Ngôn ngữ học

Việc sử dụng các kí tự F, J, W, Z trong văn bản tiếng Việt hiện nay
     

GS. TS. NGUYỄN VĂN LỢI

SUMMARY
This article analyzes some characteristics of the national language so as to give the satisfactory answer: Should the four characters (F, J, W, and Z) be added to the Vietnamese alphabet to make it conformable to the evolution and development of the language?

Thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin truyền thông đã bùng nổ một cuộc thảo luận về việc sử dụng 4 kí tự F, J, W, Z trong các văn bản tiếng Việt, sau khi có ý kiến đề xuất bổ sung 4 kí tự trên vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ.

Bài này đề cập đến một số vấn đề đã được đặt ra trong cuộc thảo luận trên. Để có cách nhìn thống nhất, trước hết xin được nhắc lại một số đặc điểm của chữ Quốc ngữ.

1. Một số đặc điểm chữ Quốc ngữ

1.1. Chữ Quốc ngữ là hệ thống chữ viết ghi âm: các phụ âm đầu, vần được ghi bằng các chữ cái hoặc tổ hợp chữ cái mẫu tự Latin, với các dấu phụ ghi thanh điệu (dấu “Huyền, Ngã, Hỏi, Sắc, Nặng”) và ghi một số nguyên âm, phụ âm (chữ Ô, Ê, Ơ, Ă, Â, Ư, Đ). Đây là ưu thế lớn nhất của chữ Quốc ngữ, vì nó cho phép phân tích từ hay tiếng của tiếng Việt ra các đơn vị tương ứng với âm vị của ngôn ngữ châu Âu và cho phép chữ Quốc ngữ tham gia cộng đồng rộng lớn của các chữ viết hệ Latin.

1.2. Cho đến nay, sau một số lần thay đổi, cải tiến, chữ Quốc ngữ tỏ ra là một hệ thống chữ viết tương đối khoa học, tiện dụng. Chữ Quốc ngữ chỉ dùng 25 con chữ Latin kèm theo một số dấu phụ, nhưng đã phản ánh đúng và tương đối chính xác hệ thống ngữ âm tiếng Việt. Việc dùng các dấu phụ ghi thanh điệu và một số nguyên âm, phụ âm là sự sáng tạo của những người làm chữ Quốc ngữ.

1.3. Chữ Quốc ngữ ra đời từ thế kỉ XVII, trải qua một số thay đổi và định hình từ giữa thế kỉ XIX (Từ điển Taberd xuất bản năm 1838). So với chữ viết tiếng Anh, Pháp, chữ Quốc ngữ tương đối “trẻ”, ít có sự không tương hợp giữa âm và kí tự, do cách phát âm thay đổi, chữ viết không thay đổi (chẳng hạn PH ghi âm vị /f/).

1.4. Tuy nhiên, trong chữ Quốc ngữ tồn tại một số “bất hợp lí”, như: âm vị phụ âm đầu /k/ được ghi bằng 3 kí tự C, K, QU; /ŋ/ ghi bằng 2 kí tự NG, NGH; /ɣ/ ghi bằng G, GH; nguyên âm đôi /ie/ ghi bằng , IA; /uo/ ghi bằng , UA; /ɯɤ/ ghi bằng ƯƠ, ƯA.

1.5. Chữ Quốc ngữ mang tính siêu phương ngữ, tức là chữ viết này không dựa trên một hệ thống ngữ âm của một phương ngữ tiếng Việt cụ thể nào, mà phản ánh những đặc điểm của nhiều phương ngữ: về thanh điệu, chữ Quốc ngữ phản ánh hệ thống 6 thanh phương ngữ Bắc Bộ, nhưng về phụ âm đầu lại có sự phân biệt các phụ âm X/S , CH/TR vốn chỉ có ở các phương ngữ khác, không có ở tiếng Bắc Bộ. Điều này tạo cho chữ Quốc ngữ những lợi thế nhất định:

i. Phản ánh tính đa dạng về phương ngữ: Viết một kí hiệu, nhưng có thể đọc khác nhau tuỳ phương ngữ; do đó dễ được đại diện các phương ngữ khác nhau chấp nhận. Ví dụ: viết D người Hà Nội có thể đọc /z/, người Nam Bộ có thể đọc /j/.

ii. Hướng đến một xu thế chuẩn phát âm mang tính siêu phương ngữ (Xu thế phát âm phân biệt X/S, CH/TR, D/GI/R, đồng thời phân biệt đủ 6 thanh điệu).

iii. Giảm thiểu các từ đồng tự: Các từ phát âm như nhau, nhưng viết khác nhau, ví dụ, xôi/sôi, cha/tra, da/ra/gia.

2. Có cần thiết thay các kí tự PH, D, GI bằng F, Z, J ?

2.1. Nguồn gốc của các kí tự PH, D, GI

Liên quan đến 3 kí tự, F, Z, J là các kí tự PH, D, GI: Trong các cuộc thảo luận về cải tiến chữ Quốc ngữ, có ý kiến đề xuất cần thay thế F cho PH, thay Z cho DGI. Trên các phương tiện thông tin gần đây, lại có ý kiến cho rằng, lí do để bổ sung các kí tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ là vì chữ viết này “đã phức tạp hoá bằng các chữ kép thay thế cho nhóm ký tự F, J, W, Z, khiến cho tiếng Việt khó hoà nhập quốc tế”.

Câu hỏi đặt ra là: Việc dùng các kí tự PH, D, GI có phải là sự “phức tạp hoá” của chữ Quốc ngữ?

Chữ Quốc ngữ là sản phẩm lịch sử. Nó là tấm gương phản chiếu khá chính xác diện mạo ngữ âm tiếng Việt thế kỉ XII. Trong chữ Quốc ngữ, việc sử dụng kí tự (chữ cái hoặc tổ hợp chữ cái Latin) để ghi các âm tiếng Việt nói chung không hề tuỳ tiện, mà được cân nhắc kĩ càng: mỗi kí tự được lựa chọn sao cho nó phản ánh đúng đặc điểm phát âm của đơn vị ngữ âm mà nó phản ánh; ngoài ra, về mặt tự hình (graphic), các kí tự nằm trong hệ thống, phản ánh tính hệ thống về mặt ngữ âm. Nói riêng, việc dùng các kí tự PH, D, GI trong chữ Quốc ngữ về cơ bản, đảm bảo nguyên tắc đó. Liên quan đến các kí tự PH, D, GI là nhóm phụ âm tắc trong hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt thế kỉ XVII. Ở thời kì này, nhóm phụ âm tắc tiếng Việt có đối lập 4 loạt: 1. Phụ âm tắc, vô thanh, không bật hơi; 2. Phụ âm tắc, vô thanh, bật hơi; 3. Phụ âm tắc, hữu thanh, thở (breathy voiced stop); 4. Phụ âm tắc, hữu thanh, hút vào (implosive) [Nguyễn Văn Lợi 2010:1]. Để chỉ các phụ âm tắc vô thanh bật hơi, những người làm chữ Quốc ngữ dùng tổ hợp chữ cái với yếu tố thứ hai là chữ H như PH, TH, KH, trong đó PH dùng để ghi phụ âm tắc, môi - môi, vô thanh, bật hơi /ph/. Để chỉ phụ âm tắc hữu thanh, đầu lưỡi, hút vào (vốn không có trong các ngôn ngữ châu Âu), những người làm chữ Quốc ngữ dùng Đ (D có dấu gạch ngang - một sự sáng tạo). Trong khi đó, họ dùng D, GI để ghi phụ âm tắc, đầu lưỡi, hữu thanh, thở (được đồng nhất với các phụ âm tắc, hữu thanh /d, ɟ/trong các ngôn ngữ châu Âu): dùng D ghi phụ âm đầu lưỡi, GI để ghi phụ âm mặt lưỡi. Sau gần 4 thế kỉ, cách phát âm các phụ âm trên đã thay đổi: Hiện nay, PH được phát âm là /f/ - phụ âm xát, môi-răng, vô thanh [1]. Còn DGi, tuỳ từng phương ngữ có cách phát âm khác nhau: Ở phương ngữ Bắc Bộ, DGI đều được phát âm như phụ âm xát, đầu lưỡi, hữu thanh: /z/; ở Bắc Trung Bộ, D được phát âm là /z/ còn GI có thể được phát âm là /z/ hoặc /ʑ/ (phụ âm xát hữu thanh, cong lưỡi). Ở Huế, Sài Gòn, D đươc phát âm như /j/ (phụ âm xát, hữu thanh mặt lưỡi), trong khi GI phát âm là /j/hoặc /ʑ/. [Thompson 1965: 98]

Như vậy, việc chữ Quốc ngữ hiện nay dùng các kí tự PH để ghi /f/, D ghi /z/ (phương ngữ Bắc), GI ghi /z/ (phương ngữ Bắc), ghi /ʑ/ (Bắc Trung Bộ), ghi /j/ (Huế, Sài Gòn) là do sự thay đổi trong cách phát âm tiếng Việt, chứ không phải là sự sai sót làm “phức tạp hoá” của chữ Quốcngữ.

2.2. Câu hỏi tiếp theo là, do có sự thay đổi trong cách phát âm, dẫn đến sự không tương hợp giữa chữ và âm trong các trường hợp PH, D, GI, thì có cần thiết cải tiến, thay thế các kí tự để “chữ Quốc ngữ đơn giản hơn, khoa học hơn?”

Câu hỏi này đã được đặt ra từ lâu, ít nhất từ những năm hai mươi của thế kỉ trước, với đề xuất của một số người Pháp; sau đó, ở nửa sau thế kỉ XX, vấn đề tiếp tục được nêu ra trong các cuộc thảo luận về cải tiến chữ Quốc ngữ ở cả hai miền Nam, Bắc. Trong dự thảo phương án cải tiến chữ Quốc ngữ (năm 1960), GS Hoàng Phê nêu ý kiến “… bỏ các con chữ kép, nên dùng thêm mấy con chữ F, Z, J trong chữ cái Latin, mà chữ Quốc ngữ đến nay chưa dùng đến...”; “Dùng các con chữ D, F, với giá trị thông thường của chúng trong chữ viết các nước...”; “Dùng D viết phụ âm [d], Z viết phụ âm [z] (thay cho D GI), F viết phụ âm [f], bỏ Đ, GI, và PH” [Hoàng Phê 2008: 533, 686-687]. Với quan điểm cải tiến chữ Quốc ngữ triệt để hơn, một số tác giả còn đề nghị dùng W để ghi âm đệm /-w-/ (còn gọi là tiền chính âm, được ghi bằng -U- (ví dụ, -UÊ-) và O (chẳng hạn, -OA-): “… Chúng tôi thấy cần có một sự cải tiến tương đối mạnh bạo, triệt để: nên dùng con chữ w để viết tiền chính âm [w-], như nhiều người đã đề nghị từ trước đến nay (từ Aymonier, đến Tiểu ban chữ viết ghi âm của Hội nghị khảo cứu về Viễn Đông, cho đến Nguyễn Bạt Tuỵ).” [Hoàng Phê 2008:714]

Sau nhiều lần thảo luận, đến nay, ý kiến được nhiều người thống nhất là việc cải tiến chữ Quốc ngữ nói chung và việc thay thế các kí tự PH, D, GI bằng các kí tự F, Z, hay việc dùng W để ghi âm đệm thay cho U-, O-… là không cần thiết. GS Cao Xuân Hạo trong “Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ” tại Hội nghị “Chữ Quốc ngữ và sự phát triển của văn hoá Việt Nam” (1995) cho rằng “… Chữ viết khác với hệ thống phiên âm. Trong thực tế, khó mà tìm thấy một hệ thống chữ viết phản ánh cách phát âm một cách trung thành và nhất quán, theo nguyên tắc mỗi chữ ghi một âm và mỗi âm ghi bằng một chữ”. Cách biểu hiện /f/ bằng PH và /z/ bằng D, GI có thể vi phạm nguyên tắc “một đối một: mỗi chữ một âm và ngược lại”, và không giống với cách biểu hiện ở các chữ viết ngôn ngữ khác cùng dùng hệ chữ Latin, thật ra, không phải là bất hợp lí quá lớn, so với những bất hợp lí trong chữ viết tiếng Anh, Pháp. [Cao Xuân Hạo 1998:157-161]

Hơn nữa, không phải ở mọi phương ngữ tiếng Việt, D, GI đều phát âm là /z/ và PH đều phát âm là /f/. Việc dùng D ghi /z/, dùng GI ghi /z/ (Bắc Bộ), ghi /ʑ/ Trung Bộ, ghi /j/ Nam Bộ chính là để phản ánh tính đa dạng của các thổ ngữ, phương ngữ - một xu thế đang được chú ý trong lí luận về chuẩn hoá ngôn ngữ hiện nay.

Khi chúng ta đọc văn bản, chữ viết được tiếp nhận bằng thị giác, khác với sự tiếp nhận âm thanh bằng tai, trong hội thoại. Mỗi từ được nhận diện theo một diện mạo hình chữ (graphic) riêng và nó liên hội với một nghĩa nhất định, không phụ thuộc vào cách phát âm. Đối với từng cá nhân, sự tri nhận từ hình chữ đến nghĩa (chữ → nghĩa) dần dần trở thành một thói quen. Còn đối với cả cộng đồng người sử dụng, một hệ thống chữ viết đã hình thành trong ba bốn thế kỉ trở thành một truyền thống văn hoá. Với một cá nhân, sẽ gặp khó khăn khi thay thế kí tự cũ bằng kí tự mới, tức là phải phá bỏ một thói quen, để học lại từ đầu quá trình tri nhận “chữ → nghĩa”. Với cả cộng đồng người sử dụng, thì việc cải tiến, thay thế các kí tự vốn có bằng các kí tự mới chính là sự từ bỏ một truyền thống văn hoá cũ: thế hệ sau sẽ phải học chữ viết cũ để có thể đọc, tiếp nhận các văn bản đã có từ mấy thế kỉ, viết bằng thứ chữ chưa cải tiến. Như vậy, sự mất mát của việc cải tiến chữ viết chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều so với cái ích lợi mà ta đạt được khi thay các kí tự nhằm đơn giản, “tiết kiệm” không gian (viết, in ấn) hay bớt thao tác (viết, đánh máy).

Trong cuộc thảo luận gần đây, hầu hết các ý kiến cho rằng, không nên thay thế các kí tự PH, D, GI bằng F, Z. Trên báo Tuổi Trẻ (11-8-2011), GS TS Nguyễn Đức Dân đề nghị “… không nên coi (F, Z) là những phụ âm đầu để ghép vần, như fụ nữ, zải fóng, zân chủ”. PGS TS Phạm Văn Tình cũng cho rằng “… không điều chỉnh hệ thống con chữ biểu thị âm vị tiếng Việt đã thống nhất và quen dùng từ lâu f không thể thay thế ph;j,z không thay thế d, gi, rtrong cách viết âm tiết tiếng Việt”. [Báo Tuổi Trẻ, 11-8-2011]

3. Thực tế sử dụng các kí tự F, J, W, Z trong văn bản tiếng Việt hiện nay

Bảng chữ cái chữ Quốc ngữ với tư cách là hệ thống kí hiệu để ghi âm từ ngữ tiếng Việt (từ thuần Việt hoặc từ ngữ ngoại lai, nhưng đã “nhập hệ”, đã được “Việt hoá”), đương nhiên, không bao gồm 4 chữ cái (kí tự F, J, W, Z). Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học… ở nước ta trong thế kỉ XX, và trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá ngày nay, tiếng Việt luôn tiếp xúc, phải “ứng xử” với một lượng lớn từ ngữ gốc nước ngoài, có đặc điểm ngữ âm, chữ viết khác với ngữ âm, chữ viết tiếng Việt. Từ nửa cuối thế kỉ XX và nhất là mấy thập kỉ gần đây, trên các văn bản viết bằng chữ Quốc ngữ, các kí tự F, J, W, Z đã được dùng để ghi các kí hiệu, từ ngữ nước ngoài, ở các trường hợp sau:

1. Dùng làm kí hiệu vật lí học, hoá học, toán học… trong sách giáo khoa phổ thông. Ví dụ, F (farad) - đơn vị đo điện dung, J (jun/joule) - đơn vị công, W (watt) - đơn vị công xuất điện, Hz (Hertz) - đơn vị tần số; kí hiệu nguyên tố hoá học: F, Fe, Fm, W, Zn;

2. Dùng để viết dạng tắt tên riêng nước ngoài, ví dụ: FAO (Food and Agriculture Organization - Tổ chức lương thực thế giới), WHO (The World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới);

3. Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật dùng trong tài liệu, văn bản chuyên môn. Ví dụ, chất wonfram, cấu trúc formant, định luật Jun, định dạng file, ngôn ngữ web;

4. Tên riêng (nhân danh, địa danh….) nước ngoài. Ví dụ: California, Zavôixki, Washington…;

5. Từ ngữ gốc nước ngoài, dùng trong giao tiếp thông thường, ví dụ quần Jeans, áo jacket, võ judo, gửi file, trang web...

Trong các cuộc thảo luận về việc sử dụng F, J, W, Z trong văn bản tiếng Việt, chúng ta nhận thấy có sự khác nhau trong cách nhìn nhận từng trường hợp trên.

Trong khi hầu hết các ý kiến đều tán thành việc sử dụng F, J, W, Z trong 3 trường hợp đầu: được sử dụng như kí hiệu khoa học (trường hợp 1), được dùng để viết tên tắt (trường hợp 2), để viết nguyên dạng thuật ngữ chuyên ngành trong văn bản chuyên môn (trường hợp 3), thì việc dùng F, J, W, Z khi viết từ ngữ nước ngoài là tên riêng (trường hợp 4) và là từ ngữ thông thường (trường hợp 5), lại gây nên những cuộc tranh luận mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ.

Có hai quan niệm khác nhau về cách xử lí tên riêng nước ngoài trong văn bản tiếng Việt. Quan niệm thứ nhất cho rằng, cần phải phiên âm tên riêng nước ngoài ra chữ Quốc ngữ. Cơ sở của quan niệm này là:

i. Tiếng Việt tuy viết bằng chữ Latin, nhưng vẫn có quy tắc ngữ âm riêng, buộc từ ngữ nước ngoài khi nhập hệ phải tuân theo;

ii. Cần phải phiên âm từ ngữ nước ngoài theo cách đọc bản ngữ, để quảng đại quần chúng dễ tiếp nhận (đọc, viết).

Vì vậy, trong thực tế, việc phiên âm từ ngữ nước ngoài ra chữ Quốc ngữ vẫn là cách tương đối phổ biến ở một số sách, báo và trong các loại văn bản khác.

Quan niệm thứ hai cho rằng trong văn bản chữ Quốc ngữ, tên riêng nước ngoài cần để nguyên dạng (hoặc chuyển tự). Cơ sở của quan niệm này là:

i. Cho phép phát huy ưu thế của chữ Quốc ngữ (Đặc điểm thứ nhất của chữ Quốc ngữ trình bày ở trên);

ii. Đối với người đọc văn bản, mặt chữ viết quan trọng hơn mặt phát âm. Chữ viết cũng tác động đến sự phát triển ngôn ngữ của từng cá thể và toàn xã hội;

iii. Không thể đưa ra các quy tắc thống nhất để phiên âm từ ngữ nước ngoài: dựa vào cách phát âm bản ngữ (của hàng nghìn ngôn ngữ trên thế giới), hay qua cách phát âm ngôn ngữ trung gian (tiếng Anh, Pháp…). Trong thực tế, hơn 80% tên riêng nước ngoài bị phiên âm sai so với bản ngữ [2];

iv. Cách viết nguyên dạng phù hợp với xu thế phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục… để hội nhập với thế giới, dân trí được nâng cao. Đồng thời, cách làm này cũng góp phần nâng cao trình độ văn hoá của quảng đại quần chúng nhân dân.

Năm 1984 Bộ Giáo dục đã ban hành một quyết định, theo đó “… những tên địa lí, tên người thì để nguyên dạng nếu bản ngữ dùng chữ Latin, chuyển tự sang chữ Latin, nếu bản ngữ dùng thứ chữ khác. Trong khi chuyển tự, vần chữ Quốc ngữ cần được bổ sung thêm các chữ cái thông dụng trong khối cộng đồng của các nước dùng chữ cái Latin như F, Z, J, W.

Theo GS Cao Xuân Hạo, quy định trên hoàn toàn phù hợp với truyền thống các nước dùng chữ cái Latin, và là cách duy nhất để quy chế hoá và thống nhất cách viết tên riêng nước ngoài trên văn bản tiếng Việt. [Cao Xuân Hạo 1998:162]

Trong thực tế, trên một số báo viết, báo mạng, cách viết nguyên dạng tên riêng nước ngoài có sử dụng các con chữ F, J, W, Z đã được áp dụng. Đồng thời, trong một số từ điển tiếng Việt như Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Viện Ngôn ngữ học), Đại từ điển tiếng Việt (Như Ý chủ biên), Từ điển Bách khoa Việt Nam (4 tập, do Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam biên soạn) có các mục từ (nguồn gốc nước ngoài), xếp theo “vần” với chữ cái đầu từ là F, J, W, Z; trật tự các “vần” sắp theo trật tự alphabet chữ Quốc ngữ. Với cách làm này của các từ điển trên, 4 kí tự F, J, W, Z thực tế đã được bổ sung vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ.

Như vâỵ, trong thực tế, việc sử dụng các kí tự F, J, W, Z để viết từ ngữ ngoại lai [3] trong các văn bản tiếng Việt là yêu cầu cần thiết, đang xảy ra và có xu hướng ngày càng phổ biến.

4. Có cần thiết bổ sung các kí tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ?

Xét theo mức độ “Việt hoá”, vốn từ ngữ tiếng Việt tạm chia thành 2 khối: khối trung tâm bao gồm những từ ngữ thuần Việt và từ ngữ ngoại lai đã “Việt hoá” (về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, cách sử dụng) và khối ngoại biên - từ ngữ ngoại lai chưa được “Việt hoá”. Các kí tự đã có trong bảng chữ cái tiếng Việt là hệ thống kí hiệu để ghi từ ngữ thuộc khối trung tâm của vốn từ vựng tiếng Việt. Đó là các kí tự “chính danh” của bảng chữ cái chữ Quốc ngữ. Các kí tự F, J, W, Z được dùng để ghi từ ngữ ngoại biên của vốn từ vựng tiếng Việt. Đó là các kí tự “chưa chính danh” trong chữ Quốc ngữ. Cần nhận rõ “danh phận” hiện thời của từng loại kí hiệu trong bảng chữ cái tiếng Việt để có cách ứng xử với chúng một cách thích hợp. Đồng thời, cần nhận thấy rằng trong sự phát triển ngôn ngữ, việc xác định vị trí trung tâm hay ngoại biên của một yếu tố nào đó có thể thay đổi. Cũng như vậy, một yếu tố “chưa chính danh” có thể trở thành “chính danh” trong tương lai, khi nó “Việt hoá” hoàn toàn. Cần thiết vận dụng quan điểm “đồng đại động” trong việc xem xét, xử lí các hiện tượng ngôn ngữ. Việc sử dụng các kí tự F, J, W, Z trong chữ Quốc ngữ phù hợp với quan điểm về chuẩn ngôn ngữ: “Chuẩn ngôn ngữ là một thực thể năng động, nó không chỉ là cái đã hình thành, mà còn là cái đang hình thành. Nó không chỉ là nhân tố ổn định ngôn ngữ mà đồng thời cũng là nhân tố phát triển, bởi vì chính thông qua sự biến đổi của chuẩn mà ngôn ngữ biến đổi, phát triển…. Cần xem xét chuẩn trong sự vận động của nó, trong hướng phát triển của nó.” [Hoàng Phê 2008:427]

Do vậy, hiện nay, có thể xem việc sử dụng 4 kí tự F, J, W, Z trong văn bản tiếng Việt là do thực tế ngôn ngữ đòi hỏi, và coi sự kiện đó như một hiện tượng ngôn ngữ “đang vận động, phát triển[4].

Đồng thời, trước đề xuất cần ban hành quy định mang tính pháp lí về việc bổ sung 4 kí tự trên vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ, cần chú ý đến sự khác biệt về phạm vi và mức độ cần thiết của việc sử dụng 4 kí tự trên.Chẳng hạn,đối với học sinh các lớp đầu cấp tiểu học, để có thể đọc thông viết thạo tiếng Việt (đọc, viết các văn bản chứa chủ yếu từ ngữ nằm ở trung tâm vốn từ vựng tiếng Việt), các em cần học cách đọc, cách viết các kí tự nằm ở trung tâm của bảng chữ cái chữ Quốc ngữ; không cần thiết phải học 4 kí tự nằm ở ngoại biên: F, J, W, Z. Do vậy, hiện nay, không nhất thiết phải ban hành quy định mang tính “pháp lí” bắt buộc về việc bổ sung 4 kí tự trên vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ, để rồi vội vã áp dụng vào giáo dục, gây nên sức ép “quá tải” các kiến thức ngôn ngữ đối với học sinh tiểu học. Vả lại, từ trước đến nay, Bộ Giáo dục đã một vài lần ban hành quy định liên quan đến chữ viết tiếng Việt, nhưng hầu như không được áp dụng trong thực tế. Cũng đã có những lần cải tiến, thay đổi chữ viết tiếng Việt, nhưng do không cân nhắc kĩ càng (chẳng hạn, việc thay đổi đường nét hình chữ và thao tác viết của học sinh), dẫn đến kết quả tiêu cực, mà dư luận xã hội gọi là sự “cải lùi”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cao Xuân Hạo, 1998. Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ // Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa. NXB Giáo dục, Hà Nội.

[2] Nguyễn Văn Lợi, 2010. Phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Việt thế kỉ XVII (Trên cơ sở Dictionarium Annamiticum Lusitanium et Latinum (Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latin) của Alexandre de Rhodes. “Từ điển học và Bách khoa thư”, s. 9-2010.

[3] Hoàng Phê, 2008. Tuyển tập ngôn ngữ học. NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.

[4] Thompson Laurence C. 1965. A Vietnamese Grammar. University of Washington press, Seattle.

[5] Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Huệ 2008.Ngữ âm tiếng Việt. NXB Giáo dục, Hà Nội.

 


[1] Hiện nay ở một số thổ ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ PH vẫn được phát âm như phụ âm tắc bật hơi môi môi /ph/ [Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Huệ 1998:82-86].

[2] Ví dụ điển hình của tình trạng phiên âm sai tên riêng nước ngoài là cách phiên âm tên của luật sư Francis Henry Loseby - người đã bảo vệ thành công cho Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) trước Toà án Hồng Công năm 1931. Hiện nay, trong sách báo, kể cả sách giáo khoa, tên Luật sư được phiên âm là “Lôdơbai”. Năm 1960, khi sang thăm Việt Nam, Luật sư Loseby đã đề nghị gọi tên mình là “Lôdơbi”. Năm 1994, trong chuyến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, con gái của Luật sư cũng đề nghị các bạn Việt Nam gọi cha bà “là Lôdơbi chứ không phải là Lôdơbai”. Được biết trong bản thảo bút tích tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện với bút danh T. Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ nguyên gốc tiếng Anh là Loseby để gọi tên vị Luật sư, và trong bản in của NXB Sự thật, Hà Nội, 1963, in là “Lôdơbi” (Theo Dân Trí, VietnamNet, ngày 6-12-2011).

[3] Từ ngữ ngoại lai bao gồm không chỉ từ ngữ gốc tiếng nước ngoài, mà cả từ ngữ gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta. Trên các văn bản tiếng Việt xuất hiện các nhân danh, địa danh gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số, có ngữ âm và chữ viết không hoàn toàn đồng nhất với tiếng Việt. Chẳng hạn chữ Tày Nùng, Hmông, Ka Tu dùng các kí tự F, J, W, Z để ghi tên người, tên đất (ví dụ tên gọi xã Zuôi ở Quảng Nam xuất hiện trên bản đồ hành chính, trong các văn bản giao tiếp hàng ngày và quản lí hành chính ở địa phương).

[4] Theo tin từ ICT news (24-11-2011), trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam gần đây, GS Ivo Vasiljev - chuyên gia về tiếng Việt của Czech, cho rằng việc bổ sung 4 kí tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái chữ Quốc ngữ “không phải là vấn đề lớn”. Theo ông, giờ đây, giới hạn giữa các ngôn ngữ với các hình thức của ngôn ngữ rất mơ hồ, không thể rành mạch. Có thể nhiều kí tự chưa được dùng trong các loại văn bản này, nhưng lại phổ biến trong các loại văn bản khác. Việc thêm bớt kí tự trong bảng chữ cái không phải là vấn đề lớn. Trong lịch sử của Czech, trước đây bảng chữ cái cũng dùng rất nhiều chữ kép của tiếng Ba Lan, sau này đã bỏ đi và chuyển sang sử dụng các chữ cái có dấu giống như chữ cái tiếng Việt.

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 1 (15) - 2012.

 

 

Bài đăng trước:

  • Một cách xác định chủ ngữ trong kiểu câu "CÓ + X" từ góc độ lí thuyết điển mẫu
  • Thay đổi bất cứ cái gì liên quan đến văn tự (chữ viết) đều là chuyện đại sự của văn hoá
  • Từ điển tiếng Huế một bảo tàng ngôn ngữ và văn hoá
  • Nghệ thuật chơi chữ trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh
  • Vị từ tiếng Việt với việc biểu hiện sự tình động và tĩnh