biên soạn, xuất bản các công trình bách khoa. Tuy nhiên, sách Lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư do Hà Học Trạc biên soạn và được ông coi là công trình “đề cập đến một lĩnh vực khoa học mới, bách khoa thư học” [10: 5], lại đề cập đến những vấn đề lí thuyết của bách khoa thư học như: Lịch sử bách khoa thư (Phần I); Các loại hình bách khoa thư (Phần II), Từ điển - Từ điển bách khoa - Bách khoa toàn thư (Phần III), Phương pháp biên soạn bách khoa toàn thư (Phần IV); Lịch sử hình thành ngành bách khoa thư học Việt Nam (Phần V). Rõ ràng là những vấn đề trên chính là các bình diện của lĩnh vực nghiên cứu trong từ điển học bách khoa (bách khoa thư học) được chúng tôi trình bày dưới đây.

Về quan hệ giữa từ điển học và bách khoa thư học, theo Hà Học Trạc, bách khoa thư học là chuyên ngành độc lập với từ điển học. Điều này thể hiện khi tác giả nêu “sự khác nhau giữa từ điển ngôn ngữ và tư điển bách khoa”. Theo tác giả “... Có những nhà từ điển học, ngôn ngữ học vẫn còn những sự nhầm lẫn, không phân biệt rõ các loại từ trong từ điển ngôn ngữ với mục từ trong từ điển bách khoa, giữa nội dung biên soạn các từ trong từ điển ngôn ngữ và nội dung các mục từ trong từ điển bách khoa. [10: 93-97]. Về sự khác biệt giữa từ điển và công trình bách khoa, GS Hà Học Trạc nhấn mạnh 2 khía cạnh:

1- Từ điển chứa các loại từ ngữ, còn công trình bách khoa chứa các mục từ.

2- Nội dung của từ điển là nói về từ, còn nội dung của công trình bách khoa nói về các mục từ.

Về sự khác biệt và đồng nhất giữa từ điển ngôn ngữ, từ điển bách khoa, bách khoa thư, chúng tôi đã trình bày ở mục 1.6; 1.7; 1.8; ở đây chỉ xin nhấn mạnh lại tính chuyển tiếp liên tục giữa một bên là từ điển ngôn ngữ và một bên là bách khoa thư. Xét cả về mặt vĩ mô và vi mô, không tìm thấy một ranh giới thật rõ ràng giữa các loại trên.

Như vậy, qua đoạn dẫn trên và trong toàn bộ công trình của mình, Hà Học Trạc vẫn không phân biệt đủ rõ hai khái niệm từ điểncông trình bách khoa, cũng như từ điển học và bách khoa thư học. Hơn nữa, quan niệm từ điển học chỉ liên quan đến từ điển (ngôn ngữ) là quan niệm hẹp về từ điển học, đó là từ điển học phổ thông.

Nếu từ điển học được hiểu với nghĩa rộng như quan niệm gần đây của các nhà từ điển học, thì bách khoa thư học (Encyclopedology) là một phân ngành của từ điển học, dó là Từ điển học bách khoa (Encyclopedic Lexicography). Theo các tác giả Hartmann, R. R. K. & Gregory, James, Từ điển học bách khoa là toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc thiết kế, biên soạn, đánh giá từ điển bách khoa, bách khoa thư và các công trình tra cứu tương tự - công trình bách khoa. [11: 49]

Điều cần lưu ý là, trong định nghĩa trên, về phạm vi của từ điển học bách khoa, các tác giả nhấn mạnh đến “các hoạt động (activities)” trong chu trình biên soạn công trình bách khoa, hơn là nói đến việc “nghiên cứu lí thuyết” công trình bách khoa.

Là một phân ngành của từ điển học, một số vấn đề thiết yếu về cơ sở lí luận, phương pháp của từ điển học bách khoa nằm trong và chịu sự chi phối của những cơ sở lí luận và phương pháp của từ điển học. Chúng tôi quan niệm phương pháp luận trong từ điển học là hệ thống những nguyên tắc, nguyên lí lí thuyết để tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong biên soạn và nghiên cứu các loại từ điển và công trình bách khoa. Nói một cách đơn giản, phương pháp luận trong từ điển học là các nguyên lí lí thuyết, nhằm lựa chọn và áp dụng các phương pháp trong biên soạn và nghiên cứu từ điển và công trình bách khoa. Những nguyên tắc sau đây cần được áp dụng chung cho việc biên soạn và nghiên cứu từ điển ngôn ngữ và công trình bách khoa:

○ Nguyên lí về định hướng đối tượng biên soạn

○ Nguyên lí về định hướng người sử dụng

○ Nguyên lí về tính hệ thống

○ Nguyên lí về tính chuẩn mực

○ Nguyên lí về tính cần yếu

○ Nguyên lí về tính tiện dụng

○ Nguyên lí về tính khuynh hướng

○ Nguyên lí về sự hài hoà giữa tính khoa học và tính phổ cập

○ Nguyên lí về sự hài hoà giữa tính dân tộc và tính quốc tế.

Quan hệ giữa hai lĩnh vực thực hành và nghiên cứu lí thuyết trong từ điển học bách khoa tương tự như quan hệ giữa hai lĩnh vực trên trong từ điển học phổ thông (xem sơ đồ Quan hệ giữa hai lĩnh vực thực hành biên soạn và nghiên cứu lí thuyết trong từ điển học phổ thông).

Trong lĩnh vực nghiên cứu lí thuyết, từ điển học bách khoa có các bình diện sau:

1. Bình diện lịch sử liên quan đến sự phát triển lịch đại của công trình bách khoa và người biên soạn công trình bách khoa trong bối cảnh văn hoá, xã hội.

2. Bình diện loại hình học liên quan đến việc phân loại công trình bách khoa. Việc phân loại công trình bách khoa có thể dựa vào tiêu chí hình thức và chức năng của công trình bách khoa.

3. Bình diện đánh giá liên quan đến việc phê bình, đánh giá công trình bách khoa.

4. Bình diện sử dụng gồm toàn bộ những hoạt động thực hiện chức năng tư vấn của công trình bách khoa.

5. Bình diện cấu trúc liên quan đến việc thiết kế tổng thể (cấu trúc vĩ mô) và xác định nội dung của mỗi mục từ (cấu trúc vi mô) công trình bách khoa.

Lĩnh vực thực hành trong từ điển học bách khoa gồm các bình diện, đó là các bước trong chu trình “làm công trình bách khoa” (making-encyclopedic work):

1. Bước tư liệu hoá (documentation): thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu (database) cho công trình bách khoa.

2. Bước miêu tả (description): Tiến hành biên soạn, biên tập công trình bách khoa.

3. Bước trình diễn (presentation): Xuất bản công trình bách khoa theo định dạng phù hợp với nhu cầu và cách tra cứu của người sử dụng.

Bảng dưới đây do Hartmann, R. R. K. and Gregory James đưa ra, cho chúng ta thấy những nét đồng nhất và khác biệt về phạm vi, mục tiêu, chức năng... của Từ điển học phổ thông (thực hành và nghiên cứu từ điển phổ thông) với Từ điển học bách khoa (thực hành và nghiên cứu công trình bách khoa).

3. Kết luận

1. Trong thực tế, giữa từ điển và công trình bách khoa không có một ranh giới rõ ràng. Trong nghiên cứu về từ điển học, tồn tại những quan niệm khác nhau về từ điển, từ điển học và bách khoa thư học.

2. Quan niệm từ điển học là chuyên ngành nghiên cứu lí luận và thực hành biên soạn các công trình tra cứu là quan niệm được một số tác giả gần đây đưa ra và sau đó được nhiều nhà từ điển học chấp thuận.

3. Theo quan điểm trên về Từ điển học, Bách khoa thư học là một trong những phân ngành hẹp của Từ điển học - Từ điển học bách khoa.

4. Quan niệm (2) về Từ điển học và quan niệm (3) về Bách khoa thư học (Từ điển học bách khoa) cho phép khắc phục trình trạng không rõ ràng trong sự phân biệt các loại từ điển ngôn ngữ và công trình bách khoa, cũng như giúp cho việc phân loại một cách nhất quán các chuyên ngành hẹp trong từ điển học: Từ điển học ngôn ngữ (Linguistic Lexicography), Từ điển học bách khoa (Encyclopedic Lexicography), Từ điển học thuật ngữ (Terminological Lexicography)...

5. Cùng là những phân ngành hẹp của Từ điển học, Từ điển học ngôn ngữ và Từ điển học bách khoa có nhiều điểm chung về cơ sở lí luận, phương pháp luận và phương pháp trong nghiên cứu và biên soạn các loại từ điển ngôn ngữ và công trình bách khoa.

6. Các quan niệm (2), (3), (4), (5) trên phù hợp với việc nghiên cứu lí luận và thực tế biên soạn các loại từ điển ngôn ngữ, công trình bách khoa và các loại công trình tra cứu khác ở nước ta hiện nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Atkin, B. U. Sue and Michel Rudell, 2008. OxfordGuide to Practical Lexicography. OUP.

[2] Bergenholtz Henning, 2012. What is Dictionary? Lexikos 22 (AFRILEX-reeks/series 22:2012): 20-30.

[3] Bergenholtz Henning and Rufus H. Gouws, 2012. What is Lexicography. Lexikos 22 (AFRILEX-reeks/series 22:2012): 31-42.

[4] Bùi Văn Lung, Vương Toàn, 2010.Mục từ tiêu điểm: Pierre Larousse và các từ điển mang tên Larousse. Từ điển học & Bách khoa thư. s. 7, 2010. tr. 55-61.

[5] Béjoint, Henri, 2000. Modern Lexicography: An Introduction. Oxford University Press.

[6] Chu Bích Thu 2001. Giới thiệu sơ lược về từ điển và từ điển học. Ngôn ngữ, s. 14. tr. 12-26.

[7] Chu Bích Thu, 2005. Từ điển và từ điển học Việt Nam // Lược sử Việt ngữ học. NXB Giáo dục. Hà Nội.

[8] Crystal David, 2000. The Cambridge Encyclopedia of Language. Foreingn Language Teaching and Reseach Press Cambridge University Press. 2000.

[9] Dubois, Jean, 1981. Model of Dictionary: Evolution in Dictionary Design. Lexicography and its Pedagogic Applications. Thematic issues of Applied Linguistics No 3. 1981.

[10] Hà Học Trạc, 2004. Lịch sử, lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư. NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội .

[11] Hartmann, R. R. K. and Gregory, James, 2001. Dictionary of Lexicography. London & New York.

[12] Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, 1993. Một số vấn đề về từ điển học (Qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt), Ngôn ngữ, s. 3.

[13] Hồ Hải Thuỵ, 2010. Hai cuốn sách mới dạy cách làm từ điển. Từ điển học & Bách khoa thư. s. 4 (7.2010), tr. 2-10.

[14] Hồng Giao, 1985. Các bách khoa thư Việt Nam thế kỉ 18-19. Tri thức Bách khoa, s. 5 1985, tr. 11-12.

[15] Ilson Robert F., 2002. Lexicography. The Linguistics Encyclopedia. Edt. by Kirsten Malmkjar. Routledge, London and New York. 2 Edition.

[16] Jackson, H., 2002. Lexicography: An introduction. London and New York.

[17] Jarceva V. N. (chủ biên), 1990. Từ điển Bách khoa ngôn ngữ học. Moskva (tiếng Nga).

[18] Lý Toàn Thắng, 2011. Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu. Từ điển học & Bách khoa thư, s. 1 (1.2011), tr. IV-XII.

[19] Nguyễn Kim Thản, 1983. Các công trình Bách khoa và việc biên soạn các công trình bách khoa ở Việt Nam. Thông tin Khoa học Xã hội, s. 11, tr. 83-88.

[20] Nguyễn Kim Thản, 1995. Sự nghiệp biên soạn các công trình bách khoa nước ta đã và sẽ đi về đâu? Ngôn ngữ & Đời sống, s. 3, tr. 21-23.

[21] Nguyễn Tuyết Minh, 2012. Từ điển học như một chuyên ngành khoa học về ngôn ngữ. Từ điển học & Bách khoa thư, s. 6 (11.2012), tr. 40-49.

[22] Nguyễn Trung Thuần, 2012. Xuất xứ các khái niệm bách khoa toàn thư, từ điển bách khoa trong tiếng Việt. Từ điển học và Bách khoa thư, s. 4 (7.2012), tr. 93-97.

[24] Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 3), 2003. NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2003.

[25] Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên). Từ điển tiếng Việt. NXB Khoa học Xã hội, 1988; tái bản các năm 1992, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998; NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học tái bản có sửa chữa bổ sung các năm từ 2001 đến 2006 .

[26] Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, 2010. Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận của thế giới và Việt Nam về biên soạn các loại từ điển. Đề tài cấp Bộ 2009-2010.

[27] Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, 2010. Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận của thế giới và Việt Nam về biên soạn bách khoa thư. Đề tài cấp Bộ 2009-2010.

[28] Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, 2010. Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận của thế giới và Việt Nam về biên soạn từ điển bách khoa. Đề tài cấp Bộ 2009-2010.

[29] Vũ Quang Hào, 2005. Kiểm kê từ điển học Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

[30] Vương Toàn. Đề xuất cách thức tổ chức biên soạn bách khoa thư qua kinh nghiệm các bách khoa thư ở Pháp // Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận ở nước ngoài và Việt Nam về biên soạn bách khoa thư. (Đề tài cấp Bộ, Viện Từ điển và Bách khoa thư Việt Nam, 2009-2010). tr. 151-167.

[31] William Bright (Ed.), 1992. Internationa l Encyclopedia of Linguistics. New York, Oxford.

[32] Zgutsta L., 1971. Giáo trình Từ điển học. NXB Viện Hàn lâm khoa học Tiệp Khắc. Praha. (Bản dịch tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học).

[33] Zgutsta L., 1992. Từ điển cho thế kỉ XXI // Hội nghị quốc tế từ điển học châu Á lần thứ nhất. Manila, Philippin. (Bản dịch của Phòng Từ điển học, Viện Ngôn ngữ học).

 


[1] Bách khoa thư học tương đương thuật ngữ  Encyclopedology mà Henning Bergenholtz và Rufus H. Gouws sử dụng trong tài liệu 2, 3.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 3 (23), 5-2013.

 

 

Bài đăng trước:

  • Từ chính tả tiếng Việt đến văn bản quy phạm pháp luật về ngôn ngữ và chữ viết
  • Tìm hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt trong các từ: ÂN CẦN, BỐ THÍ, ĐÔ HỘ...
  • Nhận diện hành động GIỤC, NGĂN , DẶN trong tiếng Việt
  • Ngôn ngữ học TÂM TRÍ LUẬN với DỊCH THUẬT
  • THỜI và THỂ trong tiếng Việt: nhìn từ hai phía NGỮ PHÁP và TÌNH THÁI