Ngôn ngữ học

THỜI và THỂ trong tiếng Việt: nhìn từ hai phía NGỮ PHÁP và TÌNH THÁI
     

GS. TS. ĐINH VĂN ĐỨC

SUMMARY
In this article, the author, in a general way, regards thời - thể in the Vietnamese language as an integrated relationship, a semi-functional category operating within a grammatical – modal frame of predicates, which are broader than verbal words. The semantics of predicates is the interactive combination of the two Modal + Grammatical aspects. The modality here is the subjective one, in which the native’s look is very important. Tense – Voise, in this way, will not only lie in the language structure itself but even relate to its user as well.

TÓM TẮT

Cho đến nay, Việt ngữ học tồn tại nhiều nhận thức khác nhau quanh triết língữ pháp về thời thể. Đa phần đều thiên về phân tích ngữ pháp. Thời và thể tiếng Việt, trong thực tế, không chỉ gắn với phương diện ngữ pháp của động từ vị ngữ mà còn gắn chặt với cả cái khung tình thái của vị ngữ. Như thế, trong tiếng Việt, quan hệ thời - thể không phải là một loại quan hệ ngữ pháp thuần tuý. Thay vì điều đó, thời - thể được tích hợp như một quan hệ ngữ pháp - tình thái. Trong bài viết này, một cách tổng quát, tác giả coi thời - thể trong tiếng Việt làmột quan hệ lồng ghép, một phạm trù nửa chức năng hoạt động trong một cái khung ngữ pháp - tình thái của vị ngữ, rộng hơn từ loại động từ. Ngữ nghĩa của vị ngữ là sự kết hợp hợp tương liên của hai khía cạnh Tình thái + Ngữ pháp. Tình thái ở đây là tình thái chủ quan, trong đó cái nhìn của người bản ngữ là rất quan trọng. Thời - thể, như vậy, không chỉ nằm trong bản thân kết cấu ngôn ngữ mà còn liên quan cả với người sử dụng nó nữa.

1. Dẫn nhập

1.1. Trong một thời gian, sau khi thoát ra khỏi cái khung mô tả ngữ pháp tiếng Việt theo lối nhìn của châu Âu, các nhà Việt ngữ học cho rằng phải có cách cư xử khác đối với tiếng Việt. Những tư tưởng mới lần lượt xuất hiện: Trước hết tiếng Việt, từ đầu thập kỉ sáu mươi, được nhận định là một ngôn ngữ đơn lập phân tiết tính / âm tiết tính. Nguyễn Tài Cẩn, Thompson, Cao Xuân Hạo và một số đại diện của Việt ngữ học Xô viết đã đi tiên phong trong nhận thức này [1]. Vài mươi năm nay, khi líluận ngữ pháp chức năng tiếp cận với tiếng Việt, một nhà ngữ học Na Uy, Divyk H. J. J. (1984), sau đó là Cao Xuân Hạo(1991), và những người khác đã coi tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề, lấy cấu trúc Đề - Thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản. [3]

1.2. Qua khảo sát các từ loại tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy rằng, khái niệm “ngôn ngữ thiên chủ đề” [3] là đúng nhưng dường như chưa đủ. Chỉ riêng với từ loại thôi, các khía cạnh chức năng của nó đã cho thấy ngữ pháp tiếng Việt có một đặc trưng rộng hơn thế. Đặc trưng ấy thể hiện ở chỗ người nói luôn luôn tham gia rất sâu vào việc điều chỉnh các quan hệ giao tiếp bằng ý thức chủ quan của mình trong sử dụng lời nói. Chúng tôi thiết nghĩ nên gọi nó là “tính thiên dụng pháp” cho ngôn ngữ này.

2. Về ý nghĩa Thời – Thể và lối biểu đạt ý nghĩa Thời-Thể

2.1. Cho đến nay, Việt ngữ học tồn tại nhiều nhận thức khác nhau quanh triết língữ pháp về thời thể. Đa phần đều thiên về phân tích ngữ pháp. Trên đại thể có mấy nhận thức:

+ Coi thời là một phổ niệm ngữ pháp cho động từ với ý nghĩ đã là ngôn ngữ thì ngôn ngữ nào cũng như ngôn ngữ nào, động từ nhất thiết phải có các “thì”;

+ Thời tiềm tàng ở động từ tiếng Việt, phản ánh các quy chiếu có tính logic trong ngữ năng của người Việt;

+ Thờithể của động từ lồng ghép với nhau trong biểu đạt vị ngữ tiếng Việt;

+ Trong tiếng Việt, không có thời, chỉ có thể.

Tuy nhiên, gần đây dựa vào thành quả của việc nghiên cứu ngữ pháp chức năng và từ vựng - ngữ pháp lịch sử tiếng Việt thì có thể nhận ra một điều: Thì và Thể trong tiếng Việt, theo đó, có khả năng rộng hơn những gì chúng ta đã nghĩ. Bởi vì, Thời và thể tiếng Việt, trong thực tế, không chỉ gắn với phương diện ngữ pháp của động từ vị ngữ mà còn gắn chặt với cả cái khung tình thái của vị ngữ . Thời, theo đó, còn là một khía cạnh ngữ thái thường trực của những từ loại (không chỉ riêng động từ) xuất hiện trong chức năng vị ngữ, và là công cụ hữu ích trong biểu nghĩa, diễn đạt sự tình và các quan hệ thực tại hóa câu. Như thế, trong tiếng Việt, quan hệ thời - thể không phải là một loại quan hệ ngữ pháp thuần tuý. Thay vì điều đó, thời - thể được tích hợp như một quan hệ ngữ pháp - tình thái. Thì và Thể, không chỉ xuất hiện với riêng động từ vị ngữ mà với tất cả những gì được dùng làm vị ngữ (xin tạm gọi là những ẩn dụ ngữ pháp [4] của vị ngữ).

2.2. Ngữ pháp truyền thống có líkhi cho rằng cấu trúc mệnh đề ngôn ngữ (chủ yếu trên chất liệu biến tố) gồm có chủ ngữ (subject) và động từ (verbe). Trong kiến thức nhập môn vào ngữ pháp học, người ta thường nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm thời gian (time) có tính triết học và thời ngữ pháp của từ loại động từ (cũng gọi là thì - tense).

Thời gian(time) là hình thức mà ở đó vật chật tồn tại trong sự vận động. Mọi vận động đều diễn ra trong thời gian, theo đó, có đặc trưng tuyến tính. Động từ là từ loại biểu đạt đặc trưng vận động của mọi thực thể (những gì được biểu đạt bằng danh từ). Bởi vậy, một ý nghĩa ngữ pháp tất yếu, thường xuyên kèm theo từ loại này phải là ý nghĩa về thời. Thời, một mặt là thuộc tính ngữ pháp của động từ, một mặt khác, nhờ nó (thời) giúp cho động từ hiện thực hoá sự tình của phát ngôn. Thời, như vậy, tự nhiên trở thành một biểu hiện rất quan trọng của vị ngữ. Từ chỗ đó, động từ trở thành “cái nút nghĩa của câu” (L. Tesnière) không chỉ về từ vựng mà cả ngữ pháp, các quan hệ kết học, nghĩa học, dụng học hoà vào một dòng chung của không gian vị ngữ.

Thời tuy là một ý nghĩa ngữ pháp tất yếu của sự tình, nhưng các biểu đạt trên phương diện ngữ pháp thì lại khác nhau theo cách thức phản ánh khác nhau của người bản ngữ và cũng do chất liệu của loại hình ngôn ngữ. Trong khái niệm Thời có sự thống nhất giữa nội dung (thực tại) của vận động và cái nhìn (chủ quan) của người bản ngữ.

Một mặt, trong các ngôn ngữ biến tố, thời của động từ diễn đạt bằng hệ thống dạng thức đối lập hình thái học mà ta gọi là phạm trù ngữ pháp với các “thì” (tense). Nó độc lập và tương liên với một phạm trù ngữ pháp khác là thể. Sự phối hợp thì và thể qua các dạng thức ngữ pháp cho thấy những chiết khúc đa diện của ngữ pháp trong dụng ngôn nhằm thực tại hóa nội dung các phát ngôn.

Mặt khác, Thời được thiết lập bằng các quy chiếu (bản ngữ) vào các hình thái vận động thể hiện trong động từ và các ẩn dụ ngữ pháp (thuộc tính từ, danh từ,… tiếng Việt) ứng với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nào đó được người nói đề cập tới trong phát ngôn. Vì mỗi một vận động được coi như một diễn trình (diễn ra theo thời gian, có đặc trưng tuyến tính) cho nên ý nghĩa thời luôn luôn ở trong mối tương liên với diễn tiến của chính vận động ấy, đó là Thể (aspect).

Sự phối hợp “thì” và “thể” vô cùng phức tạp và tinh tế trong mỗi ngôn ngữ và chỉ người bản ngữ mới cảm nhận hết các khía cạnh của nó trong khi sử dụng. Sự hợp thì (concordance de temps) trong ngữ pháp tiếng Pháp thường được coi như một ví dụ tiêu biểu do mối liên hệ này (trong điều kiện động từ có hệ thống hình thái).

Động từ tiếng Việt không có thì ngữ pháp còn quan hệ thời trong tiếng ngôn ngữ này được biểu đạt tương đối tự do với sự giúp đỡ của các phương tiện nửa từ vựng [5]. Trong tiếng Việt, thời được gắn với nghĩa “tình thái” của câu chứ không chỉ đơn thuần với động từ vị ngữ. Khi nói, người Việt rất quan tâm đến khả năng và thời điểm xuất hiện của cái sự tình trong phát ngôn nhiều hơn là xác lập một quan hệ vị ngữ tính. Nghĩa là, ở đây, thời có vẻ như là một đặc trưng tình thái của sự tình, gắn với thuyết ngữ của câu nhiều hơn.

Những liên hệ chức năng nào có mặt trong ý nghĩa Thời - Thể của vị ngữ tiếng Việt.

Hầu hết các ngôn ngữ châu Âu, Thì và Thể là những phạm trù ngữ pháp thuần tuý, bắt buộc, đặc trưng cho từ loại động từ. Các khía cạnh ngữ pháp đối lập ở động từ được biểu đạt bởi một hệ thống các dạng thức đối lập có tính hình thái học. Khác với động từ nguyên mẫu (động từ ở dạng từ điển), ta gọi các động từ được “chia” là động từ có dạng nhân xưng, tức là đã được thực tại hoá. Thì Thể chỉ có trong hoạt động ngữ pháp của động từ, nghĩa là trong khi động từ tham gia vào truyền đạt một nhận định. Nếu xét theo cái nghĩa như thế, thì tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, tất không có phạm trù ngữ pháp (Thì, Thể).

Tuy nhiên, điều đó không cản trở việc xem xét vấn đề thời thể trong ngôn ngữ này. Xét trong mối quan hệ giữa ngữ pháp và tư duy, ý nghĩa Thời và Thể là loại ý nghĩa phổ quát (chỉ ra các hình thái của vận động). Thờithể gắn bó với nhau trong biểu đạt diễn tiến của các sự tình. Theo đó, mỗi sự tình hiện diện trong vị ngữ (làm cơ sở cho một nhận định) đều có đặc trưng diễn tiến. Tính nối tiếp (trên trục thời gian) khiến mỗi sự tình ứng với một thời điểm phát ngôn nhất định, và diễn ra như một tiến trình.

Thời và Thể, là một hiện tượng thuộc về ngữ pháp phổ quát (universal grammar) của N. Chomsky [6], còn việc nó hiện diện như thế nào trong các ngôn ngữ cụ thể (là một phạm trù ngữ pháp hay từ vựng - ngữ pháp) thì thuộc về ngữ pháp đặc thù (particular grammar) nghĩa là nó được “nội địa hoá” theo từng ngôn ngữ. Khi ở cấu trúc sâu, thời và thể có các biểu đạt tương ứng ở cấu trúc bề mặt.

Thời thể ở các động từ vị ngữ trong tiếng Việt được người bản ngữ cảm nhận theo lối phi cấu trúc. Các từ phụ của động từ không chỉ biểu đạt khía cạnh ngữ pháp mà còn bao hàm cái nhìn chủ quan của người nói trong đối chiếu nội dung phát ngôn với thực tại. Điều đó khiến quan hệ Thời - Thể thiên về cũng thiên về khiá cạnh tình thái, nó thể hiện mối liên hệ mật thiết với ý thức của người nói và với ngữ cảnh. Các biểu đạt Thời Thể ở đây, như thế, có cả tính dụng pháp. Ta thấy hầu như tất cả các từ phụ động từ (đã, sẽ, đang, từng, còn, chưa, vừa, mới,…) vừa được dùng như một loại chỉ tố ngữ pháp, đồng thời cũng là những tác tử tình thái [7]. Nhờ vào đó, các ngữ đoạn dễ có khả năng ”sự tình hoá” (vị ngữ hoá) để biến thành câu bất kể từ kết hợp với nó thuộc từ loại thực từ nào (động, tính, danh). Ví dụ:

- Tôi đã sống ở Hải Phòng hai năm (rồi).

- Mặc như thế đã đẹp (rồi).

- Nó ốm đã ba hôm nay (rồi).

Việc tiếng Việt dùng phương tiện “cận từ vựng” để biểu đạt Thời - Thể của vị ngữ là nét đặc sắc của ngôn ngữ này. Theo đó, mối quan hệ giữa Thời và Thể trong vị ngữ thường bị chi phối bởi ý thức của người nói (bản ngữ) và được giải trong ngữ cảnh. Như vậy, Thời Thể, từ chỗ là phạm trù ngữ pháp của động từ trong các ngôn ngữ biến tố, đến đây (tiếng Việt), đã trở thành một loại phạm trù nửa tình thái của vị ngữ.

Trên phương diện tri nhận, người bản ngữ châu Âu phân biệt rạch ròi các đối lập thời gian: hiện tại, quá khứ và tương lai trong tương quan với thời điểm phát ngôn. Mọi quy chiếu đều có tính phân loại. Người Việt không quan tâm nhiều đến điều này. Thời gian được phản ánh trong ý thức họ không cần thiết sự phân loại và đánh dấu ngữ pháp. Sự chú ý của người nói chỉ tập trung vào chỗ: Vào thời điểm nào (so với thời điểm phát ngôn) thì sự tình sẽ xuất hiện, và khi nào thì sự tình kết thúc. Chính vì vậy, với người tiếng Việt, trong số những câu hỏi chính danh thường dùng (để hỏi sự tình) thì câu hỏi với cấu trúc “đã... chưa?” được dùng phổ biến nhất (ví dụ: Đã ăn chưa ? Đã mở cửa chưa? Đã khoẻ chưa? Đã đẹp chưa? Đã về chưa?,…).

Trong tiếng Việt quan hệ thời - thể được tích hợp như một quan hệ ngữ pháp - tình thái.Thời và Thể đã bện các nét nghĩa với nhau trong một lối biểu đạt lồng ghép rất đặc biệt. Trong phát ngôn sau: “Đã đến giờ học rồi đấy, em vẫn còn ngồi xem tivi à?”, dường như cả người nói và người nghe không quan tâm đến “thời - thể” của động từ mà chỉ chú ý vào việc cái sự tình ngoại ngôn và lưu ý nó bằng một chuỗi tình thái liên quan đến thời và thể (đã… vẫn còn…). Người nghe, nhờ đó, có thể sẽ phản hồi trong trường hợp này bằng các phát ngôn lưỡng khả, chẳng hạn như: “Thôi chết, đã đến giờ rồi cơ à?”, hay ngược lại “Còn sớm mà chị”. Trong phát ngôn trên Thời và Thể động từ dường như là thứ cấp. Nó được hiểu qua một khung tình thái. Như vậy, Thời Thể đều được tự do hoá khác với ngôn ngữ châu Âu. Các chỉ tố Thể tăng cường chỉ ra khả năng xuất hiện của sự tình. Nó tăng cường ngôn trung qua các điều kiện của hành động tại lời, do vậy xa gần liên quan đến Ngữ cảnh.

Trong tiếng Việt, các từ phụ động từ (đã, chưa, còn, đang,…) có tác dụng trong việc mở rộng các liên hệ tình thái cho Thể của vị ngữ (có khác so với những chỉ tố như xongrồi). Từ nhận xét trên có thể thấy: Thời và Thể tiếng Việt, nhờ vào khung tình thái, cho nên dường như nó có một không gian rộng hơn hoạt động của từ loại động từ. Khi Thời, thể thiên về chức năng, nghĩa là các từ phụ cũng chỉ tình thái, thì nó tự do hơn và có khả năng di chuyển sang các kết cấu vị ngữ khác (vị ngữ là tính từ, danh từ, đại từ). Điều này cho phép giải thích vì sao trong tiếng Việt một tính ngữ, một danh ngữ, thậm chí một giới ngữ cũng có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu với các từ phụ vốn có của kết cấu động từ: Mùa thu nay đang rất đẹp, Đứa con dâu cả cũng người Huế, Anh ấy đã ba mươi tuổi, Mái nhà lá xưa vẫn cạnh đường,... Chúng là những vị ngữ phi động từ (ẩn dụ ngữ pháp) nhờ các liên hệ tình thái mà vẫn có được ý nghĩa thờithể.

3. Cách nhìn Thời và Thể gồm cả liên hệ chức năng (tình thái) khiến cho biên độ của “Thời” tiếng Việt khá tự do trong biểu đạt. “Sự đãng trí” của người bản ngữ đối với “thời” thể hiện một lối tư duy khác. Không giống như phạm trù ngữ pháp “thì” của động từ trong ngôn ngữ biến tố, nơi mà người nói phân biệt rạch ròi (quá khứ / hiện tại / tương lai) thì khác, trong tư duy người Việt, người ta hình dung “thời” qua một đánh giá tổng quan về cái sự tình theo một cảm nhận “đã… chưa?” (chứ không nhằm đích danh vào cái hành động / tiến trình cụ thể của hạt nhân vị ngữ). Theo đó, quá khứ được hiểu là “cái gì đó” trước khi sự tình xuất hiện. Nó thậm chí có thể được đánh dấu bằng một thời vị từ nằm ngoài cụm vị ngữ. Khi ta nói “Hôm qua, trời mưa to” hay “Dạo trước, trời hạn hán” thì sự tình ở cả hai câu chỉ có chung một giá trị về “thời”. “Thời” trong“Thể” cho phép người Việt mở rộng biên độ từ vựng trong việc dùng các phương tiện biểu đạt (với một danh sách những từ phụ có hàm lượng từ vựng / ngữ pháp không đồng đều). Chỉ có ở ngôn ngữ đơn lập (phi hình thái tuyệt đối) người ta mới có thể nói những câu kiểu như: “Chúng ta đã, đang sẽlàm tốt việc này”. Với việc nhấn mạnh vào ngữ nghĩa và tình thái, Thời - Thể của động từ tiếng Việt xa lạ với cái tính bắt buộc trong các phạm trù ngữ pháp ngôn ngữ châu Âu. Trong phát ngôn:“Chiều nay, mình đi Thái Nguyên”, Thời - Thể dường như ngoại ngôn, sự tình thời liên hệ với nhau qua một biểu đạt từ vựng nhưng chúng ta vẫn có 2 trong 1. “Chiều nay” trong ngữ cảnh cụ thể, một mặt, đã chỉ ra cái thời điểm “sự tình sẽ xuất hiện” sau cái thời điểm nói (= tương lai) và một mặt khác: “cái sự tình ấy” vẫn còn chưa xuất hiện ở thời điểm nói (= vị hoàn thành, nhưng có phần xác định).

Theo cách hiểu đó, thời của động từ tiếng Việt sẽ có kiểu kết trị di động. Ngoại trừ những lối diễn đạt thuần tuý từ vựng như: hôm nay, ngày mai, vừa qua, rồi thì,... hoặc dựa vào ngữ cảnh,… Quan hệ thời còn có một vài lối diễn đạt tự do.

Giới Việt ngữ học xưa nay đã nói nhiều đến việc sử dụng các kết tố của động từ: đã, đang, sẽ, từng còn, vừa, mới,... Trong một thời gian dài, người ta đơn giản cho rằng chúng là những hư từ để chỉ thời (quá khứ, hiện tại, tương lai) như kiểu các biến tố hình thái học của động từ trong các ngôn ngữ châu Âu. Hậu kì, các tác giả bắt đầu quan tâm đến nét nghĩa khác của chúng và tách dần các ý nghĩa đó để miêu tả (xin xem, chẳng hạn, các công trình của N. V. Stankevich, S. Bystrov, A. Glazova, L. Thompson, V. Panfilov, Đinh Văn Đức, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Đức Dân, Đoàn Việt Hà, Trần Kim Phượng...[8]). Cũng lại có ý kiến “tả” hơn khi cho rằng: đã, sẽ, đang… không có quy chiếu nào về thời gian cả mà chúng chỉ là những vị từ tình thái [9].

Vấn đề là ở chỗ, như đã nói, người bản ngữ tiếng Việt cảm nhận thời từ ngữ nghĩa của phát ngôn nhiều hơn từ kết cấu câu. Các từ đã, sẽ, đang, một mặt tham gia vào biểu đạt tình thái của cả câu, một mặt khác giữ được mối liên hệ chặt với ý nghĩa thời và thể của khung vị ngữ.

4. Như đã nói, khác với lối diễn đạt của các ngôn ngữ châu Âu, người Việt không quan tâm lắm đến việc quy chiếu hành động với thời điểm phát ngôn, mà để ý nhiều hơn đến sự xuất hiện và kết thúc của các sự tình và diễn tiến của các vận động, ý niệm thời (của động từ vị ngữ) gắn chặt với ý nghĩa thì. Trong ngữ pháp, ở đây, thời làm rõ cho thể, khiến người ta dễ nhận diện thể hơn. Đó là lí do vì sao người Việt luôn sử dụng cấu trúc hỏi “đã...chưa?” trong hội thoại, khi hỏi về các sự tình.

Nói một cách khái quát, người Việt tri nhận về thời thiên về nhận xét, miêu tả hơn là đánh dấu (sự tình). Vì lẽ đó, các hình thái ngữ pháp của động từ biến tố, trong tiếng Việt, được thay thế bằng những phương tiện nửa từ vựng và gắn động từ hoặc với cái khung tình thái của cả vị ngữ trong câu.

Việc tìm hiểu ý niệm vềthể, do đó, khá phức tạp trong điều kiện của ngôn ngữ này. Nó không chỉ phụ thuộc vào cách thức quan sát “dạng vận động” của người nói mà kết trị còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm các tiểu loại trong nội bộ từ loại động từ (hình thế cú pháp: конфигурация, thuật ngữ của A. Kholodovich,1960). Có thể nhắc tới từ đã như một chỉ tố thời - thể tiêu biểu qua mấy ví dụ sau:

1. Tôi đã xem phim này.

2. Đừng ồn, cháu nó đã ngủ.

3. Tôi thấy nó đã ở nhà.

Xưa nay, các nhà nghiên cứu thường nhận xét rằng, trong câu (1), đã chỉ một hành động xảy ra trong quá khứ và đã kết thúc, trong câu (2), đã chỉ một hành động bắt đầu trong quá khứ và có thể còn kéo dài đến hiện tại, trong câu (3), đã chỉ sự xuất hiện trong quá khứ nhưng tồn tại trong hiện tại. Kì thật, trong cả ba trường hợp này (và nhiều trường hợp khác nữa) đã chỉ có một mối liên hệ với thời là ở chỗ nó ứng với cái thời điểm xuất hiện của sự tình ở trước cái thời điểm phát ngôn. Ngữ nghĩa của đã, trong những trường hợp này, không nhằm vào mô tả diễn tiến của các hành động. Đặc trưng về diễn tiến nằm ngay trong nghĩa của từng nhóm động từ, thậm chí của từng động từ cụ thể (động từ xem khác với ngủ khác với ). Một khi kết hợp với động từ, chỉ tố đã cùng với động từ tạo ra một kiểu kết trị trong đó thời và thể hoà kết với nhau. Đây là một quan hệ chứ không phải một nét nghĩa.

Còn khi nói về đã trong các ví dụ:

+ Ngày mai đã chủ nhật rồi.

+ Đã viết tiểu thuyết lại còn làm thơ.

+ Xa Hà Nội thế mà đã năm năm.

+ Vừa mới nghỉ hè, thoáng một cái lại đã khai giảng.

Ở đây, thay vì liên hệ ngữ pháp về thời, đã được dùng chủ yếu như một phương tiện tình thái (nhấn mạnh). Cũng tương tự như vậy, đangsẽ xuất hiện trong cả hai ý nghĩa. Hãy so sánh hai trường hợp a và b:

[a]

+ Xin lỗi, tôi đang họp, hẹn anh chiều mai nhé!

+ Anh đừng băn khoăn, tôi sẽ tới thăm anh.

[b]

+ Đang giữa trưa hè, không một ngọn gió.

+ Cái áo này chắc chắn sẽ không dưới ba trăm ngàn.

Người Việt, trong khi dùng các phương tiện nửa từ vựng (gồm một danh sách dài các từ chỉ thời gian có vị trí cơ động trong câu) để gợi ra ý niệm về thời, đã làm tản ý nghĩa thời vốn tập trung ở động từ, tạo ra cho chúng cái khả năng tình thái hoá. Khi được dùng với ý nghĩa tình thái, chúng có thể được lược bỏ mà không ảnh hưởng tới ngôn liệu (dictum) của câu.

Ngoài những từ đã được nhắc đến, kết trị của động từ tiếng Việt còn có ở một nhóm kết tố khác cũng chỉ thời - thể: còn, chưa, vừa, mới, từng, xong, rồi, vẫn, nữa,...

Khi ta nói:

+ Tôi từng làm việc ở Mạo Khê.

+ Nó còn ăn nữa.

+ Tôi chưa thi môn này.

+ Nó vừa ra khỏi nhà.

Tuy mỗi phát ngôn đều có liên hệ thời, trong đó các sự tình thường được quy chiếu với thời điểm phát ngôn nghĩa là nó cho ta biết cái sự tình ấy xuất hiện ở mô-men nào, thế nhưng mối liên hệ này chỉ được nhận ra cùng với khía cạnh th. Ở đây thời cũng là dùng cho thể. Nói khác đi, thời trong khi vẫn là đặc trưng tình thái cho động từ thì giá trị ngữ pháp vẫn tồn tại cùng lúc với thể. Trong tiếng Việt ý niệm thời, mang đầy sắc thái chủ quan thể hiện qua các biểu đạt tình thái, và có yếu tố con người tham gia vào phát ngôn, tức là dụng pháp vậy

Cũng cần nói thêm về Thể nhân nói đến thời của vị ngữ tiếng Việt.

Thuật ngữ thể ở đây cũng chỉ nên hiểu một cách ước lệ.

Cũng như Thời, Thể (aspect) vốn là một khái niệm ngữ pháp hình thái học của động từ các ngôn ngữ Ấn - Âu. Trong ngôn ngữ Xlavơ, động từ biến hình để diễn đạt đối lập ngữ pháp gọi là “thể hoàn thành” và “thể vị hoàn thành”, ví dụ: trong tiếng Nga, động từ читать (đọc) có hai dạng thức ngữ pháp đối lập ở thì quá khứ:

a. Я читал эту книгу.

b. Я прочитал эту книгу.

Dạng thức (a) không bao hàm nhận định rằng hành động có được hoàn tất hay không, còn dạng thức thứ hai, thì ngược lại, đã xác nhận rằng hành động ấy đã được hoàn tất.

Có ngôn ngữ như tiếng Hi Lạp, ngoài đối lập “hoàn thành - vị hoàn thành” còn có một thế đối lập tương liên khác đồng thời với cả hai khía cạnh nói trên (tại một số vị trí cú pháp nhất định) gọi là “bất định” (indefinitive).

Nhờ việc đánh dấu bằng các dạng thức thức đối lập, thể trong các ngôn ngữ biến tố là phạm trù ngữ pháp thuần tuý. Nó có quan hệ rất chặt với hai phạm trù khác là thờithức (mood). Trong tiếng Việt, động từ không có phạm trù thể vì vắng mặt những dạng thức ngữ pháp đối lập kiểu nói trên. Thay vào đó ý nghĩa “diến tiến” của các hình thái vận động được diễn đạt bằng kết trị từ vựng - ngữ pháp và các phương thức phụ trợ.

Từ lối nhìn hình thái học, xưa nay,người ta hay coi thể như một loại ý nghĩa ngữ pháp kèm theo động từ, thuộc các liên hệ bên ngoài của động từ một khi động từ dụng ngôn trong câu. Tuy nhiên, nếu xét về bề sâu, thể là khía cạnh nằm ngay trong bản thân ý nghĩa của động từ vị ngữ, và có thể là tất cả những gì được hiểu là có vận động (ví dụ: “Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời”).

Trong các ngôn ngữ nói chung, về mặt nghĩa, đối lập quan trọng nhất trong nội bộ động từ là giữa động từ hành động và động từ trạng thái.

Đối lập này thể hiện ở kết trị của các động từ (với châu Âu là quan hệ chi phối/ chế ước, với ngôn ngữ phi hình thái là các “hình thế cú pháp” (конфигурация) trong đó tập hợp một mạng lưới các quan hệ, thể hiện khả năng kết hợp của động từ và sự biến thiên các kết hợp của chúng. Lí luận sau có khả năng thích ứng với tiếng Việt.

Một vài nhà nghiên cứu chức năng luận tiếng Việt gần đây rất quan tâm đến sự đối lập giữa hành độngtrạng thái. Khái niệm thứ nhất ứng với các động từ thể hiện “diễn tiến ngắn”, sự tình chỉ diễn ra trong khoảng khắc (trên trục thời gian). Khái niệm thứ hai ứng với các động từ có “diễn tiến dài” mô tả các sự tình được duy trì như một thời đoạn theo cảm nhận bản ngữ. [10]

Các động từ tiếng Việt, ngoài sự khác biệt rạch ròi của các lớp kiểu như: ngã, rơi, nổ,...ngủ, chờ, ốm... có rất nhiều động từ khác dao động giữa hai loại diễn tiến này. Tuy nhiên, trong khi mô tả ý nghĩa thể của động từ, không nên đánh đồng hai phương diện: tính tiềm tàng chỉ diễn tiến của mỗi động từ với hoạt động cụ thể của động từ để chỉ sự tình của câu. Cái thứ hai chính là nội dung ý niệm thể xưa nay quen dùng trong tiếng Việt.

Trong ngôn ngữ này, khả năng diễn đạt thể bằng con đường từ vựng là nhiều và rất đa dạng. Khi nói:

+ Tôi đợitừ tối đến giờ.

+ Nó sốt li bì.

+ Cô ta đảo qua nhà thoáng một cái.

đều có hàm ý mô tả cái “diễn tiến” của vận động, gắn nó với việc mô tả sự tình, thêm vào đó, các sắc thái của các kiểu tình thái đã tăng hiệu lực cho mỗi phát ngôn.

Danh sách các kết tố liên quan đến thể tăng giảm tuỳ theo cách nhìn của từng tác giả, đại thể trung tâm của nhóm này gồm các từ: còn, chưa, vừa, mới, xong, rồi, vẫn, cứ, mãi, từng,... mô tả chi tiết về cách dùng của các từ này đã được nhiều tác giả nói đến. Ở đây chúng ta sẽ nói thêm một vài khía cạnh về kết trị do chúng tạo ra khi đi với động từ. Thứ nhất là sự tương quan với thời, thứ hai là khả năng tình thái hoá trong biểu đạt sự tình.

Liên hệ Thời - Thể là liên hệ khá phức tạp, nhưng trong tiếng Việt, Thể là kết trị có nổi trội hơn. Như đã nói, người bản ngữ tiếng Việt khi quan tâm đến sự tình của phát ngôn thường rất chú ý đến sự xuất hiện và diễn tiến của vận động, nghĩa là, chú ý đến cái sự tình với nghi vấn chưa hay đãi, điều này còn quan trọng hơn là xecái hoạt động đó thuộc về quá khứ hay tương lai (nghĩa là thời). Theo đó, cấu trúc nghi vấn “đã... chưa?” được người nói sử dụng với tần số rất cao và nó không nhằm vào Thời mà nhắm vào Thể. Trong trường hợp cần trả lời cho câu hỏi: Cháu đã ăn cơm chưa?, người ta thường thích nói Dạ, rồi ạ nhiều hơn là Dạ, đã ạ mặc dù đãrồi, ở đây, về mặt tình thái cách dùng khá gần nhau, nhưng “rồi” diễn đạt cái thể có rõ hơn.

Với đặc trưng: “Thể trong Thời nh­ưng lấn Thời”, dùng thể để biểu đạt cùng lúc cho cả thời (2 trong 1) là một đặc trưng lớn cña quan hệ thời - thể tiếng Việt.

Trong các ngôn ngữ biến tố, như tiếng Nga, Thể là một hệ thống giá trị ngữ pháp độc lập (hoàn thành và vÞ hoàn thành), trong đó, người bản ngữ hướng về một cái “khung” ngữ pháp riêng cho diễn tiến của các hoạt động. Nó đặc trưng cho vận động tính của cả một từ loại, chứ không phải cho từng tiểu loại trong động từ.

Tuy nhiên, do sự vắng mặt phạm trù ngữpháp thể, động từ tiếng Việt sẽ có đặc trưng riêng khi ta biết chúng thuộc về tiểu loại này hay tiểu loại khác bởi vì thể sẽ có những nét khu biệt qua từng tiểu loại. Chẳng hạn, nếu lấy từ xong làm một chỉ tố cụ thể thể thì nhãm động từ hành động (có chủ thể) dễ kết hợp với xong hơn các động từ chỉ trạng thái hoặc cảm nghĩ nói năng.

Gần đây thôi, một vài tác giả khi bàn đến chức năng ngữ pháp của các từ phụ: đã, từng, đang, sẽ, còn, chưa, mới, rồi... có ý coi chúng như những vị từ tình thái [11] đứng làm trung tâm động ngữ và sau nó là các bổ ngữ. Đó có thể là kết quả của một lối nhận thức khác. Khi bàn về kết cấu danh ngữ tiếng Việt, chúng tôi đã có lưu ý: Trong cái tổ hợp “loại từ + danh từ” thì danh từ mới là cái yếu tố ngữ pháp quyết định ( có dùng hay không dùng, còn nếu dùng thì dùng loại từ nào?). Phải có danh từ thì mới có nhu cầu dùng loại từ (phân suất dạng thức và đánh dấu cá thể sự vật). Ở đây cũng như vậy, các từ đã, đang, còn, chưa,... là các từ phụ cho động từ. Không có động từ, chúng không có lído tồn tại. Chúng chỉ ra các khía cạnh ngữ pháp và tình thai của động từ (ở trong câu). Phụ từ hoạt động trong một cái khung tình thái của vị ngữ, do đó về một phương diện nào đó, chúng giống như từ tình thái. Nhưng ngay những dấu hiệu tình thái cũng không thể làm mất đi ở chúng các nét nghĩa ngữ pháp có ở chính các từ này. Trong phát ngôn, chúng chỉ xuất hiện khi nào có động từ rộng hơn là vị từ) cần đến chúng. Bản thân các từ này không biểu đạt cốt lõi của mệnh đề (tức là nội dung sự tình), cũng có nghĩa là chúng không thể độc lập thực hiện được một nhận xét nào cả.

Từ các phân tích trên cũng cho thấy các phụ từ không chỉ là chỉ tố ngữ pháp mà còn là chỉ tố tình thái để tăng cường ngôn trung cho cả vị ngữ. Mà không gian vị ngữ thì luôn rộng hơn động từ. Một khi nhấn vào nghĩa tình thái thì chúng có thể rời khỏi cấu trúc động ngữ để xuất hiện trong các cấu trúc khác, chẳng hạn, trước danh ngữ (nó/ đã ba mươi tuổi, bây giờ/ đang vụ mùa, vùng này/ vẫn ngày hai bữa khoai,...). Lúc đó, chúng góp thêm tình thái cho cả phát ngôn chứ không cho riêng động từ nào cả. Tuy nhiên, trong cái khung vị ngữ thì các tiêu chí thời - thể bất luận trong trường hợp nào cũng rất quan trọng vì nhờ nó mà câu được thực tại hoá. Cái khung tình thái suy cho cùng cũng xuất phát từ bản chất ngữ pháp - ngữ nghĩa của trung tâm vị ngữ (do động từ, tính từ hay danh từ đảm nhận). Trung tâm vị ngữ điều chỉnh mọi hoạt động ngữ pháp ở trong câu. Tình thái là một thứ giá trị chung và tất yếu của vị ngữ.

5. Nói tóm lại, thiết nghĩ một cách tổng quát, có thể coi Thời - Thể trong tiếng Việt làmột quan hệ lồng ghép, một phạm trù nửa chức năng hoạt động trong một cái khung ngữ pháp-tình thái của vị ngữ, rộng hơn từ loại động từ. Ngữ nghĩa của vị ngữ là sự kết hợp hợp tương liên của hai khía cạnh Tình thái + Ngữ pháp. Tình thái ở đây là tình thái chủ quan, trong đó cái nhìn của người bản ngữ là rất quan trọng. Thời - Thể, như vậy, không chỉ nằm trong bản thân kết cấu ngôn ngữ mà còn liên quan cả với người sử dụng nó nữa.

Thực ra, chúng tôi còn muốn phân tích sâu hơn nữa mối quan hệ giữa hai bình diện tình thái và ngữ pháp hiện hữu trong các biểu đạt thời và thể tiếng Việt, nhưng do tính chất phức tạp của vấn đề này nên sẽ tìm cách giới thiệu thêm trong một bài viết riêng khác.

CHÚ THÍCH

[1] Xin xem:
+ Nguyễn Tài Cẩn 1975, Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, NXB Đại học & THCN, Hà Nội
+ L.Thompson 1965, A Vietnamese Grammar, Seatle: WUP + Cao Xuân Hạo 1991, Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, q.1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2] H. J. J. Divyk 1984, Subject or Topic in Vietnamese? Bergen: University of Bergen.

[3] Ch. N. Li & S. A. Thompson 1976. Subject and Topic: A New Tipology of Language, In: Li Ch.(ed), 457-489.

[4] Thuật ngữ của M. K. A. Halliday, trong Dẫn luận Ngữ pháp Chức năng 2004 (bản dịch của Hoàng Văn Vân), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[5] Theo: John Lyons 1998, Nhập môn Ngôn ngữ học lí thuyết, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[6] N. Chomsky, theo: Lưu Nhuận Thanh 2005, Các trường phái ngôn ngữ học phương Tây, NXB Lao Động, Hà Nội, tr. 347.

[7] + Đinh Văn Đức 2010, Các bài giảng về Từ pháp học tiếng Việt: Từ loại nhìn từ bình diện chức năng, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
+ Vũ Đức Nghiệu 2012, Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[8] Đây là ý kiến của những tác giả trong vài ba thập kỉ vừa qua

[9] Xin xem: Các tác giả như Cao Xuân Hạo và các cộng sự 2005, Nguyễn Thị Quy 1995,...

[10] Như trên, đã dẫn.

[11] Như trên, đã dẫn.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư. Số 5 (19), 9-2012.

 

 

Bài đăng trước:

  • Thắt lưng buộc bụng
  • Ngôn từ qua khẩu văn Nguyễn Quang Lập
  • “Cấm không được xả rác” là “cấm xả rác”
  • Dạy chữ Hán hay dạy từ Hán-Việt?
  • Tiếng Việt theo dòng thời gian