Ngôn ngữ học

Một số lỗi sinh viên Nhật thường hay mắc phải khi viết tiếng Việt
     

NGUYỄN MỸ CHÂU, YAMAMOTO RIE, SHIMIZU MASAAKI, TOMITA KENJI
ĐH Osaka, Nhật Bản

Trên cơ sở phân tích và lý giải nguyên nhân các lỗi sai trong 107 bài viết của sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư Bộ môn tiếng Việt - Khoa Ngoại ngữ trường đại học Osaka, chúng tôi muốn trình bày phương pháp khắc phục các lỗi sai này nhằm giúp sinh viên tránh được lỗi khi viết để có bài viết bằng tiếng Việt tốt hơn. Chúng tôi tập trung vào hai phạm vi chính: lỗi từ vựng và lỗi cấu trúc - biểu hiện.

Từ khoá: lỗi sai, lỗi từ vựng, lỗi cấu trúc biểu hiện

Phần mở đầu

Ngoài các khó khăn trong việc luyện tập phát âm tiếng Việt sao cho giống người Việt Nam thì chắc chắn là học viên người nước ngoài cũng có nhiều lúc khó tránh được lỗi sai khi nói và viết tiếng Việt. Chúng tôi nhận thấy rằng sinh viên người Nhật của Bộ môn tiếng Việt thường hay mắc phải một số lỗi cơ bản giống nhau.

Vì sao các lỗi sai cơ bản lại giống nhau? Chúng tôi nghĩ rằng có một sự đồng nhất nào đó trong tư duy ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của các sinh viên, đó là tiếng Nhật. Vì sao có các lỗi sai? Chúng tôi nghĩ rằng có sự khác nhau trong vốn từ vựng khi sử dụng, cách biểu hiện ngôn ngữ do tư duy và văn hoá khác nhau giữa Việt Nam và Nhật. Nếu người học được hướng dẫn để tránh những lỗi này thì chúng tôi hy vọng rằng họ có thể sử dụng tiếng Việt tốt hơn.

Phần nội dung

Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập và không biến hình. Tiếng Nhật thuộc ngôn ngữ chắp dính (agglutinative) và biến hình. Tiếng Việt có cấu trúc câu cơ bản là SVO, trong khi đó tiếng Nhật có cấu trúc câu cơ bản là SOV. Nhìn chung thì sự khác biệt về tính chất của hai ngôn ngữ này không mang lại nhiều khó khăn quá to lớn cho người học của hai nước nhưng sự khác biệt về cấu trúc câu và cách tư duy biểu hiện là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho người Nhật học tiếng Việt.

Tiếng Việt và tiếng Nhật cùng khối ngôn ngữ thuộc khu vực văn hoá chữ Hán. Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có khoảng hơn 70% từ vựng là những từ gốc Hán hoặc gốc chữ Hán, và tiếng Nhật cũng có một số từ gốc Hán gần tương đương như thế [7]. Như vậy, người Nhật Bản gặp thuận lợi khi học tiếng Việt, đặc biệt là khi gặp nhiều từ Hán-Việt và Hán-Nhật giống nhau cả về hình thức lẫn ý nghĩa. Ví dụ như:

Quan tâm     関心   カンシン       KANSHIN

Chính trị       政治   セイジ           SEIJI

Văn hoá       文化   ブンカ           BUNKA

Thế giới       世界   セカイ           SEKAI

Tuy nhiên, sự thuận lợi này đồng thời cũng là một khó khăn đối với người Nhật vì có những trường hợp nêu sử dụng nguyên nghĩa Hán-Việt hoặc Hán-Nhật thì không phù hợp do sắc thái nghĩa khác nhau hoặc ý nghĩa khác hẳn nhau và đôi khi gây buồn cười cho người đọc, người nghe. Vấn đề ở chỗ là đã từ lâu một số lớn từ vựng tiếng Hán-Việt trở nên cổ, không còn được sử dụng trong tiếng Việt hàng ngày nữa nhưng vẫn xuất hiện trong các từ điển Việt-Nhật, Nhật-Việt. Do đó có thể nói từ Hán-Việt hoặc Hán-Nhật là một sự thuận lợi ngọt ngào nhưng nguy hiểm cho học viên người Nhật. Ví dụ như người Nhật viết: |thanh xuân thời đại (青春時代)| thì đối với người Việt là cổ lỗ khó hiểu, phải viết là |thời thanh xuân| hoặc là |thời tuổi trẻ| thì dễ hiểu hơn. Ví dụ như từ |điều tra (調査)| của tiếng Nhật có nghĩa là “điều tra, thám hiểm, thăm dò [4], nghiên cứu, khảo sát” [5], nhưng trong tiếng Việt từ |điều tra| có nghĩa là “tìm hiểu, xét hỏi để biết rõ sự thật” [2][3][5], như trong cụm từ {điều tra tội phạm}{điều tra hình sự},, v.v... Rõ ràng là sắc thái nghĩa của các từ nói trên đã đổi khác. Hoặc nếu người Nhật viết là: |giao thiệp giá tiền (値段の交渉をする)| ý nói là “thương lượng” hoặc “cò kè trả giá tiền” thì đối với người Việt là dùng sai từ, vì trong tiếng Việt ngày nay |giao thiệp|[1]có nghĩa là “giao tiếp quan hệ xã hội với người nào đó” [2][3][6]. Tóm lại, việc lựa chọn đúng từ đúng ngữ cảnh và sắc thái là rất quan trọngữ

Bài viết này không đề cập đến chi tiết lỗi sai từ vựng về mặt chính tả như |ê| viết sai thành |e|, |ô| viết sai thành |o|, |-n| viết sai thành |-ng| như |mềm| thành |mèn|, |bóng đá| thành |bống đá|, |Hàn quốc| thành |Hàng quốc|... Qua quá trình tập trung dữ liệu từ các bài viết của người học là người Nhật Bản, trong khuôn kho bài viết này chúng tôi tập trung vào việc phân loại và phân tích các lỗi sai theo hai hướng: lỗi từ vựng và lỗi cấu trúc - biểu hiện.

Trong lỗi từ vựng (Nhóm 1), chúng tôi lại chia ra thành nhiều nhóm nhỏ hơn theo từng nhóm từ loại mà học viên hay bị sai như: lỗi động từ, lỗi danh từ - tính từ - trạng từ, lỗi từ nối liên từ, lỗi đại từ chỉ định - tính từ chỉ định, lỗi loại từ...

Trong lỗi cấu trúc - biểu hiện (Nhóm 2) chúng tôi chia ra nhiều nhóm nhỏ dựa theo tính chất của phạm vi sai như:

- Lỗi sai do nhẳn thức giống nhau về một sự vat nhưng từ ngữ trong tư duy khác nhau nên biểu hiện khác nhau. Do ảnh hưởng từ vựng tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật (động từ, danh từ bị ảnh hưởng bởi tiếng Hán, biểu hiện sai do chọn từ sai, biểu hiện sai do dùng từ dư thừa…)

- Lỗi sai do ảnh hưởng cấu trúc câu tiếng Nhật. Do sự linh hoạt uyển chuyển hơn của tiếng Việt mà người học chưa được chỉ cho biêt là phải làm như thế nào, cho nên cần phải được hướng dẫn trong thực hành viết. Sau đây là phân nhận xét và phân tích các nhóm lỗi.

1. Lỗi từ vựng

1.1. Lỗi động từ

Trong nhóm Lỗi từ vựng chúng tôi nhận thấy tỉ lệ dùng sai động từ là cao nhất. Có nhiều trường hợp, để diễn tả một hành động A thì động từ tiếng Việt có số lượng nhiều hơn, diễn đạt cụ thể phong phú hơn bằng các động từ A1, A2, A3, v.v...Trong khi đó, tiếng Nhật do ảnh hưởng của hiện tượng đa nghĩa mà một động từ có thể dùng với nhiều nghĩa trong nhiều trường hợp khác nhau. Trong bài viết với đề tài “Hướng dẫn cách thực hiện một món ăn”, người học đã viết:

Ví dụ 1: Rang thịt cho chín, rồi rang cả rau với thịt.

Thay vì phải viết là: Xào thịt cho chín, rồi xào cả rau với thịt.

Lý do là động từ |YAKU (焼く)| trong tiếng Nhật có nghĩa là “đốt”, “cháy”, “nung”, “nướng” [1][5], “nướng”, “rang”, “quay”, “chiên”, “tráng” [4]. Nhưng tiếng Việt có số lượng động từ nhiều hơn để phân biệt diễn tả hành động và trạng thái chế biến thức ăn: dùng dầu ăn thì có động từ |rán|, |chiên|, |xào|; không dùng dầu ăn thì có động từ |nướng|, |rang|, |quay|, |lùi| [3][6]; mặc dù vậy người học có xu hướng tra từ điển và đã chọn nhanh lấy một động từ trong số các từ có nghĩa tương đương với |YAKU (焼く)|.

Ví dụ 2: Sơn muối rất to vào dưa khổ, sau đó bỏ 5 phút

Thay vì phải viết là: Xát muối hột vào khổ qua, sau đó để yên 5 phút.

Lý do là động từ |NURU (塗る)| trong tiếng Nhật có nghĩa là “sơn”, “đánh”, “trát”, “bôi”, “quét” [5]; và động từ |HOTTE OKU (ほって置く)| có nghĩa là “bỏ qua một bên”. Trong khi đó đối với từng tác động khác nhau lên đối tượng khác nhau thì trong tiếng Việt có các động từ khác nhau như |sơn|, |phết|, |tô|, |bôi|, |xát|, |chà|, |đánh| [3]...

Ví dụ 3: ...giúp truyền đạt lời nói tình yêu tới một cô gái...

Thay vì phải viết là: ...giúp chuyển lời tỏ tình tới một cô gái...

Ví dụ 3 minh hoạ cho việc dùng từ gốc Hán |truyền đạt (伝達)| bị sai lệch ngữ cảnh do trong tiếng Việt động từ |truyền đạt| có nghĩa “phổ biến cho người khác nắm được để làm cho đúng” [3], “làm cho người khác nắm được để chấp hành” [2], và thường được dùng với sắc thái trịnh trọng như trong cụm từ {truyền đạt mệnh lệnh} {truyền đạt kiến thức}; do đó nếu dùng từ |chuyển| thì thích hợp hơn. Ngoài ra, |lời nói tình yêu (愛の言葉)| trong ví dụ 3 cũng cho thấy sự diễn đạt linh hoạt của tiếng Việt mà người học có thể chưa nắm được và khi viết sang tiếng Việt chúng ta có thể dùng từ đơn giản hơn, chính xác mà lại tinh tế hơn đó là cụm từ |lời tỏ tình|.

Một trong các nguyên nhân dùng từ sai chúng ta có thể nghĩ đến đó là các từ điển Việt-Nhật mà người học đang sử dụng hiện tại còn sơ sài, thiếu nhiều mục từ, và mỗi mục từ lại cho ít nghĩa hơn số lượng nghĩa trong thực tế của một từ tiếng Việt. Phần lớn các từ điển Nhật-Việt và Việt-Nhật này không có ví dụ đầy đủ cho lắm và cũng không có minh hoạ sắc thái cách dùng từ mà thường chỉ là từ đối từ. Một số người học sử dụng từ điển Nhật-Anh hoặc Anh-Nhật thì ít bị sai hơn vì chất lượng các từ điển này tốt hơn có độ tin cậy cao hơn. Nhưng dù sao, cách dùng từ ngữ theo kieu bắc cầu chuyền như thế này cũng không khắc phục được hoàn toàn tình trạng dùng sai từ.

1.2. Lỗi danh từ - tính từ - trạng từ

Do ảnh hưởng cách dùng từ vựng trong tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật nên có sự dùng nhầm lẫn. Sai nhiều nhất là do ảnh hưởng của từ gốc Hán-Nhật mặc dù từ Hán-Việt tương ứng của từ đó trong tiếng Việt ngày nay không còn tương đương nghĩa nữa. Người học cũng hay dựa vào từ điển song ngữ Nhật-Việt để diễn đạt suy nghĩ của mình mà không lưu ý ngữ cảnh, trường hợp nào sử dụng từ này và trường hợp nào không sử dụng từ này. Vì vậy có nhiều từ xuất hiện khi viết tiếng Việt mà cách dùng hoàn toàn không phù hợp.

Ví dụ 4: Từ thế kỷ 19 bắt đầu nghiên cứu hoạt bát...

Thay vì phải viết là: Từ thế kỷ 19 bắt đầu nghiên cứu mạnh mẽ...

Ví dụ 5: Cho nên các hộ có liên quan mạnh...

Thay vì phải viết là: Cho nên các hộ có liên quan mật thiết...

Trạng từ |hoạt bát (活発)| của ví dụ 4 trong tiếng Nhật có nghĩa là “hoạt bát”, “sôi nổi”, “hăng hái” [1][5]; nhưng trong tiếng Việt nếu dùng từ này để diễn tả mức độ thì buồn cười vì |hoạt bát| trong tiếng Việt chỉ dùng để diễn tả tính cách lanh lợi trong nói năng ứng đáp, nhanh nhẹn trong cử chỉ động tác [2][3], ví dụ như {anh ấy là người ăn nói rất hoạt bát}. Ngược lại, tính từ |TSUYOI (強い)| của ví dụ 5 trong tiếng Nhật có nghĩa là “mạnh mẽ”, “hùng mạnh”, “mãnh liệt”, “một cách lâu bền” [5]; nhưng trong tiếng Việt nếu dùng từ này để biểu hiện tính chất của mối liên quan thì rõ ràng đây là cách dùng từ của người nước ngoài vì “mạnh” trong tiếng Việt được dùng để diễn tả “sự vượt trội hơn về tiềm lực, khả năng” [3], “có cường đo mức độ lớn” [2].

1.3. Lỗi từ nối liên từ [2]

Đây là lỗi sai có thể nhìn thấy rõ ngay. Lỗi này vẫn thường hay xảy ra khi viết. Do ảnh hưởng của nghĩa sử dụng của từ vựng trong tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật, người học thường hay dùng lẫn lộn. Để diễn đạt ý “Cái vừa nói đến là chính, còn có những cái khác nữa” thì người học lại hay viết |Hơn nữa (SONOHOKA そのほか)|, |Thêm nữa (SARANI さらに)|, |Còn nữa (MATA また)|, |Nữa là (SARANI さらに)|... thay vì dùng đúng một từ nối liên từ |Ngoài ra (SORENI それに)|, vì nguyên nhân là các từ nêu trên trong tiếng Nhật có thể có chung một nghĩa là “ngoài ra” (ví dụ 6).

Ví dụ 6: Nữa là một lý luận rất quan trọng là...

Thay vì phải viết là: Ngoài ra, một lý luận rất quan trọng là...

Để nêu nguyên nhân hay lý do thì người học hay viết |Thì (SOSHITE そして)|, |Thế thì (YOTTE よって)|, |Như này (KONOYOUNI このように)| thay vì dùng đúng một từ nối liên từ |Do đó (DAKARA だから)| vì các từ nêu trên trong tiếng Nhật có thể có chung một nghĩa là “do đó” (ví dụ 7).

Ví dụ 7: Như này từ ca dao tục ngữ chúng ta thấy đặc trưng tính dân tộc của người Việt Nam...

Thay vì phải viết là: Do đó, từ ca dao tục ngữ chúng ta thấy đặc trưng tính dân tộc của người Việt Nam...

Điểm này cũng cho chúng tôi thấy rằng về phương diện từ nối liên từ thì trong tiếng Nhật có nhiều từ biểu hiện gần như cùng một ý nghĩa (hiện tượng trường nghĩa, đồng nghĩa) hơn là tiếng Việt, và các từ này được dùng linh hoạt và dễ kết cấu hơn là tiếng Việt. Nhưng vấn đề cũng phát sinh từ đây vì trong tiếng Việt không châp nhận các từ gần nghĩa như thế. Nêu người đọc là người Việt và biêt tiếng Nhật thì có thể dựa vào nội dung mà đoán ra ý nghĩa của chữ bị dùng sai, nhưng những từ dùng sai như thế làm cho câu văn trở nên rất “ngoại quốc”!

1.4. Lỗi đại từ chỉ định - tính từ chỉ định

Cũng do ảnh hưởng của nghĩa sử dụng của từ vựng trong tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật, người học thường hay dùng đại từ chỉ định và tính từ chỉ định một cách tuỳ tiện khi viết tiếng Việt.

Ví dụ 8: Tôi nghĩ rằng ở Nhật cũng có cách suy nghĩ như này.

Thay vì phải viết là: Tôi nghĩ rằng ở Nhật cũng có cách suy nghĩ như thế này.

Lý do có lẽ là vì ảnh hưởng nghĩa của từ |KONO (この)| trong tiếng Nhật có nghĩa là “này” và |YOUNA (ような)| có nghĩa là “như”, “giống như” trong câu {KONO YOUNA KANGAE WA NIHON NI MO ARU TO OMOIMASU (このような考えは日本にもあると思います)}.

Ví dụ 9: Chia đó ra 4 phần. Sau đó làm đó hình tròn...

Thay vì phải viết là: Chia khoai đó ra làm 4 phần. Sau đó làm cho 4 phần khoai đó có hình tròn...

Ví dụ 10: Bao phủ đó các bột mì, trứng…

Thay vì phải viết là: Bao phủ các phần khoai đó bằng bột mì, trứng..

Khác với người Nhật, người Việt Nam thường nêu rõ danh từ cụ thể và dùng kèm với tính từ chỉ định như |này|, |đó|, |kia| khi viết và nói, hoặc lặp lại trực tiếp tên gọi của vật đối tượng đó nếu biết vật đối tượng và ngữ cảnh cụ thể (ví dụ 9 và 10 trong ngữ cảnh “hướng dẫn thực hiện món croquette” thì vật đối tượng là “khoai”). Ngoài ra, 282 người học cần được hướng dẫn luyện tập sử dụng một số động từ thông dụng một cách thuần thục hơn. Ví dụ như động từ |chia| thì hay được dùng kết hợp trong các ngữ động từ như |chia... làm| hoặc |chia... thành|, động từ |làm| thì có thể được viết là |làm cho| (ví dụ 9); đối với động từ |bao phủ| (ví dụ 10) thì phải thêm từ |bằng| để diễn tả ý phương tiện.

1.5 Lỗi dùng từ chỉ thời gian

Các ví dụ sau đây minh hoạ cho việc dùng sai từ chỉ thời gian, phần lớn là do người học bị ảnh hưởng bởi tư duy từ vựng tiếng Nhật (kể cả có và không có sự ảnh hưởng của chữ Hán).

Ví dụ 11: {Đồng niên tháng 7}

Thay vì phải viết là {Tháng 7 cùng năm đó}

Ví dụ 12: {Trước sau thế kỷ 16 ở Hội An xây dựng khu phố người Nhật...}

Thay vì phải viết là: {Vào khoảng thế kỷ 16 ở Hội An người ta xây dựng khu phố người Nhật...}

Ví dụ 13: {Bây giờ số lượng nhà trồng thuốc nam ngày càng giảm...}

Thay vì phải viết là: {Hiện nay số lượng nhà trồng thuốc nam ngày càng giảm...}

Trong ví dụ 11, từ |Đồng niên| bị ảnh hưởng bởi từ gốc Hán |DOUNEN (同年)| nên người học đã dùng nguyên nghĩa gốc Hán vào trong câu làm cho từ ngữ câu văn có vẻ “hơi cổ” khi biểu hiện sang tiếng Việt. Hoặc trong ví dụ 12, từ |Trước sau| tương đương từ |ZENGO (前後)| nên người học đã dùng nguyên nghĩa Nhật vào trong câu văn. Ngoài ra, đôi lúc người học không biêt là có những trường hợp phải dùng từ khác nhau phân biệt trong văn viết và văn nói (ví dụ 13).

1.6. Lỗi giới từ

Người học dùng giới từ sai do ảnh hưởng ngữ pháp và tư duy biểu hiện của tiếng Nhật. Thay vì viết {bơi ngoài biển} thì họ viết {bơi ở biển} vì trợ từ |DE (で)| trong tiếng Nhật có nhiều nghĩa khác nhau như “ở”, “trong”; và trợ từ |NI (に)| có nhiều nghĩa khác nhau như “ở” “về” “đến” “cho” “trong”... khi kết hợp với động từ hoặc với các ngữ khác nhau nhưng lại không đòi hỏi sự phân định về không gian. Trong khi đó trong tiếng Việt có sự phân định về không gian “trong” “ngoài” “xa” “gần” “trên” “dưới” hêt sức đặc thù như {trong Nam}{ngoài Bắc}{trong nhà}{ngoài sân}{trên rừng} {dưới biển} và phân định về từ sử dụng trong các ngữ chỉ thời gian như “khi” trong {khi học bài}, “vào” trong {vào tháng 5}, v.v... Và “biển” được coi là xa, là ở phía ngoài so với đất liền nên phải viết là {bơi ngoài biển}.

Các ví dụ trong bảng dưới đây cho thấy từ Nhật tương ứng đã dùng (suy đoán ngược lại sang tiếng Nhật của từ tiếng Việt). Trong bài viết này chúng tôi chỉ nêu một số ví dụ có liên quan trợ từ |NI (に)| của tiếng Nhật. Một điểm dễ thấy là từ |NI (に) | được dùng như một trợ từ trong tiếng Nhật, còn từ |NI (に)| được xử lý như một giới từ trong tiếng Việt. Sự lệch pha về từ loại như thế này vẫn có thể xảy ra giữa các ngôn 283 ngữ. Giáo viên phải giải thích từng ngữ cảnh và khuyên người học nên học thuộc lòng là cách tốt nhất để tránh những lỗi do lệch pha về từ loại như thế này gây ra. Một số ví dụ dùng sai giới từ khi viết (liên quan với trợ từ |NI (に)|)

 

Ví dụ

Từ Nhật tương ứng đã dùng

Tiếng Việt sai

Tiếng Việt đúng

14

NI (に) EIKYOUSURU (影響する)

...ảnh hưởng cho cơ quan tạng khác...

...ảnh hưởng đến cơ quan tạng khác...

15

NI TSUITE (について)

...chủ yếu là quan niệm đến hiện tượng tự nhiên...

...chủ yếu là quan niệm về hiện tượng tự nhiên...

16

NITOTTE (にとって)

“Con trâu là đầu cơ nghiệp” vì con trâu không thể thiếu cho người dân nền văn minh lúa nước

“Con trâu là đầu cơ nghiệp” vì con trâu không thể thiếu đối với người dân nền văn minh lúa nước

17

NI (に)

 Ở trong thời trung học

 Vào thời trung học

 

1.7. Lỗi dùng loại từ

Trong tiếng Việt có loại từ: |cái|, |con|, |cây|, |quyển|, |bức|, v.v... Nếu người học chưa nắm vững thì dễ sai. Có sự phân biệt rõ rệt |quả| dùng cho sự kết hạt ra trái trên cây: “bộ phận của hoa do bầu nhuỵ phát triển mà thành” [3][6] như |quả cam|, |quả táo|, còn |củ| dùng cho sự kết hạt ra trái dưới đất: “phần thân hay rễ cây phát triển phình và chứa chất dự trữ” [3], nằm ở dưới đất hoặc sát đất” [2] như |củ khoai|, |củ hành|. Ngoài ra, |múi| là từ dùng để chỉ “phần của quả, có màng bọc riêng, chứa hạt ở trong” [3], và |tép| là “sợi mọng nước ở trong múi một số quả hoặc nhánh nhỏ” [3][6], v.v... Nhưng trong tiếng Nhật có thể dùng từ |KO (個)| để biểu thị và để đếm cho cả hạt lẫn trái cây lẫn các đồ vật có kích thước nhỏ. Do đó, không ít người học đã viết {3 quả khoai} {1 cái cà rôt} {2 hạt tỏi} thay vì phải viết là {3 củ khoai} {1 củ cà rôt} {2 tép tỏi}. Hoặc là cùng một từ chỉ khái niệm “người” nhưng người học lại dùng một cách không đúng cho loại từ |con| làm cho nghĩa của từ trở nên to tát, nghĩa bị sai đi (ví dụ 18).

Ví dụ 18: {nhiều con người Nhật Bản rất thích cơm cà-ri}

Thay vì phải viết là {nhiều người Nhật Bản rất thích cơm cà-ri}

Lý do có thể là vì trong tiếng Nhật có ít nhất hai từ cùng nghĩa chỉ “người” hoặc “con người” và được sử dụng thay thế chuyển đổi cho nhau tương đối tự do đó là từ |HITO (人)| và |NINGEN (人間)|. Ví dụ như trong |BYOUNIN (病): người bệnh|, |UCHUJIN (宇宙): người vũ trụ|, |NINGENSEI (人間性): bản tính con người| và |SHIGOTONINGEN (仕事人間): người chỉ biêt công việc| [3].

Hoặc thói quen dùng từ |~RUI (~類)| để kết hợp với danh từ nhằm chỉ nhiều thứ thuộc cùng một phạm trù một thuộc tính, ví dụ như |IRUI (衣類): y phục| hoặc |HONYUURUI (哺乳類): động vật có vú| hoặc |PURASUCHIKKURUI (プラスチック類): các vật có thuộc tính nhựa|. Do đó, người học thường hay viết {canh nấm và loại tảo biển} thay vì chỉ cần viết là {canh nâm và tảo biển}. Chúng tôi có một kinh nghiệm là khi dạy từ vựng nên dạy luôn cả loại từ đi với từ vựng đó và giáo viên cần phân tích cụ thể trường hợp sử dụng và không sử dụng loại từ.

2. Lỗi cấu trúc - biểu hiện

2.1. Lỗi sai do nhận thức giống nhau về một sự vat nhưng từ ngữ trong tư duy khác nhau nên biểu hiện khác nhau

Lỗi sai về biểu hiện rất đa dạng do mỗi người có một cách suy nghĩ. Có người học dùng từ tự chế ra vì từ này không tìm thấy trong từ điển. Trong ví dụ 19 dưới đây, từ |dưa khổ| không có trong từ điển tiếng Việt, nhưng tiếng Nhật có từ |NIGAURI (苦瓜): quả dưa đắng vì |URI (瓜)| là “quả dưa” và |NIGAI (苦い)| có nghĩa là “đắng” hoặc “đau khổ” [1][5], mà “đắng” tức là “khổ”??... cho nên chúng ta có thể tạm suy ra rằng |dưa khổ| là trái “khổ qua” của Việt Nam. Để thể hiện đúng nguyên văn mà người học đã viết và để đối chiêu, trong các ví dụ sau đây chúng tôi sẽ dịch sát nghĩa sang tiếng Nhật của phần tiếng Việt bị viết sai; mặc dù làm như thế có trường hợp sẽ không là tiếng Nhật đúng ngữ pháp hoặc đúng từ ngữ.

Ví dụ 19: cắt quả dưa khổ cho phần chia đôi cất dọn đồ bên trong dưa khổ.

{NIGAURI O HANBUN NI KITTE, NAKAMI O TORIDASU (苦瓜を半分に切って中身を取り出す)}

Ngoài vấn đề từ vựng ra, cách thể hiện như (1) và (2) đêu không đúng trong tiếng Việt, mà phải viết là

(1) {cắt khổ qua làm đôi} hoặc {cắt đôi khổ qua} hoặc {bổ đôi khổ qua}

(2) {làm sạch bên trong ruột khổ qua}

do đó câu viết lại là: {cắt khổ qua làm đôi làm sạch bên trong ruột khổ qua}

Ví dụ 20: Làm cho ấm trứng trên cái chảo và tráng trứng thành lớp dày...

{FURAIPAN NO NAKA DE TAMAGO O ATATAMETE ATSUKU YAKU (フライパンの中で卵をあたためて厚く焼く)}[4]

câu viết đúng là: {Làm nóng chảo tráng trứng thành lớp dày}

Lỗi sai về biểu hiện còn do ảnh hưởng từ vựng tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật. Như đã trình bày ở phần lỗi từ vựng, các biểu hiện hành động có liên quan phương pháp phương tiện rất hay bị mắc lỗi sai khi viết sang tiếng Việt. Ví dụ như trong tiếng Nhật, trợ từ |DE (で)| được dùng để chỉ phương tiện “bằng” vật gì và trạng từ |JUUBUNNI (十分に)| được dùng để nói lên ý “đầy đủ” “hoàn toàn”, nhưng trong tiếng Việt không thể viết từ tương đương sát nghĩa như thế được mà phải linh động sử dụng động từ |dùng| (ví dụ 21), thêm giới từ |vào| và cụm từ {cho đủ chín} hoặc {cho đủ mềm} để cho câu ra vẻ tiếng Việt hơn (ví dụ 22).

Ví dụ 21: bằng muỗng ép chuối vào tô cho nhuyễn... (trong bài viết hướng dẫn làm bánh chuối)

{SUPUN DE BANANA O BOURU NI OSHITSUKETE TSUBUSU (スプーンバナナをボールに押し付けてつぶす)}

phải sửa lại là: {dùng muỗng ép chuối vào tô cho nhuyễn}

Ví dụ 22: thêm thịt và nướng đầy đủ... (trong bài viết hướng dẫn làm món xào dưa chuột)

{NIKU O KUWAETE JUUBUNNI YAKU (肉を加えて十分焼く)}

phải sửa lại là: {thêm thịt vào xào cho đủ chín/cho đủ mềm}

Rõ ràng là muốn diễn tả việc xào nấu mức độ “chín” hoặc “mềm” như thế nào thì phải biết sử dụng nhuần nhuyễn các biểu hiện {cho chín},{cho mềm}, dùng chung cho tất cả các đối tượng {trái chín}, {thịt chín}... trong khi đó nếu muốn viết như thế thì tiếng Nhật cần cả một cụm động từ {JUKUSURU MADE (熟するまで): đến lúc chín} đối với trái cây, phân biệt với {JUUBUNNI YAWARAKAKU NARU MADE NIKOMU (十分に柔らかくなるまで煮込む) hoặc {YOKU NIERU MADE (よく煮えるまで): cho chín/cho mềm} đối với các thức khác.

Ví dụ 23: xe buýt to có thể chuyển đa số người một lần...

{OOKINA BASU WA ICHIDO NI TASUU [5] NO HITO O HAKOBU KOTO GA DEKIRU (大きなバスは一度に多数の人を運ぶことができる)}

cần phải sửa lại là: {xe buýt to có thể chở nhiều người cùng một lúc...}

Ví dụ 24: con người ra trí tuệ cho nhau...

{NINGEN WA OTAGAINI CHIE O DASHIAU (人間はお互いに知恵出しあう)}

cần phải sửa lại là: {con người chia xẻ cho nhau các hiểu biết của mình...}

Trong ví dụ 23, sở dĩ người học viết {chuyển}, {đa số} và {một lần} là do tư duy bằng các từ và ngữ tiếng Nhật tương đương là {HAKOBU (運ぶ): chuyển}, {TASUU (多数): đa số} và {ICHIDO (一度): một lần}. Để cho câu có vẻ tiếng Việt hơn, giáo viên nên khuyên người học dùng từ thuần Việt như {nhiều}, {cùng một lúc}. Trong ví dụ 24, dùng động từ {chia xẻ} thì chính xác hơn là động từ {ra}, và ngữ thuần Việt {các hiểu biết của mình} mặc dù hơi dài nhưng dễ hiểu hơn là danh từ {trí tuệ} vừa cóý nghĩa to tát vừa không phù hợp.

2.2. Lỗi sai do ảnh hưởng cấu trúc câu tiếng Nhật

Một nguyên nhân khách quan là do sự linh hoạt uyển chuyển hơn của tiếng Việt mà người học chưa được chỉ cho biết là phải làm như thế nào, do đó cần phải được hướng dẫn trong thực hành viết. Ngoài ra, người học cần phải được lưu ý rằng câu trong tiếng Nhật không đòi hỏi chặt chẽ về chủ từ và túc từ như câu trong tiếng Việt, nên khi viết tiếng Việt cần phải linh động thêm vào cho đúng ngữ pháp (ví dụ 25) nhưng cũng phải biết linh động cắt bớt phần không cần thiết do ảnh hưởng của tư duy tiếng Nhật (ví dụ 26).

Ví dụ 25: Hai con chó rất tốt và anh ấy yêu thương.

{NIHIKI NO INU WA TOTEMO KASHIKOKUTE, KARE WA AISHITE IRU (二匹の犬はとても賢くて、彼は愛している)}

Câu này thiếu túc từ do đó phải sửa lại là: {Hai con chó rất tốt và anh ấy yêu thương chúng}

Ví dụ 26: Em khuyên là thái mỏng là ngon nhất... (trong bài viết hướng dẫn làm súp cà chua)

{USUKU KITTARA ICHIBAN OISHII TO OSUSUMESHIMASU (薄く切ったら一番おいしいとお勧めします)}

Câu này dư thừa cả một cụm chủ-v], do đó chỉ cân viết là: {thái mỏng là ngon nhất}

Trong ví dụ 27 dưới đây, do bị đặt sai vị trí trong câu mà {con cá nục} ngẫu nhiên biến thành chủ ngữ. Mặc dù người học dùng sai động từ {xức} và biểu hiện {chừa bỏ axít}, và ở đây không cần loại từ {con} nhưng chúng ta vẫn hiểu được “cá nục” là đối tượng bị tác động vào, bị làm rửa sạch, được chuẩn bị biến thành một món ăn để dọn lên bàn!

Ví dụ 27: Con cá nục đầu tiên chừa bỏ axít xức muối tiêu...

{AJI WA SAISHONI ACIDO O NOZOITE SHIOKOSHO O NURU (あじは最初に酸味を除いて塩胡椒をぬる)}[6]

câu đúng là: {Đầu tiên làm và rửa sạch cá nục sau đó ướp muôi tiêu...}

Do người học bị ảnh hưởng cách tư duy tiếng Nhật nên chưa phân biệt được khi nào sử dụng thể chủ động-bị động trong tiếng Việt (ví dụ 28, 29).

Ví dụ 28: Tại sao sự khác nhau như thế này bị xảy ra?

{NAZE KONOYOUNA CHIGAI GA OKOTTANOKA (なぜこのような違いが起こったのか)}

cần phải sửa lại câu ở thể chủ động là: {Tại sao sự khác nhau như thế này xảy ra?}

Ví dụ 29: Chiến tranh không hết lâu thì nhiều người mất đât và nông nghiệp phá hoại...

{SENSOU GA NAGABIKU TO OOKU NO HITO GA TOCHI O NAKUSHITE, OUGYOU GA HAKAISURU (戦争が長びくと多くの人が土地を無くして農業が破壊する)}

cần phải sửa lại câu ở thể bị động là: {Chiến tranh kéo dài thì nhiều người (bị) mất đất và nông nghiệp bị phá hoại...}

Ví dụ 28 là dùng sai thể bị động:{bị xảy ra}. Có lẽ khi học ngữ pháp, người học được giải thích rằng {bị} mang ý nghĩa là “xấu, không như ý muốn” nên đã suy luận và viết như thế. Ví dụ 29 là do vô ý mà dùng sai thể chủ động: {nông nghiệp phá hoại: NOUGYO GA HAKAISURU (農業が破壊する)} vì tiếng Nhật viết ở thể chủ động như thế cũng là sai. Trong tiếng Nhật cũng phải dùng thể bị động: {nông nghiệp bị phá hoại: NOUGYO GA HAKAISARERU (農業が破壊される)}. Ngoài ra, {NAGABIKU (長びく): kéo dài, lâu mãi không chấm dứt, lâu mãi không hết} là động từ được dùng quen thuộc trong tiếng Nhật, nhưng trong tiếng Việt không chấp nhận cách viết ngược {...không hết lâu} như trong ví dụ 29.

Trong ví dụ 30 dưới đây, với nguyên văn cách viết dùng sai thể chủ động của người học thì “tắc đường” làm cho “đường phố” trở nên “chật” chứ không phải do “đường phố chật vào giờ cao điểm” mà làm “tắc đường”!

Ví dụ 30: Tắc đường gây ra lý do như sau. Đường phố chật lắm. Khi cao điểm đường phố Hà Nội không thể chức năng được...

{JUUTAI WA TSUGI NO RIYUU DE HASSEISHITA. DOURO GA TOTEMO SEMAKU, RASSHU NO TOKI NADO HANOI NO DOURO WA MATTAKU KINOU SHITEINAI (渋滞は次の理由で発生した。道路がとても狭く、ラッシュのときなどハノイの道路はまったく機能してない)}

cần phải sửa lại câu ở thể bị động là: {Tắc đường bị gây ra bởi lý do như sau. Đường phố quá chật. Khi cao điểm đường phố Hà Nội không thể làm hết chức năng được...}

Tóm lại khi viết không thể chỉ chuyển nghĩa một cách máy móc 1 đối 1. Người học cần phải tuỳ theo ngữ cảnh mà chú ý chọn lựa từ tiếng Việt có nghĩa phù hợp nhất trong tất cả các nghĩa ghi trong từ điển và có lúc cần phải linh động trong dùng từ ngữ biểu hiện. Vì viết là dùng từ để thể hiện trên giấy. Vì hai ngôn ngữ khác nhau có thể có cách biểu hiện khác nhau cho cùng một ý tưởng. Ví dụ như động từ |FUKAMARU (深まる)| có nghĩa là “sâu thêm” “đi sâu vào” [1], “trở nên sâu” [4], và người Nhật hay nói {AKI GA FUKAMATTA (秋が深まった)}. Trong tiếng Việt nêu dịch sát nghĩa từ thì câu này có nghĩa là {mùa thu đã sâu thêm rồi}. Nhưng để Việt hoá hơn thì phải viết là {thu đã đậm rồi} [7] hoặc {mùa thu đã nhiều rồi} hoặc văn chương hơn là {đã thật vào thu rồi}. Tuy nhiên với câu văn chương này {đã thật vào thu rồi} thì trong tiếng Nhật lại là một biểu hiện khác nữa {AKI HONBAN DA (秋本番だ)}.

Nếu được chỉ ra cụ thể các điểm sai, và được hướng dẫn để khắc phục lỗi sai thì bài viết của người học sẽ tốt hơn. Chúng tôi quan niệm như thế này và soạn bài giảng dựa vào tư lieu sống là các bài viết nguyên tác (còn nguyên lỗi sai chưa sửa của sinh viên năm trước). Chúng tôi chọn lấy bài có tiêu điểm muốn giảng, photocopy và phát cho sinh viên cùng đọc và tìm chỗ sai, và cùng sửa ngay tại lớp.

Một tiết học gồm 90 phút. Thông thường, chúng tôi bắt đầu tiết học môn viết bằng việc trình bày ví dụ một số lỗi sai của người học. Giáo viên dùng memo (thẻ ghi chú) theo từng đề mục sai như đã trình bày sơ lược ở phần trên (sai từ vựng hoặc sai biểu hiện - cấu trúc), viết trên bảng và yêu cầu sinh viên tìm chỗ sai, và cùng sửa. Ví dụ như lỗi sai về cách dùng đại từ chỉ định, tính từ chỉ định |này|, |đó|, |kia|... Để phân tích sâu hơn hoặc giảng lý thuyết kèm theo song song với nội dung đó và cho người học áp dụng làm ngay bài tập tại lớp, chúng tôi dùng hỗ trợ tài liệu ngữ pháp chọn lọc từ các nguồn sách ngữ pháp.

Giáo viên ra đề tài viết giới hạn trong 300 từ, bắt đầu từ những đề tài quen thuộc và đơn giản như “Kể về sinh hoạt một ngày của em” hoặc “Một quán ăn hoặc tiệm cà phê mà em thích nhất”... và sau đó dần dần tăng mức độ khó lên như “So sánh thời trung học và đại học của bạn” hoặc “Suy nghĩ về một cách sống lý tưởng”, v.v... Một đề tài thường được thực hiện trong ba tuần. Tuần thứ nhất, giáo viên ra đề, đọc bài mẫu do chính mình làm về đề tài đó. Tuần thứ hai, sinh viên nộp bài và giáo viên chấm bài, ghi chú, photo nguyên tác và photo các bài này sau khi đã được sửa xong. Tuần thứ ba, giáo viên dùng trực tiếp các bài viết này và trình bày lân lượt từng chỗ sai từ vựng, hoặc sai biểu hiện - cấu trúc,, v.v... ghi trên bảng cho sinh viên cùng đọc cùng cười và cùng sửa lại cho đúng hơn (tất nhiên tất cả các tài liệu như thế này đêu giấu tên của tác giả bài viết). Chúng tôi nhận thấy giai đoạn này rất quan trọng và có hiểu quả rõ rệt vì người học được tạo động lực bởi chính nội dung của mình đã viết ra, cảm thấy dễ hiểu, có thể lý giải được nội dung hơn nếu như so với việc phải đọc một bài mẫu xa lạ và hoàn chỉnh nào đó. Nhờ cách này mà người học có thái độ hợp tác tích cực trong giờ học hơn, có nhu cầu muốn đọc để hiểu nội dung bài viết của bạn mình cùng viết về một đề tài.

Nếu dùng từ điển thì hãy dùng từ điển tương đối tốt. Đa số các tiểu từ điển Việt-Nhật Nhật-Việt mà người học đang dùng chưa thật sự đạt chất lượng của một từ điển hoàn chỉnh. Như đã nói ở phần trên, có từ điển chỉ là một tập họp các từ đối từ, nghĩa là chỉ giải nghĩa sơ sài không có ví dụ minh hoạ cách dùng từ hoặc giải thích sắc thái nghĩa từ một cách đầy đủ. Thậm chí có quyển chỉ là một công trình góp nhat sao chép lạm dụng bản quyên của tác giả khác. Những từ điển như thế trong thực tế đã gây khó khăn không nhỏ cho người học tiếng Việt. Thấy rõ tình hình này chúng tôi đang cố gắng biên soạn một đại từ điển Việt-Nhật theo hướng đúng quy cách và hoàn chỉnh hơn [8]. Khi công trình này được hoàn tất, chúng tôi hy vọng là từ điển Việt-Nhật này sẽ góp phần hữu ích cho người học.

Phần kết luận

Chúng tôi đã trình bày các nhận xét và phân tích một số lỗi sai tập trung vào hai phạm vi chính: lỗi từ vựng và lỗi cấu trúc - biểu hiện của người học là người Nhật Bản khi viết tiếng Việt. Qua đó chúng tôi trình bày một số phương pháp khắc phục các lỗi sai này nhằm giúp người học tránh được lỗi khi viết để có bài viết bằng tiếng Việt tốt hơn.

Chắc chắn rằng do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ mà người học có quốc tịch khác nhau sẽ gặp những khó khăn khác nhau khi học tiếng Việt. Khó khăn nhiều hay ít tuỳ vào đặc điểm của tiếng mẹ đẻ của họ khác với tiếng Việt nhiều hay ít. Điểm tương đồng nhiều thì có thể gặp nhiều thuận lợi, điểm khác biệt nhiều thì gặp nhiều khó khăn hơn hoặc có thể mắc nhiều lỗi sai hơn. Cũng như môn nói, viết là môn thực hành. Chỉ có thông qua thực hành thực tế thì mới phát triển kỹ năng được.

Tôi nhớ đến một quyển sách luận bàn về tiếng Việt của cô giáo sư Cao Xuân Hạo có tựa đề “Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt”. Có nhiều yếu tố khách quan khiến cho “Người nước ngoài” không thể hoàn toàn là “Người Việt” được. Dù sao họ cũng sẽ mắc lỗi sai nào đó khi học tiếng Việt, và chúng ta cũng vậy. Chúng ta cũng sẽ mắc lỗi sai nào đó khi học ngoại ngữ. Xuất phát từ quan điểm này, người học rất đáng được khích lệ và quan tâm. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp cho người học cải thiện được nhiều nhất trong phạm vi có thể. “Người nước ngoài” nhưng viết tốt “Tiếng Việt - Văn Việt” là một điều hoàn toàn có cơ sở thực hiện được. Và đây là một trong những mục tiêu phấn đấu đào tạo của chúng tôi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Từ điển

[1] Lê Đức Niệm. Từ điển Nhật Việt. Nhà xuất bản Giáo dục 1993.

[2] Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thuỵ, Nguyễn Đức Dương. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia. Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn 2006.

[3] Nguyễn Như Ý (chủ biên). Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam. Đại Từ điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin 1999.

[4] SANSEIDO. Grand Concise Japanese-English Dictionary. 2003.

[5] TAKEUCHI YONOSUKE. Từ Điển Việt Nhật-Nhật Việt. Daigaku Shorin 1988 (竹内與之助. 越日日越合本辞典. 大学書林1988).

[6] VIETLEX - Trung tâm Từ điển học. Từ điển tiếng Việt thông dụng. Nhà xuất bản Đà Nẵng 2009.

 

Các nguồn khác

[7] TOMITA KENJI. Bàn về khôi phục chữ Hán trong tiếng Việt. Hội thảo Giao lưu Văn hoá Việt Nhật. Huế 2007.

[8] TOMITA KENJI. Betonamugo no Sekai. Daigaku Shorin 2000. (冨田健次.ヴェトナム語の世界. 大学書林2000).

[9] Tiếng Việt như một ngoại ngữ (Các vấn đề tiếng Việt cho người nước ngoài).Trường đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á. Nhà xuất bản Giáo dục 1995.

[9a] Nguyễn Thiện Nam (1995). Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Một vài nhận xét và lý giải về lỗi dùng từ Hán Việt của người Nhật Bản (239-245).

[9b] Nguyễn Văn Phổ, Lê Thị Minh Hằng (1995). Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Vấn đề rèn luyện kỹ năng viết cho người nước ngoài học tiếng Việt (253-264).

[9c] Trần Thị Minh Giới, Thạch Ngọc Minh (1995). Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Mấy biện pháp giúp sinh viên nước ngoài khắc phục một số nhầm lẫn về ngữ pháp và cách dùng từ tiếng Việt (273-279).



[1] Mặc dù trong tiếng Nhật |giao thiệp (交渉)| cũng có nghĩa là “giao thiệp, ngoại giao” ví dụ như |giao thiệp chính trị] (政治交渉)|.

[2] Một số từ điển tiếng Việt gọi là liên từ hoặc những tổ hợp tương đương. Trong tiếng Nhật gọi là từ nối (接続詞).

[3] Trong trường hợp này có sắc thái nghĩa phê phán.

[4] Tiếng Nhật đúng phải là {URAIPAN O ATATAMETE TAMAGO O ATSUKU YAKU (フライパンをあたためて卵を厚く焼く)}

[5] Tiếng Nhật đúng phải là |TAKUSAN (たくさん): nhiều|

[6] Tiếng Nhật đúng phải là {AJI WA SAISHONI MIZU DE YOKU ARAI, SOREKARA NAIZOU O NOZOITE SHIOKOSHO O SURU (あじは最初に水でよく洗い、それから内臓を除いて塩胡椒をする)}

[7] Chữ “đậm” giống như trong câu “trời rét đậm”.

[8] Dự án từ điển được giáo sư TOMITA KENJI (Khoa tiếng Việt trường đại học Osaka-Nhật Bản) khởi xướng và chỉ đạo nhóm bắt đầu thực hiện từ năm 2006.

Nguồn: HỘI THẢO NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT LẦN THỨ NHẤT
Ngày 26/02 - 28/02/2011. www.iatvnetwork.org.

 

 

Bài đăng trước:

  • Vài suy nghĩ nhân đọc cuốn SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ
  • Việc sử dụng các kí tự F, J, W, Z trong văn bản tiếng Việt hiện nay
  • Một cách xác định chủ ngữ trong kiểu câu "CÓ + X" từ góc độ lí thuyết điển mẫu
  • Thay đổi bất cứ cái gì liên quan đến văn tự (chữ viết) đều là chuyện đại sự của văn hoá
  • Từ điển tiếng Huế một bảo tàng ngôn ngữ và văn hoá