Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học TÂM TRÍ LUẬN với DỊCH THUẬT
     

GS. TS. NGUYỄN THIỆN GIÁP

SUMMARY
Mentalistic linguistics is a linguistic theory concerned with the relation between language and the mind. The author analyses the specific features of mentalistic linguistics and its influence on the work of translation: elements should be combined together to give the most accurate semantic expressions.

Ngôn ngữ học tâm trí luận (Mentalistic Linguistics) là lí thuyết ngôn ngữ học nhắm vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tâm trí. Thuật ngữ ngôn ngữ học tâm trí luận bao gồm hầu hết các lí thuyết về ngôn ngữ, chỉ trừ những lí thuyết về hành vi chặt chẽ nhất như lí thuyết của L. Bloomfield và B. F. Skinner. Lí thuyết ngôn ngữ học của N. Chomsky có thể đựơc quy vào tâm trí luận bởi vì một trong những yêu cầu của Chomsky là cấu trúc của ngôn ngữ phản ánh cấu trúc của tâm trí con người, nhưng người ta thường quy lí thuyết của Chomsky vào ngôn ngữ học duy lí (rationalist linguistics) bởi vì Chomsky nhấn mạnh đến tính bẩm sinh, đó không phải là hệ quả tất yếu của tâm trí luận. Nói đến ngôn ngữ học tâm trí luận, người ta chủ yếu tập trung vào loại lí thuyết ngôn ngữ học của E. Sapir (1884-1939) và của B. L. Whorf (1897-1941), đặc biệt là giả thuyết Sapir-Whorf. Trước đây, khi nghiên cứu các ngôn ngữ của người da đỏ ở Mĩ các nhà ngữ pháp đã dựa vào những phạm trù thích hợp với các ngôn ngữ châu Âu. Năm 1911, trong cuốn Handbook of American Indian Languages, Franz Boas (1858-1942) đã phê phán cách làm đó. Theo Boas, đối với mỗi ngôn ngữ được nghiên cứu, nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học là phát hiện cấu trúc ngữ pháp riêng của nó và phát triển những phạm trù thích hợp với nó. Chẳng hạn, nhiều ngôn ngữ không bộc lộ những kiểu khu biệt mà các nhà ngôn ngữ học châu Âu thừa nhận như sự khu biệt số đơn/số phức; quá khứ/hiện tại; chúng có thể bộc lộ sự khu biệt giữa các phạm trù hoàn toàn mới đối với các nhà ngôn ngữ học châu Âu. Thí dụ: Một số ngôn ngữ Siouan, trong hệ thống quán từ, có sự khu biệt của những phạm trù như:

Animate moving (động vật hoạt động)

Animate at rest (động vật nghỉ ngơi)

Animate long (động vật dài)

Inanimate high (bất động vật cao)

Inanimate collective objects (đối tượng tập thể bất động vật)

Sau đó, nhiều sự khác nhau giữa các ngôn ngữ đã được phát hiện. Chẳng hạn, Hockett (1958) đã miêu tả hệ thống thì của tiếng Hopi như sau:

1. Chân lí phi thời: Núi thì cao

2. Biến cố đã biết hoặc coi như đã biết: Hôm qua tôi đã nhìn thấy nó.

3. Sự kiện vẫn trong địa hạt không chắc chắn: Ngày mai, nó sẽ đến.

Trong tiếng Anh, thái độ của người nói về tính chắc chắn hoặc không chắc chắn của nội dung mệnh đề của phát ngôn được thể hiện trong hệ thống tình thái bằng các trợ vị từ tình thái, như: can, may, will, shall, should, ought, need, v.v. Trong tiếng Hopi, tự thân thì của vị từ mang thông tin đó. Hockett chứng minh tiếng Menomini có năm cách thức tình thái tương phản nhau:

1. Chắc chắn:

he comes

he is coming

he came

2. Tin đồn:

he is said to be coming

it is said that he came

3. Nghi vấn:

is he coming?

did he come?

4. Tích cực, trái với dự kiến:

so he is coming after all

5. Tiêu cực, trái với dự kiến:

but he was going to come

Trong tiếng Hopi cũng có ba từ hoạt động ở chỗ tiếng Anh chỉ có một từ. Hãy quan sát:

(1) I see that it is new

(2) I see that it is red

(3) I hear that it is new

(4) I hear that it is red

Trong tiếng Hopi, (1) có một từ cho thát; (2) có một từ khác; (3) và (4) lại có một từ khác nữa. Sở dĩ vậy là vì có ba kiểu trình bày khác nhau sự hiểu biết. Ở (1), tính chất mới của đối tượng được người nói quan tâm nhờ số mối thị giác và nhờ kinh ngiệm quá khứ của người nói; ở (2), tính chất đỏ của đối tượng được tiếp nhận trực tiếp trong ý thức nhờ sức nhìn của người nói; ở (3) và (4), cả tính chất đỏ và tính chất mới đều được lĩnh hội trực tiếp qua khả năng nghe của người nói.

Rõ ràng là, các ngôn ngữ qua cấu trúc ngữ pháp của chúng, chính xác hơn, qua từ vựng của chúng đã không trình diễn thế giới và kinh nghiệm một cách giống nhau. Tâm trí luận đòi hỏi ngôn ngữ mẹ đẻ của người nói phải dựng lên một loạt các phạm trù hoạt động như một cặp kính dẫn qua đó người ta nhìn thế giới.; nó phạm trù hoá kinh nghiệm cho người nói ngôn ngữ ấy.

E. Sapir đã nghiên cứu ngôn ngữ của người da đỏ từ năm 1905. Nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ của ông có liên quan đến ngôn ngữ và văn hoá của người da đỏ ở Mĩ. Ông nhấn mạnh mối quan hệ lẫn nhau giữa nghiên cứu văn hoá và nghiên cứu ngôn ngữ., người ta không thể nghiên cứu cái này cô lập khỏi cái kia, ngôn ngữ là một đăc tính phổ quát của con người, không có bộ lạc nào được tìm thấy mà lại không có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một phương tiện hoàn thiện cơ bản để thể hiện kinh nghiệm trong mối dân tộc được biết đến. Sapir coi ngôn ngữ trước hết là sự hiện thực hoá cái xu hướng xem xét hiện thực khách quan theo lối kí hiệu, và chính cái phẩm chất này của nó đã làm cho nó thích dụng với các mục đích giao tiếp. Như vậy, ông đã hạ thấp vai trò của chức năng giao tiếp. Theo ông, ngôn ngữ giữ chức năng hình thành tư tưởng mà sự hình thành tư tưởng không chỉ là sự cải biến hình thức phản ánh cái thế giới nhận được bằng tri giác cảm tính lúc ban đầu, mà còn là sự sản sinh ra cái nội dung không có mặt trong tài liệu cảm tính. Như vậy, ông cho ngôn ngữ không lệ thuộc vào hiện thực khách quan: ngôn ngữ sử dụng sự phản ánh các hiện tượng thực tế làm vật liệu xuất phát, về sau lại sản sinh ra những hiện tượng thuộc về tinh thần, không cần đến hiện thực khách quan.

Whorf đã nghiên cứu tiếng mẹ đẻ của người Hopi sống ở New York.và phát triển quan niệm rằng ngữ pháp xa lạ của người Hopi có thể làm sáng tỏ một cách thức đặc biệt trong sự lĩnh hội thế giới. Người Hopi có thể sống bằng những ẩn dụ và thần thoại khác và ngôn ngữ của họ có thể làm sáng tỏ điều đó. Theo ông, nghiên cứu ngôn ngữ có thể trình bày cho chúng ta rất nhiều điều về chỗ con người suy nghĩ như thế nào, và họ tin vào cái gì, và sử dụng nó để phổ biến ngôn ngữ học. Như vậy, Whorf đã tiếp tục phát triển quan điểm của Sapir. Ông tuyên bố nguyên lí bức tranh thế giới phụ thuộc vào một hệ thống ngôn ngữ, cụ thể là nguyên tắc về tính tương đối của ngôn ngữ. Whorf đã tuyệt đối hoá mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Thí dụ nổi tiếng nhất của Whorf về cái gọi là “Tính tương đối của hình thức của tư duy” xuất phát từ bài báo của ông là “An American Indian model of the universe” năm 1936. Ông xác nhận rằng siêu hình học nằm dưới ngôn ngữ của chúng ta và tư tưởng, văn hoá hiện đại áp đặt hai hình thức tổ chức lên vũ trụ là không gian và thời gian. Chúng ta thấy không gian thì tĩnh tại, ba chiều và vô tận; còn thời gian tuỳ thuộc vào sự phân ba hiện tại, quá khứ và tương lai. Ngược lại, tiếng Hopi áp đặt hai hình thức tổ chức lên vũ trụ là đã biểu lộ / chưa biểu lộ (manifested và manifesting / unmanifest) hoặc họ có thể gọi là khách quan (objective) và chủ quan (subjective). Cái đã biểu lộ hoặc khách quan bao gồm tất cả những cái đang hoặc đã được cảm nhận, không phân biệt quá khứ với hiện tại, nhưng loại trừ tương lai. Cái chủ quan hoặc chưa biểu lộ bao gồm tương lai và mọi cái chúng ta gọi là tinh thần (mọi cái xuất hiện trong tâm trí của người, động vật, thực vật và sự vật).

Theo Whorf , chúng ta phải thừa nhận rằng cách nhìn thế giới của hai nền văn hoá là khác nhau đáng kể. Sapir cũng cho rằng không có hai ngôn ngữ hoàn toàn giống nhau đến mức được coi như là sự thể hiện của cùng một thực tế xã hội. Những thế giới mà những xã hội khác nhau đang sống là những thế giới khác nhau, chứ không đơn thuần chỉ là cùng một thế giới với những cách dán nhãn khác nhau.

Điều này cần được biết đến trong giả thuyết Sapir - Whorf (theo cách gọi của J. B. Carroll), trong học thuyết tương đối luận văn hoá (cultural relativism) hoặc tương đối luận bản thể (ontological relativism). Giả thuyết Sapir - Whorf có thể tóm tắt thành hai điểm chính như sau:

- Suy nghĩ của mỗi người được quyết định hoàn toàn bởi ngôn ngữ mẹ đẻ của nó, bởi vì người ta không thể không lĩnh hội thế giới bằng những thuật ngữ của những phạm trù và sự khu biệt đã được mã hoá trong ngôn ngữ.

- Những phạm trù và sự khu biệt đã được mã hoá trong một hệ thống ngôn ngữ là duy nhất đối với hệ thống ngôn ngữ đó và không cân xứng với những phạm trù và sự khu biệt của các hệ thống khác.

Giả thuyết này có thể diễn đạt bằng một câu điển hình: “Nếu Aristote nói tiếng Hán thì logic của ông có thể đã khác”.

Do ảnh hưởng của lí thuyết này người ta đã nghiên cứu ảnh hưởng của ngôn ngữ đối với sự lĩnh hội các bình diện thực tế của con người.

Về lí luận cũng như về mặt thực tiễn, việc tìm hiểu sự bất đồng về nghĩa giữa các ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng. Nó giúp ích thực sự cho việc dạy ngoại ngữ và phiên dịch. Trong dịch thuật, sự khác biệt về các cấu trúc ngữ pháp giữa các ngôn ngữ khác nhau có ảnh hưởng đến các ý tưởng về chuyển dịch bó buộc theo từng từ và cấu trúc câu. Nhiều người cho rằng cản trở cơ bản nhất trong dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác chính là ý nghĩa vốn vẫn được mã hoá đầu tiên ở từ vựng. Vốn từ vựng của một ngôn ngữ vốn được tàng ẩn trong thế giới quan của cả cộng đồng ngôn ngữ, đó là một mạng cấu trúc có tổ chức cao trong đó mỗi từ riêng lẻ (hay còn gọi là quan điểm) không phải hoàn toàn được xác định thông qua từng thành tố nghĩa là sự suy luận từ một vài đặc điểm mang tính phổ quát về ngữ nghĩa.Vấn đề gai góc cần giải quyết đó là vấn đề dịch các tên gọi họ hàng. Theo những phân tích của Sapir và Whorf thì dường như dịch thuật là hoàn toàn không thể giữa một số ngôn ngữ. Có thể hình dung cách lập luận như sau:

- Ngôn ngữ phản ánh văn hoá;

- Văn hoá phản ánh bối cảnh;

- Tính chất đa dạng của bối cảnh là do tính chất đa dạng của văn hoá và từ đó dẫn đến tính đa dạng của ngôn ngữ;

- Dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác đòi hỏi dịch từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác;

- Nhưng văn hoá và do đó ngôn ngữ lại khác nhau rất nhiều và không bao giờ có thể dự đoán được;

- Cho nên không thể có tính phổ quát và tính dịch.

Nếu hiểu một ngôn ngữ đòi hỏi hiểu thế giới quan văn hoá đó thì việc chuyển dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác chỉ có thể thực hiện được khi không có sự khác biệt lớn giữa các nền văn hoá, nghĩa là khi các nền văn hoá khác nhau của các dân tộc khác nhau hầu như là giống nhau.

Nhưng các nhà ngôn ngữ học đã chứng minh rằng trong khuôn khổ của bản thân hệ thống ngôn ngữ, các đơn vị của những phần nhỏ này có thể bù đắp được những đơn vị thiếu nhưng cần thiết cho mặt nội dung ở các phần nhỏ khác. Chẳng hạn, sự thay thế những phương tiện ngữ pháp thiếu bằng những phương tiện từ vựng: phạm trù thì và phạm trù thể không phải ngôn ngữ nào cũng có. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng khả năng biểu hiện của bất cứ một hệ thống ngôn ngữ nào cũng hữu hạn, nhưng điều đó không trở ngại cho hoạt động nhận thức và cho thực tiễn, bởi vì nhận thức được thực hiện trên cơ sở lời nói sinh động, mềm dẻo, vô cùng phong phú. Nó thoả mãn được các nhu cầu của nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nội dung của khu vực nghĩa đã được cố định trong hệ thống ngôn ngữ chỉ ghi lại được một số kết quả trong hoạt động nhận thức của những người nói thứ tiếng đó. Khu vực nghĩa này có biến đổi và được bổ sung dần dần nhờ lời nói. Tuy nhiên, nó vẫn lạc hậu so với nhu cầu thực tiễn và nhận thức. Lời nói giúp cho khả năng nhận thức của con người nói tiếng khác nhau được ngang nhau, nó khắc phục những hạn chế trong cách biểu hiện các ý nghĩ do khu vực nghĩa đã được cố định trong hệ thống ngôn ngữ gây ra. Ngôn ngữ học có nhiệm vụ chỉ ra những cách khắc phục riêng của từng ngôn ngữ đối với những khác biệt về nghĩa so với ngôn ngữ khác và cách khắc phục sự hạn chế về nghĩa của hệ thống ngôn ngữ ấy trong lời nói. Các hệ thống ngôn ngữ vốn có những bất đồng về nghĩa, những khác biệt nhất định trong cách biểu hiện hiện thực. Nhưng chính nhờ lời nói mà những bất đồng này bị gạt bỏ và nảy sinh những điều kiện để hình thành nên bức tranh thế giới thống nhất, đa diện, phù hợp với trình độ của thực tiễn hiện nay và của tri thức khoa học hiện đại. Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng bất cứ một sự tình nào đều có thể diễn đạt đúng như nhau trong tất cả các ngôn ngữ bằng những câu có ý nghĩa biểu hiện hoàn toàn giống nhau, tuy những câu đó đối khi có thể khác nhau ở những phần khác của ý nghĩa. Mọi thứ đều có thể biểu hiện bằng ngôn ngữ cho dù cấu trúc của ngôn ngữ này sẽ có nhiều thuận lợi cho thông báo này nhưng lại thật bất tiện cho ngôn ngữ khác. Bất kể thứ gì có thể được nói trong ngôn ngữ này thì cũng có thể nói được trong bất kì ngôn ngữ nào khác.

Việc phân tích các thuật ngữ họ hàng thân thích có vai trò quan trọng đối với tính phổ quát và tính dịch thuật. Lounsbury tiếp cận vấn đề này xuất phát từ 4 quan điểm:

a) Quan niệm rằng cốt lõi của vấn đề thuật ngữ họ hàng chỉ có thể tìm kiếm ở các mối quan hệ huyết thống của các gia đình hạt nhân;

b) Thói quen áp đặt rằng các miêu tả ngữ nghĩa giống như một con tính, nghĩa là theo quan niệm logic;

c) Niềm tin của Chomsky vào những quy luật trừu tượng sâu xa quy định các hình thức hành vi bên ngoài;

d) Việc loại bỏ những điều không phù hợp với hoặc a hoặc b bằng cách đưa ra những ý niệm ngôn ngữ về khái niệm mở rộng tương đồng.

Nếu như Lounsbury đúng và nếu các thuật ngữ trong cội nguồn của nó được dựa trên cơ sở của phổ quát chức năng thuần tuý sinh học thì vấn đề đa dạng liên văn hoá của hệ thống thuật ngữ này chỉ mang tính bề mặt một cách tương đối giống như là sự mở rộng một cái gì đó tương tự từ một cái chung chung được gọi là ý nghĩa cốt lõi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Carroll, J. B. 1956, Language, Thought and Reality: Selected Writings of Benjamin Lee Whorf, Cambridge, MA, MIT Press.

[2] Lưu Nhuận Thanh 2004, Các trường phái ngôn ngữ học phương Tây (Đào Hà Ninh dịch), NXB Lao Động, Hà Nội.

[3] Lyons, J. 1996, Nhập môn ngôn ngữ học lí thuyết (Vương Hữu Lễ dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội.

[4] Mandelbaum, D.G. (1949), Selected Writings of Edward Sapir in Language, Culture and Personality, Berkeley and Los Angeles, University of California Press, and London, Cambridge University Press.

[5] Robins 2003, Lược sử ngôn ngữ học (Hoàng Văn Vân dịch), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

[6] Sapir, E. 1949, Language. An Introduction to study of Speech, New York Harcourt, Brace World.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 5 (19), 9-2012.

 

 

Bài đăng trước:

  • THỜI và THỂ trong tiếng Việt: nhìn từ hai phía NGỮ PHÁP và TÌNH THÁI
  • Thắt lưng buộc bụng
  • Ngôn từ qua khẩu văn Nguyễn Quang Lập
  • “Cấm không được xả rác” là “cấm xả rác”
  • Dạy chữ Hán hay dạy từ Hán-Việt?