Trang nhất

Từ điển học và Bách khoa thư học (phạm vi, đối tượngquan hệ)

ABSTRACT
Basing on an analysis of basic concepts of the Lexicography (reference works, Linguistic Information, Word Information, Encyclopedic Information, Dictionary, Encyclopedia, Encyclopedic Dictionary), this article denoted the scope, object and relationship of the Lexicography and Encyclopedology.

TÓM TẮT
Dựa trên sự phân tích các khái niệm cơ bản của từ điển học (Công trình tra cứu, Thông tin ngôn ngữ, Thông tin từ vựng, Thông tin bách khoa, Từ điển, Bách khoa thư, Từ điển bách khoa), bài báo làm sáng tỏ đối tượng, cơ cấu và mối quan hệ giữa Từ điển học và Bách khoa thư học.

Các khái niệm từ điển, bách khoa thư, từ điển học đã có từ lâu, nhưng cho đến nay, giữa các nhà nghiên cứu về từ điển chưa có một quan niệm thống nhất. Câu hỏi “Từ điển là gì?” và “Từ điển học là gì?” gần đây lại được thảo luận trên các tạp chí quốc tế về từ điển học. [2: 20-30; 3: 31-42]. Ở nước ta, trong mấy thập kỉ gần đây, ...

Chi tiết
 
Từ chính tả tiếng Việt đến văn bản quy phạm pháp luật về ngôn ngữ và chữ viết
SUMMARY
This article focuses on the analysis and discussion of the three issues which are attracting the attention of professionals and social opinions towards the spelling of Vietnamese today, and proposes policy recommendations for overcoming the three issues, namely: 1) The Vietnamese alphabet; 2) Rule for writing i/y and rule for using symbols and diachritis; 3) Rule for writing proper names.
 
TÓM TẮT
Bài viết này tập trung vào ba vấn đề đang thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn và dư luận xã hội về chính tả tiếng Việt hiện nay, từ đó kiến nghị giải pháp về chính sách để khắc phục. Ba vấn đề đó là: 1) Bảng chữ cái Việt; 2) Quy tắc viết i/y và quy tắc đặt dấu thanh; 3) Quy tắc viết tên riêng.
 

1. Bảng chữ cái tiếng Việt

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chữ cái là “kí hiệu dùng để ghi âm vị trong chữ viết ghi ...

Chi tiết
 
Xây dựng kho ngữ liệu áp dụng cho phân tích, xử lí ngôn ngữ và biên soạn từ điển
SUMMARY
There has been much articlemention the importance of the corpus for the development of corpus linguistics in the last ten years. However, the situation of Vietnam now, not much deeply articleon this issue. The authors noted that corpus is useful for language study, especially for compiling the dictionary. This article presented an overview about the concepts corpus and corpus linguistics, and also tries to present more deeply about how to build common corpus today.
 
TÓM TẮT
Đã có nhiều bài viết nói về tầm quan trọng của kho ngữ liệu (corpus) đối với sự phát triển của ngôn ngữ học ngữ liệu (corpus linguistics) trong khoảng 10 năm trở lại đây. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều bài nghiên cứu đi sâu vào vấn đề này. Nhận thấy kho ngữ liệu ngày càng trở nên hữu ích cho nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là cho biên soạn từ điển, bài báo sẽ giới thiệu khái quát về khái niệm kho ngữ ...
Chi tiết
 
Tìm hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt trong các từ: ÂN CẦN, BỐ THÍ, ĐÔ HỘ...

SUMMARY
The author surveys, explores (via references to the interpretations by some previous authors) and provides satisfactory explanations for a number of words of Chinese origin used in communication in Vietnamese today: ân cần, bố thí, đô hộ, hồn nhiên, hưu trí, Nghệ An, phương phi, truyền lô, trực nhật, vân vi...

ÂN CẦN  Nguyễn Lân giải thích ân (殷) có nghĩa là “chu đáo”, cần (勤) có nghĩa là “gắn bó”. Còn Thiều Chửu thì không giải thích rõ nghĩa của hai yếu tố này. Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng giải thích ân là “chu đáo, quan tâm đến”. Giải thích như Nguyễn Lân và các tác giả Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng là chưa được hoàn toàn chính xác. Ân trong Giáp cốt văn vẽ một người có bụng trướng và một bàn tay cầm kim châm để chữa bệnh. Nghĩa ban đầu của ân là “bệnh nặng”, về sau phái sinh thêm những nghĩa mới là “to lớn”, “sung túc” và từ các nghĩa đó phái ...

Chi tiết
 
Nhận diện hành động GIỤC, NGĂN , DẶN trong tiếng Việt

SUMMARY
This article explains how to identify and analyze the three very popular linguistic acts in Vietnamese: giục, ngăn, dặn. All these are acts with illocutionary force, represented by means of primary illocutionary force explanation. Nevertheless, in terms of semantic level, each has a different way of expression.

Khi phân loại hành động cầu khiến tiếng Việt theo mức độ cầu khiến (tức là theo lực ngôn trung của lời), ta có 2 kiểu lực đối lập nhau là lực khiếnlực cầu. Hành động có lực khiến là hành động áp đặt lệnh cho tiếp ngôn và cưỡng bức tiếp ngôn phải thực hiện lệnh. Trong trường hợp này, chủ ngôn có vị thế giao tiếp cao hơn hoặc bằng tiếp ngôn, có quyền sai khiến tiếp ngôn tuân theo ý mình nên lời khiến thường thiên về lí trí, ít tính lịch sự. Với lời khiến, tiếp ngôn là người có trách nhiệm phải thi hành. Hành động có lực cầu là hành động mà chủ ngôn là người được hưởng lợi ...

Chi tiết